TTHNOL
Tin Cập Nhật :
Bài Mới

Đăng bởi Tiểu Nhi on Chủ Nhật, ngày 25 tháng 9 năm 2016 | 25.9.16

20160921141506-622.jpg
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Lễ công bố việc chỉ định Đảng ủy Công an Trung ương nhiệm kỳ 2015-2020, ảnh chụp hôm 21/9/2016. Courtesy vnn
Bộ Chính trị vừa công bố việc chỉ định Đảng ủy Công an Trung ương nhiệm kỳ 2015-2020 gồm 16 uỷ viên, trong đó Ban thường vụ Đảng ủy gồm 7 uỷ viên, có 3 lãnh đạo là: Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Đây là lần đầu tiên Tổng bí thư tham gia Ban thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương.

Quyền lực tập trung tuyệt đối?
 
Xét trên mặt chữ nghĩa có vẻ như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng  ngang hàng với Chủ tịch nước và Thủ tướng trong vị trí Ban thường vụ của Đảng ủy Công an Trung ương, nhưng người ta đều biết với chức vụ Tổng bí thư của mình, ông Nguyễn Phú Trong không thể nghe chỉ đạo mà là người chỉ đạo trong bất cứ quyết định quan trọng nào, và việc ông có tên trong Đảng ủy Công an Trung ương là một bước ngoặc quan trọng đối với hệ thống tổ chức của Đảng và chính phủ Việt Nam.


Về mặt Đảng, ông Trọng đương nhiên nắm giữ chức vụ Bí thư Quân ủy Trung ương xem như Tổng tư lệnh quân đội, bây giờ kiêm nhiệm thêm chức vụ Đảng ủy Công an Trung ương thì xem như quyền lực tập trung vào tay là tuyệt đối.
Có khả năng ông ta nhìn thấy đây là một vấn đề xung yếu vừa cần cho ông hiện nay nó đang lộ ra mặt yếu, nó đang có mâu thuẫn nên ông xông vào. - Nguyễn Khắc Mai
Quyền lực khi tập trung tuyệt đối và không bị chi phối bởi các nhánh khác như lập pháp hay tư pháp sẽ dẫn tới những quyết định độc đoán, chuyên quyền và độc tài không thể tránh khỏi.

Việc một Tổng bí thư kiêm nhiệm luôn vai trò công an được ông Nguyễn Khắc Mai nguyên Vụ trưởng Vụ Nghiên Cứu, Ban Dân vận Trung ương, hiện là giám đốc Trung tâm nghiên cứu Văn hoá Minh Triết nhận xét:

“Chắc là ông ta muốn tham gia vào đấy để mà lãnh đạo chỉ đạo công an cho nó sát, ý kiến chỉ đạo nó trực tiếp, nó không bị quanh co. Hai nữa ở trong Đảng ủy mà nhất là Thường vụ nữa thì lãnh đạo cái đám Ban cán sự, lãnh đạo của Bộ trực tiếp thì đấy có thể là một cách.

Cách thứ hai có khả năng ông ta nhìn thấy đây là một vấn đề xung yếu vừa cần cho ông hiện nay nó đang lộ ra mặt yếu, nó đang có mâu thuẫn nên ông xông vào. Những dù với động cơ gì, mục đích gì thì sự xông vào ấy là lú lẫn dở hơi chứ không hay ho gì.

Muốn củng cố công an thì không nhất thiết phải xông vào đấy. Cách làm này của Trọng là cách làm rất cũ thời Xô viết cũ bây giờ không ai lại làm như thế trong khi thời đại tin học phát triển như hiện nay. Ông ta muốn tuyệt đối nhất nguyên hóa quyền lực và rõ ràng nó mâu thuẫn với tinh thần thời đại và mâu thuẫn ấy sẽ không cho làm được việc gì.

Giống như tổ chức chống tham nhũng, quy về cho Đảng, cho Ban Nội chính để trực tiếp làm. Nó chồng chéo với cái mà gọi là pháp quyền, mọi chuyện lại phải tâu sang bọn chính phủ, quốc hội rồi các Bộ ngành không có được kết quả gì tử tế. Nó là tinh thần cũ rích của tư duy toàn trị Xô viết, tập quyền độc tài của Mao tiếp diễn.”
 
000_DD9MY-400.jpg
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại kỳ họp đầu tiên quốc hội khóa 14 hôm 20/7/2016. (ảnh minh họa). AFP PHOTO.
Với TS Nguyễn Thanh Giang, một nhà bất đồng chính kiến thì cho rằng việc làm của ông Trọng cho thấy sự tham lam quyền lực đã lên tới đỉnh và từ đó không khó để thấy rằng người tham nhũng quyền lực lớn nhất hiện nay là ai:

“Đây là một chuyện chưa từng có ở trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Tất cả các Tổng bí thư trước không có ai ngồi vào vị trí đảng ủy công an, bây giờ ông Nguyễn Phú Trong không những là Bí thư Quân ủy Trung ương, nắm quân đội, còn nhảy ra nắm công an sát sườn như vậy thì ông ấy là người tham quyền cố vị.

Người ta có những người lầm tưởng rằng Nguyễn Phú Trọng là người trong sạch không tham ô nhưng tôi cho rằng Nguyễn Phú Trọng là trùm tham nhũng tại Việt Nam. Tham nhũng tiền bạc chỉ là một cái tham nhũng thông thường nhưng tham nhũng quyền lực mới là tham nhũng tệ hại nhất vì quyền đẻ ra tiền, quyền đẻ ra thao túng một cách phi đạo đức.

Nguyễn Phú Trọng tham nhũng quyền lực trong khi ông ấy đã quá tuổi về hưu rồi nhưng vẫn dùng mọi thủ đoạn để được kéo dài cái ghế Tổng bí thư của ông ấy. Lúc bấy giờ khi lên Tổng bí thư đã hứa chỉ ngồi nửa nhiệm kỳ nhưng bây giờ thì không biết ổng ngồi đến bao giờ trong khi tuổi ổng đã cao.

Khi còn trẻ đã mang tiếng là “Trọng lú” thì bây giờ tuổi cao rất hết sức nguy hiểm cho đất nước cho dân tộc này và kể cả cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Bây giờ nhảy ra khống chế cả lực lượng công an thì tôi cho rằng là sự tham lam vô độ, một tội ác đối với đất nước con người Việt Nam.”
Theo chân Tập Cận Bình?

TS kinh tế, nhà báo Phạm Chí Dũng nhìn sự kiện này qua lăng kính  kinh nghiệm của Tập Cận Bình mà ông Trọng đang theo:

“Khả năng là ông Nguyễn Phú Trọng hiện nay là đang rất muốn thực thực hiện nước cờ và bước đi của Tập Cận Bình từ hồi năm 2013- 2014 Tập Cận Bình đã mở ra chiến dịch lớn đầu tiên triệt Bạc Hy Lai và sau đó là diệt Chu Vĩnh Khang Bộ trưởng Bộ công an.
Tôi cho rằng ông Nguyễn Phú Trọng ham muốn vai trò và quyền lực của Tập Cận Bình nhưng vấn đề là ông Trọng có thể hiện rằng ông có thể làm được chuyện đó hay không, vì đó là bản lĩnh của lãnh đạo. - Phạm Chí Dũng
Sau khi diệt Chu Vĩnh Khang thì Tập Cận Bình nắm luôn Bộ công an và xử dụng Ủy ban Kỷ luật Trung ương của Vương Kỳ Sơn như là một vụ then chốt, từ đó vai trò của Bộ công an trở nên yếu hẳn đi và vai trò của Ủy ban Kỷ luật Trung ương nâng hẳn lên. Sau khi diệt xong Chu Vĩnh Khang thì Tập Cận Bình xoay sang quân đội và chính thức trở thành tư lệnh và nắm tất cả quân đội Trung Quốc. Hiện nay Tập là người quyết định tất cả vận mạng của lực lượng vũ trang, công an và quân đội.

Tôi cho rằng ông Nguyễn Phú Trọng ham muốn vai trò và quyền lực của Tập Cận Bình nhưng vấn đề là ông Trọng có thể hiện rằng ông có thể làm được chuyện đó hay không, vì đó là bản lĩnh của lãnh đạo.”

Bên cạnh đó, khi vụ Trịnh Xuân Thanh nổ ra dư luận cho rằng ông Tổng bí thư đang quyết tâm triệt hạ tham nhũng nhưng tầng nấc của nó nhiều đến nỗi một mình Ủy ban Kiểm tra Trung ương không thể làm nổi trong khi công an thì ông Trọng không nắm được. Nhận định về ý kiến này TS Phạm Chí Dũng cho biết:

“Cho tới nay đã hơn ba tháng mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương của ông Trần Quốc Vượng chưa tìm ra bất kỳ bằng chứng tham nhũng nào của Trịnh Xuân Thanh trong khi toàn bộ hồ sơ nằm tại T46 của Bộ công an. Như vậy khi không tận dụng, không phát huy được vai trò của Ủy ban Kiểm tra Trung ương thì có lẽ ông Trong phải tính tới ván bài vào Đảng ủy Công an Trung ương để quyết định, thậm chí thay cho ông Tô Lâm là Bộ trưởng công an.

Ông Tô Lâm mới được “phong chức” trở thành Bí thư Đảng Ủy công an Trung ương vào tháng 5 năm 2016. Thế bây giờ nếu ông Trọng trở thành Bí thư Công an Trung ương có quyền quyết định mọi thứ thì ông Tô Lâm coi như sẽ bị ra rìa.

Nếu ông Trọng trở thành Bí thư Công an Trung ương thì đã đi theo con đường Tập Cận Bình rồi, tức là vừa nắm công an vừa nắm quân đội và thực chất đấy là người trong lực lượng vũ trang chứ không phải ông Trần Đại Quang. Như vậy vai trò Chủ tịch nước của ông Trần Đại Quang sẽ rất là mờ nhạt và có thể nói chẳng biết làm gì nữa.”

Chỉ một ngày sau khi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vào Đảng ủy Công an Trung ương, Tuần Việt Nam của VietnamNet đăng ngay bài báo có tựa: “Có những người bán rẻ tổ quốc vì quyền lợi cá nhân” của Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, nguyên Phó trưởng ban Tuyên giáo trung ương, trong đó có đoạn:

“Sự tha hóa quyền lực tất yếu sẽ dẫn đến sụp đổ chế độ chính trị. Nếu sự tha hóa ấy không dừng lại và lành mạnh hóa thì sụp đổ là không thể khác, chỉ còn là vấn đề thời gian. Sự sụp đổ ấy chính là tự đổ, không phải do ai phá và cũng không ai cản nổi.

Có những suy nghĩ rất ấu trĩ sai lầm khi cho rằng nắm cho chắc lực lượng vũ trang là có thể đẩy lùi sự sụp đổ. Không đâu! Liên Xô ngày trước cả quân đội và lực lượng an ninh Caribê còn rất mạnh, bậc nhất thế giới, vậy mà đến một lúc, khi sự tha hóa đã đến ngưỡng, thì cả một chế độ được cho là thành trì ấy bỗng chốc đổ ào, đến mức không tưởng tượng được, không hiểu nổi.”

Xin mượn nhận xét này làm kết luận cho tiêu đề “tham nhũng quyền lực” và cũng xin cám ơn ba vị Nguyễn Khắc Mai, Nguyễn Thanh Giang và Phạm Chí Dũng đã cho nhận xét về một vấn đề rất quan trọng của đất nước hiện nay.
 
Mặc Lâm
 
(RFA)

Thêm chú thích
Thánh Nhân Xuất theo Sấm Trạng Trình

Trích từ Việt Sử Siêu Linh ( 1999) một số câu ám chỉ Thánh Nhân xuất :

Thủy trung tàng bảo cái

hứa cập thánh nhân hương

mộc hạ châm châm khẩu

danh thế xuất nan lường.


Giữa có nước tàng lọng quí, mới tới được quê hương thánh nhân.Tên thánh nhân “ mộc hạ châm châm khẩu “ là lối triết tự của cổ nhân, chữ châm gồm chữ kim và chữ thập . Kim chỉ phương Tây ( Ðoài phương phúc địa giáng linh …), thập chỉ danh “ có thầy Nhân Thập đi về “ . Nhân Thập là thánh Tản, năm chữ nhân và một chữ thập thành chữ Tản. Ba chữ mộc, hạ, khẩu, không chiết tự được vào nghĩa nào, cụ Ba La chỉ cho biết tên nhưng không giải thích thêm . Chữ khẩu và chữ thập có thể thành chữ điền trong câu “ phá điền thiên tử giáng trần “.

Bảo cái là lọng quí tức núi Tản hình cái lọng (Tản Viên ), thủy trung có thể là núi Tản bên bờ sông Ðà giang, hoặc đỉnh non Tản có ao nước ( nay chỉ còn ao nhỏ róc rách nước từ vách núi chẩy xuống ). Nghĩa sau hợp lý hơn. Thánh nhân xuất thật khó lường ( nan lường ). Có bản chép về đoạn này như sau :

Dục thức thánh nhân hương

quá kiều cư Bắc phương

dục thức thánh nhân danh

mộc hạ châm châm khẩu

cũng không khác nhau về ý nghĩa.

Bảo giang Thiên tử xuất

bất chiến tự nhiên thành

phân phân tùng bách khởi

nhiễu nhiễu xuất Ðông chinh

Thiên tử xuất ở sông quí, không cần chiến chinh cũng thành công, bậc quân tử khởi nghiệp ( tùng bách cây cao bóng cả chỉ bậc thánh nhân quân tử ) xuất phát về hướng Ðông mà chinh phục lòng người. Bảo giang tức sông Ðà, Sơn Tây, từ Tây sang Ðông là hướng quần tiên khởi nghĩa chẳng phân hại người.

Trạng Trình là bậc Trạng Nguyên, không mơ hồ Ðông Tây Nam Bắc, cụ ngồi ở Bạch Vân Am ( Hải Dương, Hải Phòng bây giờ ) nhìn về Tây là núi Tản, hoặc lấy cứ điểm là kinh thành Thăng Long để định hướng cũng vậy. Không thể nói phương Tây là miền Tây Nam Phần Việt Nam được.

Có bản chép : phân phân tòng bắc khởi không hợp nghĩa. Hai câu đầu người Việt Nam không mấy ai không thuộc lòng , sấm Trạng Trình có thể gọi là cuốn Sách Ước của dân tộc, ăn sâu vào tàng thức mọi người.

Bảo sơn thiên tử xuất

bất chiến tự nhiên thành

lê dân đào bão noãn

tứ hải lạc âu ca

Thiên tử xuất từ núi quí, không dùng binh vẫn đạt thành, dân đen đều vui mừng no ấm ( bão bộ thực mới có nghĩa no ấm, bộ thủ nghĩa là ôm ấp, không thích hợp ) , bốn biển an lạc thanh bình.

Bảo sơn, Bảo giang là đất kết phát bậc thánh nhân. Núi Tản làm cái án che độc khí phương Bắc cho thành Ðại La ( Thăng Long sau này ), là đầu rồng long mạnh tụ hội, đột ngột nổi cao 1300 mét trên đồng bằng. Sông Ðà là tay hổ hùng mạnh đổ từ vùng Vân Nam xuống cùng đại thế Hy Mã Tây Tạng truyền về nước Việt. Cụ Ba La cho rằng bậc thánh nhân này có thể thống lĩnh cả Trung Hoa, ít nhất là phần đất cổ xưa của Bách Việt. Như thế mới hết nghĩa của chữ tứ hải.

Xét theo đại thế phong thủy, Trung Hoa có núi cao sông dài hơn nước Việt nhỏ bé, nên Trung Hoa ở thế đại cường thiên hạ. Tuy vậy long mạch Dương Tử Giang đang bị cắt phá vì công trình xây cất đập nước, con rồng lớn Trung Hoa trong thiên kỷ tới có thể vì thế yếu đi, sẽ bị đại địa kết phát Bảo sơn Bảo giang khuynh loát. Lịch sử theo luật tiến hóa thăng trầm, không nước nào mạnh mãi, không nước nào yếu mãi. Long mạch cũng theo định luật đó, thời kết phát, thời suy vong.

Mại dữ lê viên dưỡng

Khởi nguyệt bộ đại giang

hoặc kiều tam lộng ngạn

hoặc ngụ kim lăng cương

Xét đại ý thánh nhân khi chưa xuất hiện, sinh sống nơi vườn tược ( lê viên dưỡng), lúc vui với trăng nước bên sông , lúc hóng mát bên cầu, bờ đê, lúc trú ngụ ở Kim lăng cương… Kim cương chỉ vùng núi phương Tây.

Câu này được nhắc lại trong phần chữ nôm : Vua còn cuốc nguyệt cầy mây…

Nhân nghĩa thùy vi địch

đạo đức thục dữ đương

tộ truyền nhị thập ngũ

vận khải ngũ diên trường

Nhân nghĩa đạo đức của thánh nhân không ai có thể đương đầu chống lại, ngài ở ngôi thiên tử hai mươi lăm năm, để lại đại hồng vận cho dân tộc năm trăm năm.

Hai triều đại vương đạo lâu dài nhất trong sử Việt là Lý và Trần cũng chỉ trên dưới 200 năm. Thánh nhân khai sáng nghiệp 500 năm phải được long mạch trường thế tương đương với họ Hồng Bàng. Thánh Tản là con rể vua Hùng và đã làm vua một thời gian ngắn trước khi họ Hùng chuyển sang họ Thục. Thánh nhân là hóa thân của thánh Tản, lấy đức mà trị dân, đưa dân tộc trở lại vinh quang thịnh trị của thời Hùng vương lập quốc.

Thiên dữ thần thực thụy

thụy trình ngũ sắc quang

kim kê khai lựu diệp

hoàng cái xuất quí phương

Trời đất thánh thần cùng báo điềm lành, mây ngũ sắc hiển hiện, gà vàng mở lá lựu, lọng vua xuất hiện phương quí.

Ca dao có câu :

Nhất cao là núi Tản viên

Núi thắt cổ bồng

mà lại có thánh sinh

Câu sấm này lại nhắc tới lọng vua ( hoàng cái ) tức Tản viên, ở quí phương tức phương vàng ( kim ) là phương Tây. Trong chữ lựu có chữ điền, khai lựu diệp cũng có nghĩa như phá điền thiên tử giáng trần, cổ nhân muốn gợi ý thánh Tản xuất. Phá chữ điền lộ ra chữ thập , là thấy danh “ nhân thập “ trong câu “ có thầy nhân thập đi về, tả phù hữu trì, cây cỏ làm binh “.

Quần gian đạo danh tự

bách tính khổ tai ương

ma vương sát đại quỷ

hoàng thiên tru ma vương

Bọn gian tà ăn trộm chữ nghĩa làm trăm họ khổ sở, ma vương giết đại quỷ, nhưng trời cao sẽ tiêu diệt ma vương.

Câu đầu dường như ám chỉ bọn gian tà giả nhân giả nghĩa, bầy đặt ý thức hệ , diễn trò điên đảo tưởng, miệng nói bình đẳng bác ái, lòng lại tham tàn độc ác. Hai câu cuối rất phổ biến, nhiều người thuộc lòng. Tuy vậy lời sấm ứng vào giai đoạn lịch sử nào thì không được rõ, vì từ sau đời Trạng Trình, suốt 400 năm nhiễu nhương biến loạn lầm than, lịch sử quay cuồng đủ mọi phường ma quỷ bá đạo, trăm họ chỉ còn biết nhìn Trời cao mà cầu khẩn. Có người cho rằng đại quỷ là Tây thực dân, ma vương là Cộng sản, nay tổ Nga Cộng đã bị tru diệt là ứng với lời sấm.

Ðây là một trong những đoạn sấm hay và có giá trị văn chương, chỉ tiếc rằng không có liên hệ với câu khác để định thời điểm. Mới đọc có cảm tưởng như một nhà nho nào đặt ra vào thời hiện đại, khoảng 1945-50, nhưng lời sấm này đã có chép trong bản 1930 của Sở Cuồng ( Nam Ký thư xã -Hà Nội ) và bản Ðại La ( 1948 ), vả lại hai câu cuối truyền khẩu trong dân chúng từ nhiều thế hệ.

Bắc hữu kim thành tráng

Nam tạc ngọc bích thành

hỏa thôn đa khuyển phệ

mục dã dục nhân canh

Bắc có thành vàng tráng lệ, Nam tạc thành ngọc xanh, xóm lửa vang chó sủa, mong người canh tác cánh đồng quê.

Ðoạn này lại nhắc tới kim thành ( kim là phương Tây ) và hỏa thôn là thôn làng thánh nhân ( thiên sinh thiên tử ư hỏa thôn ) .

Hai câu : Bắc có kim thành, Nam tạc thành ngọc bích, không rõ nghĩa. Có người gượng đoán là Nam, Bắc Việt đều có đất quí, thiết tưởng là chủ quan thời đất nước chia hai.

Nam Việt hữu Ngưu tinh

quá thất thân thủy sinh

địa giới SỈ vị BẠCH

Thủy trầm nhĩ bất kinh


Nam Việt có sao Ngưu, quá thất thân mới sinh , địa giới răng chưa trắng, nước chìm tai chẳng kinh.

Lại nhắc tới sao Ngưu chủ tinh của thánh nhân, quá thất thân : có thể ám chỉ thời xuất thánh như câu “ lục thất nguyệt gian “ trong đoạn sấm khác, hoặc nếu chữ thất là bảy thì tạm hiểu là ngoài bảy mươi tuổi, hoặc là một cách tính độ sao Ngưu xuất lộ vào vận thất khai ( ? ).

Hai câu sau là câu đối : Ðịa giới đối với thủy trầm, xỉ đối với nhĩ, vị bạch đối vói bất kinh. Ở đây đưa ra một tên khác của thánh Tản là Bạch Sỉ, trong chữ Sỉ ( răng ) có 4 chữ nhân, ám chỉ Nhân Thập tức thánh Tản, chữ Bạch ( trắng ) là ẩn ngữ chỉ danh. Trong bài thơ tiên tri của chúa Liễu giáng cũng có câu : non xanh mà mọc trắng răng cũng kỳ, đều hàm chứa tên thánh nhân. Cụ Ba La cho biết tên nhưng không nói rõ cách chiết tự hoặc ghép chữ, chưa thấy ai tìm ra cách cắt hoặc ghép đúng .

Phú quí hồng trần mộng

bần cùng bạch phát sinh

anh hùng vương kiếm kích

manh cổ đổ thái bình


Công danh phú quí như giấc mộng hồng trần, lúc bần cùng mới bạch phát sinh ra, bậc quân vương anh hùng lập chiến công dựng nghiệp lớn, kẻ mù lòa lại được thấy thái bình âu ca !

Bạch phát sinh là ba chữ chìa khóa trong đoạn này, chữ bạch nhắc tới Bạch Xỉ, bạch phát hàm ý bạch ốc phát công danh. Bần cùng : chú ý chữ cùng có bộ huyệt.

Ðoạn này dùng ẩn ngữ với tứ thơ cao siêu, vừa nói lên thân thế thánh nhân từ bạch ốc phát sinh, coi phú quí như giấc mộng, vừa dùng ảnh tượng người mù thấy cảnh thanh bình, lại thêm vài nét chữ gợi danh tính thiên tử. Quả là tuyệt bút !

Cập nhật 10-2013- Cụ BA LA có nói tên Thánh Nhân- liên quan tới họ LÝ- nhưng dặn không nên tiết lộ vì ” thời này tiểu nhân còn nhiều ” chúng tôi xin giữ lời hứa với Cụ.




* * *

ÐẠI CHUYỂN VẬN KỶ NGUYÊN MỚI

Thế kỷ XX chấm dứt như màn kịch thu hẹp của thiên kỷ cũ : suốt 2000 năm nhân loại Ðông Tây đã sống trong chiến tranh loạn lạc, tranh chấp quân sự, chính trị, tôn giáo… những thành quả rực rỡ về khoa học kinh tế, từ cuộc cách mạng kỹ nghệ 200 năm trước tới cuộc cách mạng điện tử thế kỷ XX, đều kéo theo những biến động tàn sát và nhân loại vẫn chưa thấy thời đại Nghiêu Thuấn hòa đồng hạnh phúc thanh bình : Thực dân, Cộng sản, hai cuộc Ðại chiến tiêu diệt cả chục triệu nhân mạng, các cuộc chiến địa phương do tranh chấp ý thức hệ…gây chết chóc và bật rễ hàng triệu dân lành, những xô xát tôn giáo, tài phiệt, phong kiến v..v..đã làm cả hoàn cầu, trừ một số ít, lâm vào cảnh bi thương. Tiếng cười của giới này là tiếng khóc của giới kia, đỉnh cao của phe này là thung lũng của phe khác…rút cuộc 6 tỉ người sống trong tình trạng vong thân, không nô lệ thân xác thì cũng bị trói buộc tinh thần, không khổ sở vì bá quyền thì cũng căng thẳng trong hệ thống xã hội phi nhân.

Riêng thế kỷ XX những khốn khổ cơ cực lên tới cao độ vì tranh chấp trở thành quốc tế lan rộng châu này sang châu khác, thậm chí các bộ tộc bán khai cũng bị liên lụy, chưa biết đọc chữ đã bị buộc vào tranh đấu tư tưởng, tôn giáo. quyền lợi… do các đầu óc điên đảo từ tháp ngà xa xôi tạo ra, đang sống hồn nhiên với rừng núi bỗng phải ngồi xe tăng mang vũ khí tối tân đi giết đồng loại !

Trong cuốn sách thời danh “ Hành Trình Về Phương Ðông “ của B. Spalding ( Journey To The East-1924 ) bản dịch của Nguyên Phong, một đạo sư Ấn Ðộ, Babu, đã tiên đoán từ đầu thế kỷ XX như sau : “..mỗi chu kỳ kéo dài khoảng 100 năm, nhưng cứ 25 năm cuối lại có các biến chuyển gây ảnh hưởng cho chu kỳ kế tiếp…Cuối thế kỷ 20 phong trào Duy Vật sẽ xụp đổ, hiện tượng nghiên cứu các giáo lý bí truyền sẽ bắt đầu. “ ( tr. 60-62 ) Một pháp sư khác, Hamoud, gốc Ai Cập, lại tiên đoán không kém thần diệu như sau : “ sự khai quật các ngôi cổ mộ Ai Cập sẽ tháo cũi sổ lồng cho vô số âm binh…chúng sẽ mang nền tà giáo Ai Cập trở lại thế kỷ này…Một số pháp sư vốn là sứ giả cõi âm sẽ đầu thai trở lại để tác yêu tác quái…Thế giới sẽ trở thành nạn nhân của thứ tôn giáo ma quái này……trước khi chết họ sẽ di chúc yêu cầu ướp xác họ và xây dựng những nhà mồ vĩ đại bằng đá như họ đã từng làm trong quá khứ… “ ( tr. 207-208 ).

Nhưng sự xụp đổ của Liên Xô, với các nhà mồ xác ướp còn nằm trơ, vẫn chưa giải quyết xong những tranh chấp khác, xâu xa hơn, nền tảng hơn, đó là vấn đề tôn giáo và thế lực tài phiệt quốc tế. Cả hai quyền lực ghê gớm này, với tín ngưỡng quyết liệt, với vũ khí tối tân, có thể sẽ đối địch trong trận thư hùng Armageddon mà đa số các nhà tiên tri Tây phương đều cùng đi tới một kết luận.

Trong việc phác lược một chiến lược sinh tồn cho dân tộc, một trường kế hợp tung da vàng, khai phóng một nền văn minh cầm đũa Ðông Á xâu rễ bền gốc, thiết tưởng không thể bỏ qua một khía cạnh nào, một yếu tố nào, dù là yếu tố khoa học huyền bí dự báo, với xác xuất thấp hơn khoa học vật lý. Nhưng nếu sự sinh tử của vạn vật trên trái đất và vũ trụ là một huyền nhiệm, nếu biến cố lịch sử nhiều khi vượt luận lý quy nạp diễn dịch, thì tại sao lại không khai quật những kho tãng cổ học để tìm phương tiện cho cuộc hành trình tâm thức vũ trụ huyền vi ?

(Trích Việt Sử Siêu Linh xb 1999)

(*) CẬP NHẬT : Theo chiêm tinh học, mỗi ngôi sao và chòm sao có chu kỳ của nó, 1 năm, 12 năm, 30 năm, hàng 100 năm…Chòm sao với trần thế có tương quan vì địa cầu cũng là một hành tinh trong vũ trụ. Do đó chu kỳ tinh đẩu là chu kỳ nhân sử.

1954 hiệp định Geneve chia đôi đất nước, trận Điện Biên Phủ chấm dứt tháng 5/1954-tới nay là chu kỳ 60 năm, 2014. Tháng 5/2014 căng thẳng biển Đông, Tầu xâm lăng đảo VN.

1914-2014 : 100 năm, 1914 bắt đầu thế chiến I ở vùng Serbia, gần Nga, 2014 vụ Ukraina sát Nga. 1917 cách mạng Bôn Sê Víc.

Đây chính là chu kỳ chuyển hoá quan trọng của nhân loại, của VN Nam quốc sơn hà…tiệt nhiên định phận tại thiên thư ( thiên thư=sách trời tức bản đồ chiêm tinh xác định phận dã Ngưu Đẩu Đại Việt.)

Nón đền MẪU- Chiếc nón thờ là hình ảnh của vũ trụ thu nhỏ- Mẫu che chở non sông Việt.

* * *

Luật lục thất thập phân

Ngay cả sự tồn vong của các triều đại cũng tuân theo một quy luật. Những ai đọc qua sấm Trạng Trình đều có thể thấy rằng cụm từ lục thất, lục thất gian hay lục thất nguyệt gian được lặp lại nhiều lần trong các câu thơ sấm. Đó là một quy luật tồn vong của các triều đại được thiên tài Nguyễn Bỉnh Khiêm mô hình hóa thành một cách tính toán đơn giản. Một gian lục thất (6+7) là 13 năm, một nguyệt gian hay một gian thập phân là 10 năm (đây là cách ẩn dụ của Trạng Trình, ngày xưa theo âm lịch, 1 tuần trăng – nguyệt là 10 ngày). Hãy xem xét 3 triều đại liền kề nhau từ Hậu Lê, Tây Sơn và Nguyễn.

Nhà Hậu Lê do Lê Lợi sáng lập năm 1428 và kết thúc hoàn toàn vào năm 1789 sau khi Lê Chiêu Thống cầu viện quân Thanh và bị Quang Trung Nguyễn Huệ đánh tan. Tổng cộng tồn tại 361 năm, tương đương với 27 gian lục thất (27 x 13 = 351 năm) cộng thêm 1 gian thập phân (351 + 10 = 361 năm). 27 gian lục thất từ năm thành lập, tức rơi vào năm 1779 (1428 + 351), đây là năm đánh dấu sự suy vong của triều đại nhà hậu Lê vì năm đó Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế nhà Tây Sơn. Nhà Hậu Lê đã suy yếu từ cả trăm năm trước, có thời gian bị nhà Mạc lật đổ, sau đó khôi phục lại và dẫn đến hình thành triều Lê Trung Hưng với chúa Trịnh đàng Ngoài chúa Nguyễn đàng Trong. Dù vậy danh nghĩa nhà Lê vẫn ngự trị trong lòng dân chúng nên cho dù nắm mọi quyền bính trong triều đình Bắc Hà nhưng các đời chúa Trịnh không bao giờ dám xưng đế vì sợ mất lòng dân. Ngay cả ở đàng Trong, dù hùng cứ một phương nhưng các chúa Nguyễn vẫn tôn nhà Lê là thiên tử. Nhưng vào năm 1779, một triều đại mới ra đời dám xưng đế và không chịu bất kỳ ảnh hưởng và quyền lực nào của triều Lê. Và đúng 10 năm sau đó, chính nhà Tây Sơn đã tiêu diệt hoàn toàn nhà Hậu Lê. Tóm lại, nhà Hậu Lê sinh năm 1428, vong năm 1779 (sau sinh 27 gian lục thất) và tận năm 1789 (sau vong thêm một gian thập phân nữa).

Nhà Tây Sơn được khởi sự bởi 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Khởi nghĩa vào năm 1771, đến năm Mậu Tuất 1778 thì Tây Sơn đã làm chủ gần một nửa đất nước, từ Quảng Nam đến Hà Tiên. Vào cuối năm Mậu Tuất (tức đầu năm 1779) thì Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, đóng đô tại Qui Nhơn và lấy hiệu là Thái Đức, chính thức khai sinh ra triều đại Tây Sơn. Triều đại này đã có nhiều chiến công hiển hách chống ngoại xâm nhưng đã không dàn xếp được tranh giành trong nội bộ gia đình nên chỉ đúng 1 gian lục thất sau đó (1779 + 13), tức năm 1792, đã bước vào suy vong. Cùng năm đó Nguyễn Ánh đã chiếm lại gần hết phần đất miền Nam và tiến đánh thành Qui Nhơn, còn vua Quang Trung Nguyễn Huệ – người đứng đầu triều đình Tây Sơn lúc đó thì đột ngột qua đời. Và đúng 10 năm (1 gian thập phân) sau đó, tức năm 1802, Nguyễn Ánh đã tiêu diệt hoàn toàn nhà Tây Sơn, bắt sống vua Cảnh Thịnh Quang Toản, chấm dứt triều đại Tây Sơn tồn tại 23 năm. Tóm lại nhà Tây Sơn sinh năm 1779, vong năm 1792 (sau sinh 1 gian lục thất) và tận năm 1802 (sau vong thêm 1 gian thập phân nữa).

Cùng năm đó, triều Nguyễn được thành lập bởi Nguyễn Ánh, lấy hiệu Gia Long. Dù bị Pháp xâm chiếm năm 1858 nhưng triều Nguyễn vẫn tồn tại song song với chính quyền bảo hộ thực dân thêm gần 100 năm nữa. Hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn là Bảo Đại bị chính quyền Cách mạng tháng 8 lật đổ vào năm 1945, đúng bằng 11 gian lục thất sau năm sinh (1802 + 11 x 13 = 1945). Nhưng đây mới chỉ là năm vong của nhà Nguyễn. Sau khi giả chấp nhận làm cố vấn Vĩnh Thụy cho chủ tịch Hồ Chí Minh một thời gian ngắn thì Bảo Đại bỏ trốn rồi theo chân pháp về miền Nam thành lập Quốc gia Việt Nam và giữ chức quốc trưởng. Đến năm 1955 quốc trưởng Bảo Đại bị thủ tướng Ngô Đình Diệm truất phế bằng một cuộc trưng cầu dân ý, mất hoàn toàn quyền lực, thành dân thường và bắt đầu cuộc sống lưu vong bên Pháp. Như vậy triều Nguyễn tồn tại 153 năm, bắt đầu sinh vào 1802, vong năm 1945 (sau sinh 11 gian lục thất) và tận năm 1955 (sau vong thêm 1 gian thập phân nữa).

Số gian lục thất cũng có quy luật để tính toán. Với triều đại Cộng sản do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập năm 1945, số gian lục thất là 5, 2010 là năm vong, 2020 là năm tận.Cũng chẳng cần hiểu biết luật lục thất thập phân, chỉ cần phân tích biện chứng tình hình, bối cảnh chung, đánh giá những động lực bên trong và bên ngoài, nhận thức của những người cầm chèo cầm lái, … thì cũng có thể nhận ra được những biến động từ nay đến 2010. Đó cũng không nằm ngoài quy luật nhân quả. Xét cho cùng, không ai đánh bại được chủ nghĩa Cộng sản trên toàn cầu nếu nó tốt và phù hợp với quy luật tất yếu. Nó suy vong là bởi chính nó. Sự xuất hiện những tác nhân bên ngoài cũng chỉ là kết quả theo quy luật từ cái nhân bên trong tạo ra. Các tác nhân bên ngoài sẽ tôn tạo hay hủy diệt cái bên trong cũng là do cái nhân sinh ra từ bên trong đó. Triều đại Cộng sản Việt Nam sẽ suy vong nhanh chóng là tất yếu không thể cản lại được bởi chính những sai lầm của nó.

(Hai bài trên From FB: https://www.facebook.com/samtrangtrinh/)

>> * * *

THUYẾT ĐỊNH MỆNH ?

* MINH LÊ

Nhân đọc bài bàn về thuyết định mệnh của tác giả Bùi Quang Vơm, nhiều người hốt hoảng về một thế giới trong tương lai u tổi rối loạn, nhiều người bĩu môi cười khẩy về lối tuyên truyền phiến diện, tầm phào.

Cả hai lối phản ứng đó đều không chuẩn và không nên.

Vậy phải "hiểu" và phải "luận" thế nào cho đúng?

Định mệnh là một khái niệm mà tất cả mọi người trưởng thành ai cũng đã nghe qua, nó nói lên rằng mỗi một kiếp người, mỗi dân tộc, mỗi thể chế đều đã xuất hiện và hình thành tại một thời khắc nào đó, phải chịu chi phối bởi điều kiện tự nhiên ở vùng lãnh thổ nó sinh ra và các ngôi sao chiếu đến và đều phải trải qua quá trình bốn bước là Sinh - Dưỡng - Bệnh - Tử... điều đó đã được ghi vào Sách Trời, không ai cưỡng lại nổi.

Tuy vậy trong dân gian cũng truyền tụng một câu "Xưa nay Nhân định thắng Thiên đã thường" để khẳng định một điều là sự cố gắng của con người, sự phấn đấu của con người và cả sự ngu dốt có thể thay được số mệnh.

Đó là nói về từng cá thể con người.

Còn nói về một quốc gia, một dân tộc, một vùng lãnh thổ...., thì cũng vậy thôi, con người có thể xây dựng cho nó thịnh vượng lên và cũng có thể phá cho nó lụi tàn đi.

Vậy lấy gì để làm thước đo, để đánh giá và báo trước sự hưng thịnh hoặc thời điểm lụi tàn của một thể chế, một vùng lãnh thổ?

Trong bài viết của Bùi Quang Vơm , ông tập trung phân tích lời tiên báo của Nostradamus và Vanga, hai con người có khả năng thiên phú là "nhìn thấy" những hiện tượng lạ tại nhiều nơi trên thế giới và so sánh với những sự kiện khủng khiếp đã xảy ra...

Nhưng trên thế giới này có bao nhiêu nhà tiên tri tài giỏi? Nhiều lắm, có trẻ có già, có người sống trước chúng ta mấy trăm năm và có người đang sống cùng thời đại với chúng ta, có người chỉ dựa vào giấc mơ, có người kết hợp được với các diễn biến của lịch sử

Thứ nhất- hãy lấy nước Mỹ ra để phân tích.

Nước Mỹ được hình thành đã hơn 240 năm, từ những con người DU CƯ, không chịu đựng nổi sự hà khắc của thể chế cũ trong những quốc gia vốn là quê hương của họ, để đến sinh cơ lập nghiệp trên một vùng đất mới hoang sơ đầy khó khăn này.

Để trở thành một Hợp chủng quốc với 300 triệu dân có nền kinh tế và quân sự đứng đầu thế giới như hiện nay, những người Du cư phải sống, làm việc và học tập cật lực, họ còn phải chống lại sự xâm lược của thực dân Anh, một trong những kẻ thù từ "quê hương cũ" đuổi theo họ.... và hơn ai hết, họ trân trọng cuộc sống tự do dân quyền mà họ đã giành được,

Tuyên ngôn nhân quyền của Hoa Kỳ ra đời ngày 25/9/1789 với 12 tu chính án, là cơ sở đảm bảo cho nền hiến pháp công bằng xã hội của nước Mỹ, thì cho dù vài ngày tới bà Hillary Clinton phải rời bỏ chính trường và ông Trump có giành thế thắng, thì 300 con người Mỹ vẫn không vì thế mà "mất điểm" trước thế giới điên loạn.

Thứ hai - nói về Trung Quốc.

Trong những năm gần đây và ngay cả hôm nay, khắp nước Trung Quốc, kể cả ở Hồng Kông và Đài Loan, người ta đang tìm đọc cuốn sách dầy 33.000 chữ của vị Luật sư nhân quyền nổi tiếng Cao Trí Thịnh viết về sự tiêu vong của ĐCSTQ vào năm 2017.

Là một luật sư chống lại các thủ đoạn đàn áp nhân quyền của ĐCSTQ, luật sư Cao Trí Thịnh kịch liệt phản đối ĐCSTQ đàn áp Pháp Luân Công, nên ông đã bị ĐCS bỏ tù và không ngừng bị khủng bố sau khi ra tù.

Chính những năm tháng khốn khổ đó, ông xuất hiện khả năng ngoại cảm, ông được "gặp" Thánh nhân và ông được "nghe" Ngài nói là năm 2017 thì ĐCS bị diệt vong và nước Trung hoa được hồi sinh.

Cao Trí Thịnh kêu gọi các đảng viên CSTQ mau thoái khỏi đảng kể cả các tổ chức thanh niên, thiếu nhi có chữ cộng sản để bảo vệ sinh mạng cho mình.

Theo thống kê sơ bộ, đến ngày 1/7/2015, TQ đã có khá nhiều đảng viên tự thoái đảng, sau khi đọc sách của Cao Trí Thịnh, người ta tranh nhau, chen nhau thoái đảng càng nhiều hơn....

Như vậy, Cao Trí Thịnh không chỉ dựa vào "giấc mơ" báo rằng ĐCSTQ không quá 96 tuổi và vước CHNDTQ không thể quá 67 năm, mà ông đã phân tích, so sanh với thực tế, sau 4 năm Tập Cận Bình lên nắm quyền, con số lãnh đạo cấp cao của ĐCS bị "ngã ngựa" nhiều bằng 63 năm trước đó cộng lại.

Bởi vậy, Cao Trí Thịnh khẳng định rằng khả năng ĐCSTQ tiêu vong vào năm 2017 là hiện thực.

Thứ ba - Chuyện nhỏ mà không nhỏ tại Việt Nam.

Dân Việt Nam, gần như ai cũng biết Thiên tài của cụ Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Cụ sinh năm 1491 mất năm 1585, thọ 94 tuổi, cụ đã để lại cho đời hàng ngàn bài thơ văn có giá trị, trong đó giá trị nhất mà đời nay rất khâm phục là 487 câu thơ trong SẤM TRẠNG TRÌNH.

Từ lúc vua Lý Thái Tổ lên ngôi đặt tên nước là Đại Việt và dời Đô về Thăng Long, thì trải qua 3 triều Lý Trần Lê, nước ta đều có tên gọi là Đại Việt và người đầu tiên dùng hai chữ Việt Nam là cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, theo cụ, 2 tiếng này ứng với 487 câu sấm của cụ, nói về 500 tồn tại của Việt Nam, nhưng cho đến năm 1804, sau khi vua Gia Long lên ngôi ở Phú Xuân Huế, mới đặt quốc hiệu nước ta là Việt Nam và Kinh đô Thăng Long bị giáng cấp thành Bắc Thành cho đến năm 1831 thi vua Minh Mạng đổi tên là tỉnh Hà Nội.

Bởi vậy khi người Pháp vào chiếm Hà Nội và cụ Hoàng Diệu để lại một kỷ niệm đau buồn về "Hà thành thất thủ". khi cụ phải treo cổ tự vẫn.

Và rồi, đầu thế kỷ thứ 20 người Pháp xây dựng thành phố Hà Nội xinh đẹp, nhưng thật đáng tiếc, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập về Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời thì dân Việt Nam ta rơi vào cuộc chiến tranh triền miên.

Tại sao ư?

Tại vì: Quốc hiệu Việt Nam do vua Gia Long chính thức đặt, thuộc Hành Hỏa.

Tên tỉnh Hà Nội, do vua Minh Mạng đặt, thuộc Hành Thủy, nhằm tầm thường hóa địa phương này so với Kinh đô Phú Xuân ( Mùa Xuân phong phú? )

Nhưng chính quyền việt Minh cướp được chính quyền thì vô thần bất chấp, mặc cho NƯỚC và LỬA xung khắc suốt 71 năm qua. Thậm chí những người tự xưng là yêu nước đang rắp tâm dâng Tổ quốc cho giặc ngoại xâm.

Nguy cơ nước Việt bị tiêu vong cận kề.

Tuy vậy, gần đây bài toán

LÝ SỐ HỌC HÀ LẠC TRONG SẤM TRẠNG TRÌNH đã được một số nhà nghiên cứu giải mã.

Căn cứ các câu sấm:

116- Chí anh hùng xem lấy mới ngoan

117- Chữ rằng lục thất nguyệt gian

118- Ai mà nghĩ được mới gan anh tài.

Người ta phát hiện cặp đôi LỤC THẤT 6+7= 13 và lấy đó làm đơn vị tồn tại của chế độ.

Vậy, trong 71 năm, có 5 Lục Thất là 65 năm tồn tại

Vậy 1945 + 65 = 2010 đến năm 2010 chế độ bắt đầu xuống dốc.

Rồi đến 3 câu sấm tiếp theo

395- Canh niên tàn phá

396- Tuất Hợi Phục sinh

397- Nhị ngũ dư bình.

Người ta lấy cặp Nhị Ngũ tức 2x 5 = 10 để tính 10 trên đà suy vong, nhưng vì có cặp đôi THAN DẬU NIÊN LAI KIẾN THÁIBÌNH thì chắc chắn đến năm Thân 2016 và 2017 chiến tranh phải hết, tức là tên Nhà nước CHXHCN Việt Nam và Thủ đô Hà Nội phải hủy bỏ để trở thành Nhà nước Đại Việt và Kinh đô Thăng Long, để câu sấm 396 đã báo đến năm 2018 và 2019 thì đất nước Đại Việt được phục sinh.

Vậy sự kiện gì sẽ xảy ra?

Nếu có Thần Nhân đất Cổ Loa mách bảo, ông Tổng Trọng giật mình sau giấc ngủ mê, ông tỉnh dậy tuyên bố Phục hồi tên nước Đại Việt.

Phục hồi tên Kinh đô Thăng Long.

Ông được dân tung hô Vạn tuế.

Ông không còn nhớ Đảng cộng sản là quái thai gì nữa, ngoài lời ca LÝ ĐI RỒI LÝ LẠI VỀ.

Hoặc nếu không, Bên kia phương Bắc, ĐCSTQ tiêu vong và ông sẽ được dân gọi ra hỏi tội.

Minh Lê 
 
(Blog Bùi Văn Bồng)

LTS: Dưới đây là bài viết của TS. Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương đăng trên Tạp chí Cộng sản. Tuần Việt Nam đăng tải lại và giới thiệu đến bạn đọc.
 
Nếu không ngăn được “nhóm lợi ích”, Đảng chân chính sẽ không còn và Nhà nước sẽ biến chất, dân tộc sẽ bị bóc lột, bị tước đoạt quyền lực và tài sản của cải, xã hội sẽ không có dân chủ và tự do, không có bình đẳng.


Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm”. Bởi vì, “lợi ích nhóm” (theo nghĩa tiêu cực) sẽ làm cho sự phát triển của đất nước và lợi ích quốc gia, dân tộc suy yếu và tổn thất nghiêm trọng; nhân dân bị tước đoạt quyền lực và lợi ích; thành quả cách mạng và chế độ chính trị - xã hội không được bảo vệ, dẫn đến đổ vỡ.

Lợi ích chính đáng (của một người, một nhóm) là lợi ích phù hợp với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, góp phần và bổ trợ cho lợi ích chung; không mâu thuẫn, không gây thiệt hại cho lợi ích chung. Lợi ích chính đáng luôn là mục tiêu và động lực đối với hoạt động của con người, cần được tôn trọng, bảo vệ và khuyến khích. Quên điều này, không quan tâm đến lợi ích chính đáng của con người, ngăn cản các lợi ích chính đáng ấy, thì sự lãnh đạo và quản lý xã hội không thể thành công, mà trước sau gì nhất định cũng sẽ thất bại.

Ngược lại, “lợi ích nhóm” (theo nghĩa tiêu cực) thì mâu thuẫn với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc; gây hại cho lợi ích chung, cho cộng đồng, làm suy yếu và gây tổn thất nghiêm trọng đối với lợi ích chung. “Lợi ích nhóm” là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc hình thành các “nhóm lợi ích”.

Đặc điểm của các “nhóm lợi ích” là có sự kết hợp cùng mục tiêu lợi ích, cùng hành động, cùng phân chia lợi ích, giữa những người có nhiều tiền với những người có quyền lực trong nhà nước và trong đảng cầm quyền. Có tiền chuyển hóa thành có quyền lực. Có quyền lực chuyển hóa thành có tiền. Người có tiền sẽ có quyền lực và người có quyền lực sẽ có tiền. Họ cùng nhau hành động để có quyền lực và có tiền ngày càng nhiều hơn.
Tư bản thân hữu, lợi ích nhóm, ĐCS, bóc lột, Vũ Ngọc Hoàng
Ảnh minh họa: CafeF

Đồng tiền cộng với quyền lực tạo thành sức mạnh khống chế, lũng đoạn tổ chức và xã hội. Nhận thức sự quan trọng của thông tin, “nhóm lợi ích” còn móc nối, “kết nạp”, kết hợp với một số nhóm truyền thông không lành mạnh để tác động chi phối dư luận theo hướng có lợi cho “nhóm lợi ích” và xuyên tạc vu cáo những người, những doanh nghiệp không cùng nhóm để tranh quyền lực và lợi ích. “Lợi ích nhóm” sẽ kéo theo và song hành với tham vọng quyền lực và tham vọng tiền bạc.

Ở nước ta, trong lãnh đạo, người đầu tiên công khai hóa và nêu lên sự cần thiết phải đấu tranh với “lợi ích nhóm” là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (phát biểu tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XI).

Sau Tổng Bí thư, một vài đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nước cũng có nói đến, mặc dù chỉ mới thoáng qua và nói chung, chưa có chỉ đạo gì quyết liệt trong việc ngăn ngừa, phòng chống “lợi ích nhóm”.

Trong giới khoa học của Việt Nam đã có một số nghiên cứu, chưa nhiều và mới ở dạng lý thuyết chung, chưa gắn với thực tế tình hình nước ta. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã có nhiều tài liệu nghiên cứu vấn đề này, gắn với quá trình phát triển của một số quốc gia. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định nhiệm vụ quan trọng phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm”.

Hiện nay, “lợi ích nhóm” và hoạt động của “nhóm lợi ích” ở nước ta đã và đang diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực quan trọng. Đó là trong quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý dự án đầu tư, nhất là đầu tư công; trong quản lý ngân sách, thuế, quản lý ngân hàng - tín dụng; trong quản lý các nguồn vốn và chương trình đầu tư về xã hội, trong quản lý tài sản, đất đai, bất động sản, tài nguyên khoáng sản, xuất nhập khẩu; trong công tác cán bộ, quản lý biên chế; trong quản lý việc cấp các loại giấy phép; kể cả trong các vụ án, trong tham mưu về chủ trương, chính sách và trong điều hành.

Đi sâu vào nghiên cứu các vụ tiêu cực, tham nhũng có tổ chức, các vụ, việc mà dư luận có nhiều ý kiến thì sẽ có nhiều thông tin cụ thể về tình hình “lợi ích nhóm” ở Việt Nam. Tức là tình hình xấu đã lan rộng, khá phổ biến và khá ngang nhiên, nghiêm trọng đến mức báo động.

“Lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” có tác hại gì? Trước nhất, nó làm cho đất nước bị tổn thất các nguồn lực và giảm hiệu quả đầu tư, bị kìm hãm không thể phát triển nhanh, thậm chí không thể phát triển bình thường, mất sức sống, nền kinh tế sẽ bị khiếm khuyết, dị tật, kinh tế “ngầm”, thị trường “ảo”, chụp giật, hoang dã, khống chế và “thanh toán” lẫn nhau để giành độc quyền, làm hỏng môi trường phát triển lành mạnh và bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp.

Hầu hết các nước bị “bẫy thu nhập trung bình” kéo dài nhiều thập niên, thậm chí kéo dài hàng thế kỷ, loay hoay mãi, lùng bùng mãi, không làm sao thoát ra được để trở thành một quốc gia phát triển là do “lợi ích nhóm” - nguyên nhân trực tiếp và hàng đầu. Với sự chi phối của các “nhóm lợi ích”, nguồn lực quốc gia bị phân bổ và sử dụng không vì lợi ích chung của quốc gia, mà nhằm hướng phục vụ cho “lợi ích nhóm”; việc bố trí đầu tư, sắp xếp dự án và kể cả ban hành chính sách, điều hành xử lý công việc cũng vậy.

Nước ta sau mấy chục năm công nghiệp hóa, đến nay năng suất lao động xã hội vẫn thấp (vào loại thấp nhất khu vực Đông Á), hiệu quả đầu tư kém, nợ nần nhiều mà chưa rõ trả bằng cách nào, khi mà hiệu quả đầu tư (sử dụng nguồn vay ấy) còn kém; thu nhập thấp, sản phẩm công nghiệp xuất khẩu hầu như không có, các chương trình nội địa hóa không thành công, chủ yếu là làm thuê và cho thuê mặt bằng, nền kinh tế Việt Nam đang rơi vào “bẫy thu nhập trung bình thấp”. Nhìn lại nguyên nhân các nước bị “bẫy thu nhập trung bình” và nhìn lại tình hình nền kinh tế của ta thì thật đáng lo ngại.

Hậu quả thứ hai do “nhóm lợi ích” gây ra là nhất định sẽ chệch hướng khỏi mục tiêu xã hội chủ nghĩa chân chính (và cũng xa lạ với chủ nghĩa tư bản hiện đại), đất nước đi theo một con đường khác, sang “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, đó là con đường không có tiền đồ và rất nguy hiểm, không có tự do và dân chủ (vì bị “nhóm lợi ích” độc quyền về kinh tế và chính trị thâu tóm, lũng đoạn), để lại hậu quả lâu dài mà dân tộc phải gánh chịu. Chúng ta mong muốn xây dựng một xã hội trên nền tảng của các giá trị nhân cách thì “nhóm lợi ích” lại thúc đẩy đồng tiền cộng với quyền lực chiếm địa vị thống trị.

Thực chất “nhóm lợi ích” là đồng tiền (tư bản) chi phối quyền lực, trực tiếp tham gia giành và chiếm giữ quyền lực, làm cho quyền lực không còn là của nhân dân, cũng có nghĩa là chệch khỏi mục tiêu xã hội chủ nghĩa (chân chính).
Tư bản thân hữu, lợi ích nhóm, ĐCS, bóc lột, Vũ Ngọc Hoàng
Ông Vũ Ngọc Hoàng. Ảnh: Lê Anh Dũng
“Lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” có từ rất sớm, ít nhất là từ buổi đầu của thời kỳ phong kiến; nhưng sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa thì nó phát triển và diễn biến phức tạp hơn, kể cả trình độ, quy mô và tính chất. Trong Chủ nghĩa tư bản “hoang dã”, “mông muội”, các “nhóm lợi ích” hoạt động phổ biến, công khai, tích lũy và tập trung tư bản bằng mọi thủ đoạn, kể cả bạo lực, giết người.

Nhân đây, trước khi nói đến hậu quả thứ ba do “nhóm lợi ích” gây ra, xin nói rõ hơn về “chủ nghĩa tư bản thân hữu”. Suốt mấy trăm năm nay, qua quá trình cạnh tranh, qua đấu tranh xã hội, chịu sự tác động của các quy luật khách quan về kinh tế và xã hội, chủ nghĩa tư bản buộc phải liên tục điều chỉnh. Ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã có những điều chỉnh rất đáng ghi nhận; tạo ra nhiều thành tựu và một số nước đạt trình độ phát triển cao, tính chất xã hội hóa sản xuất cao hơn, đang dần dần từng bước tạo ra các nhân tố mới của xã hội tương lai (xã hội xã hội chủ nghĩa).

Đồng thời với quá trình tiến hóa tự nhiên ấy, trong thực tiễn thế giới tư bản còn xuất hiện một khuynh hướng khác, một khuynh hướng không lành mạnh, không bình thường, một khuynh hướng tha hóa, đó là “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, một loại hình nguy hại cho sự phát triển của các quốc gia.

Nước nào rơi vào “chủ nghĩa tư bản thân hữu” thì không ngóc đầu lên được. “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” thực chất là sự bành trướng, biến dạng, biến tướng, sự thoái hóa cao độ của “nhóm lợi ích” gây ra. Đây là một loại hình rất lạc hậu, khác xa so với chủ nghĩa tư bản hiện đại (chủ nghĩa tư bản hiện đại có nhiều mặt tiến bộ, mà chúng ta cần nghiên cứu để học tập kinh nghiệm) và tất nhiên là càng xa lạ với chủ nghĩa xã hội văn minh.

“Chủ nghĩa tư bản thân hữu” còn có các cách gọi khác nhau, là “chủ nghĩa tư bản lợi ích”, “chủ nghĩa tư bản bè phái”, “chủ nghĩa tư bản bè cánh”, “chủ nghĩa tư bản lũng đoạn”,... “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” không phải là một giai đoạn của chủ nghĩa tư bản, mà là một hiện tượng, một khuyết tật, một sự tha hóa của chủ nghĩa tư bản. Đây là loại hình “phát triển” mà trong đó các doanh nghiệp dựa vào ưu thế về mối quan hệ với những người có quyền lực để tạo ra nguồn thu tài chính cho cá nhân và đơn vị mình.

Các doanh nghiệp này tập trung đầu tư vào “quan hệ”, vào “quan chức” để từ đó mà dùng quyền lực tạo ra lợi nhuận siêu ngạch.

Đặc trưng của “chủ nghĩa tư bản thân hữu” là có sự cấu kết, xâm nhập lẫn nhau giữa nhóm đặc quyền kinh tế và nhóm đặc quyền chính trị, người kinh doanh cũng đầu tư vào quyền lực và người có quyền lực cũng tham gia kinh doanh, làm quan chức để làm giàu, họ cùng nhau bóc lột “mềm” toàn xã hội, bóc lột cả dân tộc, họ thâu tóm các nguồn tài chính, của cải và thâu tóm quyền lực chính trị, biến bộ máy nhà nước thành công cụ của một nhóm người (nhân danh nhà nước và đảng cầm quyền) thực hiện độc quyền kinh tế kết hợp với độc quyền chính trị.

Nói họ thực hiện bóc lột “mềm” là vì không có hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh cụ thể để trực tiếp bóc lột giá trị thặng dư của lao động, sự bóc lột của họ tinh vi hơn, nhưng tai hại hơn, gây hậu quả rất nghiêm trọng.

Sự bóc lột ấy thực hiện thông qua các dự án, các chương trình đầu tư; thông qua các cơ chế, chính sách (không phục vụ cho toàn xã hội mà phục vụ cho một nhóm người) và thông qua cách điều hành, cách quản lý mập mờ, không minh bạch, gây tiêu cực, tham nhũng... Họ thu lợi thông qua các công ty “sân sau”, công ty con, công ty cháu, công ty nhánh của gia đình, của “cánh hữu”. Nó ra đời trong (và gắn với) chủ nghĩa tư bản “man rợ”, chủ nghĩa tư bản “dã man”, chứ không phải chủ nghĩa tư bản văn minh.

Rất đáng lưu ý là, “chủ nghĩa tư bản thân hữu” không chỉ có trong xã hội tư bản (yếu kém và tha hóa) mà còn có trong các xã hội khác, ở các nước mới bắt đầu vận hành nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường, khi mà ở đó “lợi ích nhóm”, “nhóm lợi ích”, “lợi ích bè phái”, “tính thân hữu vì lợi ích” đang nổi lên và hoành hành; khi mà đảng cầm quyền cùng nhà nước do nó lãnh đạo bị suy thoái về đạo đức, tham nhũng trở nên phổ biến và pháp luật không được tuân thủ trong sự quản lý đất nước, quản lý xã hội (tức là trình độ quản trị quốc gia yếu kém).

Thực tiễn thế giới cho thấy, “chủ nghĩa tư bản thân hữu” kìm hãm sự phát triển của quốc gia, làm cho đất nước rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” hàng thế kỷ không ra được, làm băng hoại đạo đức xã hội (do lệch chuẩn giá trị); làm méo mó, biến dạng các chủ trương, đường lối; gây nên các khuyết tật của nền kinh tế và của xã hội, để hậu quả lâu dài.

“Chủ nghĩa tư bản thân hữu” xuất phát từ các nguyên nhân, nguồn gốc: “Lợi ích nhóm” tiêu cực, các dạng ma-phi-a, tham nhũng có tổ chức, sự suy thoái đạo đức của cán bộ có chức quyền, không có cơ chế kiểm soát quyền lực, để quyền lực tha hóa và không có cơ chế tốt để nhân dân làm chủ và có quyền lực thật sự, trình độ và năng lực quản trị quốc gia yếu kém, luật pháp còn nhiều kẽ hở và việc chấp hành pháp luật không nghiêm, bảo kê, bao che và dung túng cho các sai phạm.

Ở đâu và khi nào mà “nhóm lợi ích” không bị ngăn chặn có hiệu lực, hiệu quả, mà để nó phát triển mạnh, lan tràn, hoành hành, vai trò của Nhà nước lành mạnh bị vô hiệu hóa, thì ở đó, tất yếu sẽ kéo theo “chủ nghĩa tư bản thân hữu” xuất hiện và tồn tại, không thể tránh được, không thể khác được, dù có muốn hay không.

Lâu nay Đảng ta đã nhiều lần lưu ý nguy cơ chệch hướng. Nếu chệch hướng thì sẽ chệch đi đâu? Chắc không thể trở lại chế độ phong kiến, vì trình độ phát triển đã vượt qua. Cũng không thể chệch sang chủ nghĩa tư bản phát triển văn minh, vì trình độ phát triển của nước ta chưa đạt đến, và nếu vậy thì có ý kiến cho rằng cũng không đáng sợ, bởi chúng ta sẽ gần hơn với chủ nghĩa xã hội. Khả năng lớn nhất, hiện hữu và cũng đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất là chệch hướng sang “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, con đường nguy hại cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc, đồng thời cũng nguy hại cho chế độ chính trị - xã hội.

Trở lại hậu quả của “nhóm lợi ích”. Hậu quả thứ ba do “nhóm lợi ích” gây ra là sự suy đồi về văn hóa, đạo đức xã hội do hệ giá trị bị đảo lộn (đồng tiền và quyền lực chiếm vị trí trung tâm và cao nhất, trong khi nhân cách bị đẩy sang bên cạnh và xuống hàng thứ yếu) và do tha hóa quyền lực (tác nhân mạnh nhất). Việc phân hóa giàu - nghèo sẽ ngày càng lớn, tạo ra bất bình đẳng và mâu thuẫn xã hội. Hỏng văn hóa và gây ra mâu thuẫn xã hội thì hậu quả khôn lường, thâm sâu và lan tỏa rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến nền tảng xã hội và sức mạnh nội sinh của dân tộc.

Hậu quả thứ tư do “nhóm lợi ích” gây ra là làm lẫn lộn thật - giả, đúng - sai, khác nhau giữa lời nói và việc làm, đường lối đúng không vào được cuộc sống...; làm mất lòng tin của nhân dân đối với đảng cầm quyền và đối với nhà nước, tức là làm hỏng nền tảng chính trị, dẫn đến mất ổn định chính trị, mất sức mạnh của một quốc gia, và từ đó các thế lực xâm lăng từ bên ngoài có thể lợi dụng thời cơ để xâm lấn, chèn ép, dẫn đến nguy cơ mất độc lập, thậm chí là mất nước.

Hậu quả thứ năm do “nhóm lợi ích” gây ra là chính sách sử dụng cán bộ méo mó, phát triển nạn “chạy chức”, “chạy quyền”, sắp xếp cán bộ trên cơ sở “quan hệ, tiền tệ, hậu duệ”, chứ không phải sử dụng người có tài đức, làm hư hỏng đội ngũ cán bộ; là sự phát triển, sự gia tăng các hoạt động bè phái, mất đoàn kết nội bộ, phá vỡ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của đảng cầm quyền, từ đó dẫn đến đảng cầm quyền mất vai trò lãnh đạo, tan rã hoặc bị “nhóm lợi ích” thâu tóm làm thay đổi hoàn toàn bản chất, không còn là đảng phục vụ nhân dân, và nhà nước cũng hư hỏng, biến chất, không còn là nhà nước của nhân dân, mà thành bộ máy cai trị, tham nhũng và bóc lột nhân dân, từ đó, nòng cốt chính trị đổ vỡ, bất ổn định chính trị từ bên trong.
Tư bản thân hữu, lợi ích nhóm, ĐCS, bóc lột, Vũ Ngọc Hoàng
Phố Xã Đàn, một trong những con đường "đắt nhất hành tinh". Ảnh minh họa: VOV.

Tình hình “nhóm lợi ích” ở Việt Nam đã đến mức độ nào? đang và sẽ đi về đâu? Như chúng ta đã biết, trước đây trong lịch sử nhiều lần các triều đại phong kiến Việt Nam bị sụp đổ, kể cả có lúc đất nước bị chia cắt là do “nhóm lợi ích” gây nên.

Ngày nay, tuy chưa có các công trình nghiên cứu cấp quốc gia một cách thật đầy đủ và khoa học về “lợi ích nhóm ở Việt Nam”, nhưng qua thông tin, qua dư luận xã hội, qua nghiên cứu của một số chuyên gia và cảm nhận của nhiều người, thì tình hình “lợi ích nhóm” đã khá nghiêm trọng, tương đối phổ biến, ở cấp nào cũng có, cấp cao hơn thì mức độ càng nặng hơn, ở lĩnh vực nào cũng có, kể cả ở những nơi mà xưa nay trong tiềm thức xã hội thường cho rằng đó là nơi luôn trang nghiêm, trong sạch.

“Lợi ích nhóm” cũng chính là một kiểu tham nhũng nghiêm trọng nhất, tham nhũng có tổ chức. Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhưng thực tế xã hội vẫn diễn ra một tình hình rất đáng lo ngại là ở nước ta đang có nguy cơ chuyển biến dần dần sang “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, do hoạt động của “nhóm lợi ích” gây nên. Cũng có ý kiến cho rằng nước ta đã rơi vào “chủ nghĩa tư bản thân hữu” rồi, đã vào sâu lắm rồi (?). Ở các nước, việc quản lý nhà nước và việc điều hành kinh tế tách biệt rành mạch, và ở họ doanh nghiệp nhà nước cũng ít hơn ta.

Còn ở ta, với đặc điểm cơ quan nhà nước vừa quản lý về mặt nhà nước, vừa trực tiếp điều hành kinh tế, doanh nghiệp nhà nước nhiều, lại yếu kém trong quản lý, không ít trường hợp đằng sau cái vỏ doanh nghiệp nhà nước là tư nhân núp bóng, vì vậy, đề phòng “lợi ích nhóm” ở Việt Nam còn phức tạp hơn các nước khác, nếu không đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả. Đây là nguy cơ lớn nhất đang hiện hữu dần, đe dọa sự phát triển lành mạnh của đất nước và sự tồn vong của chế độ theo định hướng xã hội chủ nghĩa (lành mạnh).

Nguy cơ này bao trùm, đáng lo hơn bất kỳ sự đe dọa nào, tác động chi phối chính, làm trầm trọng các nguy cơ khác, tạo điều kiện cho các nguy cơ khác phát triển và gây tác hại. Đây là điểm lớn nhất, cốt lõi nhất của cuộc đấu tranh về quan điểm lập trường; là trọng tâm trong chống “tự diễn biến”.

Nếu Đảng và Nhà nước ta không ngăn chặn được hoạt động của “nhóm lợi ích”, để nó tiếp tục phát triển, dẫn đến lũng đoạn ngày càng lớn hơn thì sự phát triển của đất nước bị nguy khốn và chế độ chính trị cũng biến chất, cũng thay đổi theo hướng xấu, chắc chắn không còn là con đường xã hội chủ nghĩa chân chính nữa, mà sẽ là nơi phát triển “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, mong muốn của hàng triệu đảng viên cộng sản và nhân dân đã chiến đấu, hy sinh xương máu sẽ trở nên xa vời và vô vọng, mong muốn thiết tha của Bác Hồ cũng không thực hiện được, Đảng chân chính sẽ không còn và Nhà nước sẽ biến chất, dân tộc sẽ bị bóc lột, bị tước đoạt quyền lực và tài sản của cải, chế độ xã hội sẽ là một chế độ không có dân chủ và tự do, không có bình đẳng.

Lúc này, hơn lúc nào hết, các cấp ủy và toàn Đảng phải nhận thức rõ nguy cơ và quyết tâm bảo vệ quyền lợi dân tộc, thành quả cách mạng và bảo vệ chính Đảng ta, không để Đảng bị “nhóm lợi ích” và “chủ nghĩa tư bản thân hữu” thao túng, làm hư hỏng, biến chất, dẫn đến đổ vỡ.

Chống “lợi ích nhóm” là công việc hết sức khó khăn, phức tạp, vì không rõ “chiến tuyến”, thường ở trong trạng thái lẫn lộn trắng đen, trong nó có ta và trong ta có nó, vừa là ta lại vừa là nó.

Ngoài việc cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc tình hình và nguy cơ, cần thảo luận rộng rãi trong Đảng và trên công luận. Đảng và cả hệ thống chính trị phải kiên quyết đấu tranh chống “lợi ích nhóm”, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, hết sức hệ trọng và cấp bách; tập thể lãnh đạo từ cấp cao nhất cần có quyết tâm chính trị và thật sự gương mẫu trong việc đấu tranh chống “lợi ích nhóm”, sử dụng tất cả các biện pháp có thể; khẩn trương nghiên cứu ban hành bổ sung, điều chỉnh các cơ chế kiểm soát quyền lực (bằng quyền lực nhà nước, quyền lực của nhân dân và công luận);

cơ chế thực thi dân chủ rộng rãi, minh bạch thông tin và quy định rõ trách nhiệm giải trình, điều trần; tạo hành lang pháp lý chặt chẽ cho báo chí vào cuộc, cho nhân dân thực hiện quyền tham chính; đổi mới căn bản công tác cán bộ, thực hiện tranh cử trước nhân dân đối với các chức danh bầu cử và thi tuyển công khai đối với các chức vụ quản lý, đồng thời thực hiện cơ chế giám sát hoạt động, kết quả công việc, thi hành việc bãi miễn và thay đổi vị trí công tác của cán bộ khi xét thấy không có lợi cho cuộc đấu tranh chống “lợi ích nhóm”./.

TS. Vũ Ngọc Hoàng
Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương.

* Theo Tạp chí Cộng sản. Tiêu đề do Tuần Việt Nam đặt.

(Tuần Việt Nam)

Trong tám tháng đầu năm nay, Việt Nam nhập khoảng 9.7 triệu tấn than. Gấp ba lần so với kế hoạch nhập cảng loại nhiên liệu này. Thay vì có thể mua than từ Indonesia với giá chỉ $44/tấn hoặc từ Nga với giá khoảng $63/tấn và thì Việt Nam chọn mua than của Trung Quốc và sẵn sàng trả $71/tấn.

Xuất than giá rẻ, nhập về giá cao. Hình: Dân Trí.
Xuất than giá rẻ, nhập về giá cao. Hình: Dân Trí.
Cho dù giá than trên thị trường thế giới nằm trong khoảng từ $50 đến $54/tấn nhưng Việt Nam sẵn sàng mua than của Trung Quốc với giá… $71/tấn.

Trong tám tháng đầu năm nay, Việt Nam nhập khoảng 9.7 triệu tấn than. Gấp ba lần so với kế hoạch nhập cảng loại nhiên liệu này. Thay vì có thể mua than từ Indonesia với giá chỉ $44/tấn hoặc từ Nga với giá khoảng $63/tấn và thì Việt Nam chọn mua than của Trung Quốc và sẵn sàng trả $71/tấn.

Cần nhắc lại rằng Việt Nam là một trong những quốc gia chuyên xuất cảng than. Bên cạnh đó, từ lâu, chính quyền Việt Nam đã phê duyệt kế hoạch xây dựng hàng loạt nhà máy phát điện bằng than, chưa kể nhu cầu về than của nhiều loại nhà máy khác rất lớn.

Thay vì để dành nguồn than cho nhu cầu trong nước, Bộ Công Thương của chính phủ Việt Nam lại gật đầu cho Tập Đoàn Than-Khoáng Sản Việt Nam (TKV), đẩy mạnh khai thác và xuất cảng những loại than tốt nhất để tập đoàn nhà nước này có lãi, bất kể giá xuất cảng thấp hơn nhiều so với giá thị trường thế giới, mục đích chỉ nhằm bảo đảm sự ổn định của các hợp đồng xuất cảng.

Suốt một thời gian dài, kế hoạch gia tăng khai thác-xuất cảng than của TKV bị nhiều chuyên gia ngăn cản vì vô lý, hoang phí tài nguyên, tạo ra nhiều rủi ro cho an ninh năng lượng… nhưng những ý kiến này không được đoái hoài vì giá than trong nước quá thấp, TKV không có lãi thì chính phủ không có thành tích.

Nguồn than trong nước giờ đã kiệt, từ một quốc gia chuyên xuất cảng than, cách nay vài năm, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nhập cảng than. Công quỹ, tất nhiên là phải gồng mình gánh thêm các loại thuế mà những quốc gia xuất cảng than áp lên than xuất cảng, các loại phí, kể cả chi phí vận chuyển.

Trao đổi với tờ Dân Trí về những biểu hiện khác thường này, ông Lê Đăng Doanh, một chuyên gia kinh tế, cảnh báo thêm, nhu cầu về than của Việt Nam càng lúc càng lớn vì phần lớn doanh nghiệp nhà nước lẫn doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nặng tại Việt Nam đều sử dụng công nghệ, thiết bị của Trung Quốc. Công nghệ, thiết bị của Trung Quốc bị xem là thâm dụng cả nguyên liệu lẫn nhiên liệu. Trong thực tế, vì sử dụng công nghệ, thiết bị của Trung Quốc, những nhà máy nhỏ sản xuất cement từ Bắc đến Nam đều đang ngốn rất nhiều than. Các nhà máy thép, sản xuất cả phôi lẫn thép thành phẩm cũng vậy. Ngay cả những nhà máy phát điện có quy mô lớn cũng sử dụng công nghệ, thiết bị của Trung Quốc… Việt Nam vốn đã phụ thuộc Trung Quốc cả về công nghệ, thiết bị, nguyên liệu, giờ có nguy cơ phụ thuộc cả nhiên liệu mà than là một ví dụ.

Người ta từng cho rằng việc các viên chức hữu trách tại Việt Nam hào phóng giao các dự án cho nhà thầu Trung Quốc, đối xử dễ dãi với những nhà thầu này, dùng công quỹ nhắm mắt mua bừa đủ thứ từ Trung Quốc là vì yếu tố chính trị, tuy nhiên càng ngày càng nhiều dấu hiệu cho thấy, thực trạng đó đơn thuần chỉ vì việc nhận tiền “lại quả” dễ dàng và an toàn hơn. Chắc chắn chính quyền Trung Quốc sẽ không điều tra các công ty Trung Quốc đưa hối lộ cho viên chức Việt Nam như Hoa Kỳ, Nhật hay chính quyền nhiều quốc gia khác đã làm.

(Người Việt)

Người ta không khỏi thấy “kinh dị” khi rất nhiều thanh niên Việt Nam sang Nhật trở về hả hê khoe với nhau về thành tích ăn cắp mà không bị bắt ở Nhật. Và ở Nhật, số lượng các biển cảnh báo người Việt không được ăn cắp cứ ngày một nhiều hơn.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Tai tiếng người Việt trên đất Nhật

Mới đây, trên một diễn đàn của người Việt Nam tại Nhật đã nổi lên một câu chuyện như sau được kể lại cho một người giữ vai trò phiên dịch cho buổi xét hỏi đó: “Khoảng 8h30 tối ngày 2/5, tại Osaka lại xảy ra vụ ăn trộm do người Việt Nam. Mình có làm ở đó lúc ý, người ta gọi mình lên phiên dịch hộ nên mình mới biết được, thực ra là bạn đó có biết tiếng chứ không phải không biết gì cả nhưng cố tình giả vờ không biết”

“Có hai người đi cùng với nhau nhưng chỉ bắt được một người. Lúc vào cửa hàng, hai người lấy đồ bỏ vào balo, nhân viên tình cờ bắt được có nhắc họ bỏ đồ vào giỏ hàng để sau còn thanh toán nhưng hai người đó không làm theo. Hai người đó cứ thế tiếp tục và nhân viên gọi thì hai người đó chạy, 1 người chạy thoát còn 1 người bị bắt.”

“Sau đó khi mình lên phiên dịch thì được biết là họ đã ăn trộm mỹ phẩm với giá 10 man, người chạy thoát cầm theo hết cả đồ, giá trị có thể hơn. Cảnh sát bắt người đó xuống rút tiền để đền thì thấy trong tài khoản có 13 man...”

“Cảnh sát lấy điện thoại của bạn đó xem ảnh, thì thấy toàn đồ mỹ phẩm và những đồ bạn đó vừa lấy, rồi còn thấy một tờ giấy tính toán tiền có ghi tên sản phẩm vừa lấy rồi có một cái ảnh chụp gửi đồ lên Tokyo... Mình hỏi bạn ý nói thật đi, đã lấy trộm mấy lần rồi, bạn ý bảo ăn trộm 2 lần rồi, lần trước cũng ở đây... Người Nhật hỏi mình tại sao Việt Nam mày ăn trộm lắm thế, mình chẳng biết trả lời làm sao, chỉ biết cúi đầu im lặng”

Khi dòng trạng thái về câu chuyện trên được đưa ra, hàng trăm người Việt Nam ở Nhật đã vào bình luận, phần đông những bình luận là chỉ trích những kẻ ăn cắp và kêu gọi nhiều người Việt xấu xí hãy dừng việc bôi nhọ hình ảnh người Việt và đất nước trong mắt bạn bè quốc tế bằng những hành động xấu hổ này.

Tuy nhiên, cũng không khỏi choáng váng khi cũng khá nhiều người khác vào bình luận thể hiện sự ủng hộ đối với hành vi ăn cắp, rằng việc ai đó ăn cắp cũng chẳng ảnh hưởng gì đến cộng đồng và những bạn chỉ trích hành vi ăn cắp cũng không phải hay ho gì hơn.

Đến mức độ này, có lẽ cũng không khó để hiểu với cách nghĩ như vậy nên số lượng người Việt ăn cắp cứ nhiều lên theo thời gian.

Truyền thông Nhật đã đưa tin nhan nhản về những vụ việc người Việt Nam ăn cắp tại Nhật, thế nhưng mức độ của vấn nạn ăn cắp của người Việt Nam tại Nhật đã đến mức mà cuối năm 2014, Japan Today phải dành riêng cả một bài báo dài đăng trên trang nhất để nói về vấn đề này.

Trong năm 2013, các cửa hàng Uniqlo tại vùng Tokai đã bắt được nhiều người Việt ăn trộm đến hơn 100 lần. Sau nhiều lần canh chừng, cảnh sát đã bắt được toàn bộ nhóm người trên.

Đầu năm 2014, cảnh sát Nhật đã bắt giữ một tiếp viên hàng không người Việt Nam vì tiêu thụ hàng ăn cắp. Cũng trong tháng 12/2014, một người Việt Nam tại tỉnh Gifu bị bắt vì ăn trộm dê thí nghiệm để xẻ thịt ăn.

Japan Today trích dẫn số liệu từ cảnh sát Nhật cho thấy chỉ riêng trong nửa đầu năm 2014, số lượng tội phạm người nước ngoài tại Nhật tăng hơn 10%, tức là tương đương với khoảng 5000 vụ việc.

Thế nhưng khi mà ở Nhật có người đến từ hàng chục quốc gia đang cùng sinh sống, học tập, làm việc thì số lượng người trộm cắp mang quốc tịch Việt Nam “vinh dự” chiếm đến hơn 20%.

Người Việt Nam đứng thứ 2 trong các cộng đồng người nước ngoài tại Nhật, nhưng không phải với thành tích công việc mà với hành vi ăn cắp. Những con số trên chỉ cho thấy những trường hợp đã bị bắt, còn rất nhiều trường hợp khác vẫn thoát được, ngày ngày rao bán và tiếp tục ăn cắp gửi hàng hóa về Việt Nam.

Khi ăn cắp được coi là một nghề kiếm sống

Thực sự đáng trách khi mà trong khi nhiều người trẻ Việt Nam tại Nhật ăn cắp ăn trộm vì họ mất việc làm và phải sống cuộc sống quá cùng cực, gia đình phải vay nợ cho các em đi, thì có rất nhiều người trẻ ăn cắp đơn giản chỉ vì... họ thích thế.

Chẳng thế mà mới đây đã có vụ việc nữ sinh Việt Nam có trong ví đến 80 nghìn yên (khoảng hơn 16 triệu đồng Việt Nam) nhưng vẫn vào siêu thị ăn trộm thịt lợn để nấu ăn cho bạn trai.

Đó là chưa kể đến việc đối với nhiều thanh niên Việt Nam sức dài vai rộng có công ăn việc làm ăn tại Nhật hẳn hoi nhưng đương nhiên coi việc ăn cắp như một nghề kiếm sống, và chừng nào chưa bị cảnh sát Nhật tóm cổ thì họ vẫn rất nhơn nhơn coi thường pháp luật.

Trên các diễn đàn của người Việt Nam tại Nhật, có lẽ không ngày nào người ta không thấy hàng loạt những tin rao bán hàng ăn cắp. Tất nhiên, không ai dám nói đó là hàng ăn cắp, nhưng ai cũng hiểu điều đó. Phóng viên chúng tôi đã có cuộc tiếp xúc và thử mua hàng của những người đó và kết quả không khỏi gây nhiều ngạc nhiên.

Ở Việt Nam, người Việt Nam thường chuộng tảo, thuốc xương, collagen, tỏi đen, sữa bột, áo Uniqlo của Nhật. Và vì thế những mặt hàng trên cũng được dân ăn cắp Việt Nam lấy nhiều nhất. Ngoài ra là rượu, thuốc lá, nước hoa, kem dưỡng da, son môi... ăn cắp được gì họ lấy hết để bán về Việt Nam. Làm sao biết đó là hàng ăn cắp?

Đó là những cá nhân thường rao bán khoảng vài chục hộp thuốc xương, collagen, tỏi đen các loại nhưng không bao giờ dám công bố giá mà thường chỉ yêu cầu inbox, và đặc biệt nếu bạn dám hỏi họ về hóa đơn mua hàng họ sẽ chẳng bao giờ có, đơn giản vì họ có mua nó đâu.

Và tất nhiên hàng ăn cắp chẳng mất vốn gì ngoài công ăn cắp nên giá siêu rẻ, rẻ chỉ bằng từ 30 đến 50% so với giá bán ở cửa hàng. Thuốc glucosamine Orihiro của Nhật bán ngoài cửa hàng hoặc trên mạng giá đến gần 4000 yên (gần 800 nghìn đồng Việt Nam) thì hàng ăn cắp hay còn gọi là “hàng đá” chỉ bán giá có 1.500 yên (hơn 300 nghìn đồng Việt Nam) hoặc cao hơn chút.

Điều đó lý giải tại sao nhiều người Việt Nam sang Nhật rồi quay về không thể hiểu nổi lý do tại sao giá thực phẩm chức năng Nhật tại nhiều cửa hàng xách tay trong nước lại rẻ hơn rất nhiều so với hàng bán trực tiếp tại cửa hàng ở Nhật.

Ví dụ như lọ thuốc glucosamine được nói đến ở trên được bán với giá chỉ 730 nghìn đồng tại nhiều cửa hàng xách tay, siêu thị mini ở Việt Nam (đã có thuế, phí và rất nhiều loại chi phí kinh doanh khác).

Chắc chắn để tránh cái mác tiêu thụ hàng ăn cắp, nhiều chủ buôn sẽ lý luận rằng họ mua hàng với số lượng lớn nên giá được giảm. Để làm rõ vấn đề này, chúng tôi đã liên lạc với nhân viên phụ trách việc kinh doanh thực phẩm chức năng tại chi nhánh của tập đoàn siêu thị Aeon tại tỉnh Niigata, Nhật, cô Chiery Rin. Cô Rin cho biết để mua được thực phẩm chức năng từ các công ty của Nhật sẽ cần rất nhiều giấy phép, ngoài ra, không bao giờ có chuyện giá mua buôn rẻ được đến một nửa mà thường chỉ 10 đến 15%.

Và chắc chắn với giá ở mức giảm 10,15% thì nhà kinh doanh Việt Nam sẽ không bao giờ bán được lọ tảo hay lọ thuốc xuông với giá thấp hơn Nhật nếu họ thực hiện đủ các nghĩa vụ thuế.

Sẽ khó có một con số nào cụ thể để ước tính cho giá trị hàng hóa mà những người Việt Nam xấu xí kia đã ăn. Nhunh vụ việc của nữ tiếp viên hàng không Việt Nam bị bắt tháng 3/2014 cho thấy giá trị hàng hóa ăn cắp từ Nhật chuyển về sau mỗi chuyến bay là cũng lên đến 2-3 nghìn USD/chuyến.

Thường thì sẽ có một số đầu mối chuyên thu gom hàng ăn cắp từ các cá nhân và sau đó bằng đường này đường khác số hàng ăn cắp trên được chuyển về Việt Nam tiêu thụ.

Ở bất kỳ nước nào trên thế giới, hành vi ăn cắp cũng là tồi tệ nhưng ở Nhật, người Nhật còn khinh bỉ nó gấp nhiều lần.

Trong cuộc sống đời thường, người Nhật rất tôn trọng kỷ cương và nhìn chung khi bạn lao động chăm chỉ, tuân thủ kỷ luật lao động họ sẽ trân quý bạn.

Nhưng ngược lại nếu bạn có hành vi phạm pháp dù chỉ một lần bạn cũng sẽ không bao giờ được tha thứ. Vì thế nên có thể chắc chắn rằng những kẻ cắp người Việt đang hoành hành trên đất Nhật sẽ không bao giờ có cửa đặt chân lên nước Nhật thêm một lần nào nữa nếu họ bị bắt.

Đại diện một số công ty tuyển sinh du học sinh Việt Nam sang Nhật cho biết thời gian gần đây, các trường bên Nhật đã siết chặt các yêu cầu về hồ sơ chỉ riêng đối với du học sinh đến từ Việt Nam.

Trong một cuộc nói chuyện mới đây với tác giả bài viết, ông Tomoyuki Takeda, đại diện một trường tiếng ở Tokyo, cho biết theo một số nguồn tin nội bộ mà ông có được thì quy định cấp visa cho học sinh Việt Nam sẽ bị siết chặt hơn rất nhiều trong thời gian tới bởi du học sinh Việt Nam đã gây ra quá nhiều rắc rối cho người Nhật.

Điều đó đồng nghĩa với việc hàng nghìn thanh niên Việt Nam trong tương lai sẽ không có cơ hội sang Nhật học tập và làm việc do những tệ nạn mà hiện người Việt tại Nhật đang gây ra.

Đã từng có không ít thị trường nước ngoài dù cần lao động mà kiên quyết không nhận người Việt Nam. Mong rằng những thanh niên đang phạm pháp tại Nhật hãy biết nghĩ đến tương lai của đất nước, dân tộc mà hành động cho đúng đắn.

Trong bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ tiếp tục đi sâu lý giải cho việc tại sao người Việt Nam tại Nhật lại ăn cắp nhiều đến như vậy, mời quý độc giả tiếp tục đón đọc.


(Cafe biz)

GS Trần Văn Nhung vừa chia sẻ lại bức ngỏ gửi Bộ Chính trị về quốc sách cho tiếng Anh. Ngay lập tức, những chia sẻ này nhận được sự đồng tình của dư luận

Ngày 23/9, GS Trần Văn Nhung, Tổng Thư ký Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước (Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã chia sẻ lại bức thư ngỏ gửi Bộ Chính trị, Ban Bí thư về việc cần có quốc sách với môn tiếng Anh. Bức thư ngỏ này đã được GS Trần Văn Nhung viết ngày 19/05/2015.

Sau ít phút chia sẻ, bức tâm thư của GS Trần Văn Nhung trên mạng xã hội Facebook đã nhận được hàng trăm lượt thích và chia sẻ.

Cho dù GS Trần Văn Nhung tự nhận “Nếu có điểm nào bị lạc hậu, không cập nhật, mong được thứ lỗi!” nhưng đa số các ý kiến bình luận đều thể hiện sự đồng tình với quan điểm GS Trần Văn Nhung nêu ra trong bức tâm thư.

Được sự đồng ý của GS Trần Văn Nhung, Báo điện tử VTC News xin đăng lại toàn bộ chia sẻ về việc cần có quốc sách cho việc học tiếng Anh ở Việt Nam.

GS Trần Văn Nhung
Hà Nội, Ngày 19 tháng 5 năm 2015

Kính gửi: Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư, và các Đồng chí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kính thưa các Đồng chí,

Với tư cách cá nhân của một một công dân, đảng viên và nhà giáo, một người đã “lặn lội, tự học” tiếng Anh mãi ở trong nước mà khi dùng vẫn rất khó khăn, vẫn không tự tin và không thể khá lên được, tôi xin đề nghị Bộ Chính trị và Ban Bí thư: Xem xét, nghiên cứu để sớm có được một chỉ thị hay nghị quyết (nói nôm na là một quốc sách) để tăng cường việc dạy, học và sử dụng tiếng Anh ở Việt Nam, trong thời hội nhập quốc tế, tương tự như Chỉ thị 58-CT/TW năm 2000 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 36-NQ/TW năm 2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển Công nghệ Thông tin (CNTT).

Chúng ta vui mừng chờ đón Đại hội Đảng lần thứ XII đang đến gần. Tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN, TPP, WTO, …, chưa bao giờ yêu cầu hội nhập quốc tế lại bức thiết và trực tiếp như hiện nay.

Càng ngày chúng ta càng thấy rõ: Khả năng sử dụng tiếng Anh của người Việt Nam đang là một trong những rào cản không nhỏ tốc độ hội nhập quốc tế, xây dựng và củng cố quốc phòng, an ninh và phát triển văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo.

Khi viết bức tâm thư này, tôi muốn được nhắc lại một công thức quan trọng của thời đại toàn cầu hóa ngày nay là CNTT + Tiếng Anh + Bộ Óc tốt = Tất cả (IT + English + Good Brain = All!) “Bộ Óc tốt/Good Brain” ở đây là một khái niệm tổng hợp gồm tất cả những yếu tố cần và đủ nằm trong cái “vỏ CNTT + Tiếng Anh” để bảo đảm cho công dân toàn cầu chung sống thành công.

Như vậy, mặc dù “CNTT + Tiếng Anh” là rất quan trọng, nhưng vẫn chỉ có tính chất công cụ, công cụ cần thiết. Còn kiến thức tổng hợp và các kỹ năng đa chiều mới là cái quyết định hiệu quả của hội nhập quốc tế.

(TS Hoàng Ngọc Vinh, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Chuyên nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã cho tôi biết đến công thức trên.)

Tôi viết bức tâm thư này dựa trên những căn cứ sau đây:

1. Hai công cụ chiến lược của thời đại hiện nay: CNTT và tiếng Anh

Chúng ta đều biết, CNTT và ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, là hai công cụ (như “hai chân”) có tầm quan trọng chiến lược hàng đầu trong thời đại toàn cầu hóa, đối với mỗi con người, mỗi công dân toàn cầu, và đối với mỗi đất nước, mỗi dân tộc.

Đáng mừng là nhờ Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII ban hành ngày 17/10/2000, CNTT đã được phát triển nhanh chóng cùng với nhiều ứng dụng phong phú, đa dạng trong toàn xã hội.

Nhiều cơ quan của Đảng và Nhà nước, các trường đại học và viện nghiên cứu khoa học, các cơ quan hợp tác quốc tế, …, đã thực hiện tốt Chỉ thị này.

Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, Văn phòng Chính phủ và Văn phòng TW Đảng đã chỉ đạo quyết liệt và đi đầu trong việc tăng cường tin học hóa các thủ tục hành chính và mọi hoạt động xã hội. Khách quốc tế đến Việt Nam cũng khen chúng ta phổ cập tốt về ứng dụng CNTT trong xã hội, mặc dù mức sống của chúng ta còn thấp.

Khi đi ra nước ngoài cũng dễ nhận thấy nhiều nước kinh tế phát triển hơn nước ta nhưng CNTT chưa được sử dụng phổ cập và tiện lợi được như ở nước ta.

Sự tiến bộ nhanh chóng của CNTT và ứng dụng trong 15 năm qua ở Việt Nam có nhiều nguyên nhân, nhưng quan trọng nhất là nhờ có Chỉ thị 58, toàn bộ hệ thống chính trị, toàn xã hội đã vào cuộc và, có lẽ, một phần cũng nhờ con người Việt Nam thích tư duy logic của toán học và tin học.

Nếu Bộ Chính trị sớm ban hành được một chỉ thị tương tự như Chỉ thị 58 nhưng về ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, nếu toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội vào cuộc thì việc học, dạy và sử dụng tiếng Anh trên đất nước chúng ta sẽ được triển khai mạnh mẽ, quyết liệt và có những bước tiến ngoạn mục, góp phần tích cực để phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh …, để Việt Nam sớm trở thành một quốc gia hùng cường.

Nói riêng, cần phải triển khai nhanh chóng, mạnh mẽ và hiệu quả Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020″ đã được Thủ tướng Chính phủ ký QĐ phê duyệt số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008.

Đề án này đã được Chính phủ và Bộ GD-ĐT tích cực chỉ đạo thực hiện, ngành giáo dục cùng cả xã hội đã có nhiều cố gắng để triển khai và đã đạt được những kết quả bước đầu.
du hoc sinh

Tiếng Anh sẽ là chìa khóa mở ra thành công cho các bạn trẻ Việt Nam

2. Xin nói thêm về tầm quan trọng của tiếng Anh

Chúng ta đã được đọc, được nghe nhiều người Việt Nam và người nước ngoài nói về tầm quan trọng của tiếng Anh đối với mỗi một con người và mỗi đất nước. Khi nhấn mạnh vai trò của tiếng Anh, chúng ta không quên các ngoại ngữ khác.

Vì ẩn sâu phía sau mỗi ngôn ngữ là một nền văn hóa và biết thêm được một ngôn ngữ như mở thêm được một cửa sổ ra vườn hoa đầy hương sắc bên ngoài. UNESCO cũng luôn chủ trương tôn trọng sự đa dạng văn hóa và ngôn ngữ.

Vấn đề là ở chỗ ngày nay những công dân toàn cầu phải sử dụng tối ưu thời gian sống và làm việc của họ, nói riêng là cần phải học và sử dụng (những) ngoại ngữ nào. Chúng ta tôn trọng sự đa dạng và bình đẳng văn hóa, nhưng trên hết phải xuất phát từ chính quyền lợi chính đáng và thiêng liêng của dân tộc ta khi lựa chọn và quyết định ngoại ngữ thứ nhất.

Theo tôi đó là tiếng Anh, sau đó mới đến các thứ tiếng quốc tế khác. Vì chính các nước khi tiếng mẹ đẻ của họ trùng với một thứ tiếng quốc tế nào đó, ví dụ như tiếng Pháp, Đức, Nga, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Nhật Bản, …, họ cũng đều coi tiếng Anh là ngoại ngữ số một.

Theo thống kê mấy năm trước đây của Hội đồng Anh (BC): Có 370 triệu người bản ngữ nói tiếng Anh và 375 triệu người sử dụng tiếng Anh như một ngoại ngữ.

Như vậy có 745 triệu người nói tiếng Anh. Con số này tăng nhanh lên hàng ngày. Đó là chưa kể đến hàng tỷ máy tính, điện thoại di động trên khắp thế giới này lại chỉ được con người ”dạy” để ”nói và nghe” tiếng Anh và các phần mềm chủ yếu được viết bằng tiếng Anh. TS. C. McCormick, Phó Chủ tịch Tổ chức Giáo dục quốc tế, đã nhiều lần khẳng định: “Tiếng Anh là nền tảng vững chắc và công cụ mạnh mẽ để trao đổi nghiệp vụ, văn hóa và kinh tế”.

3. Bài học từ Singapore và Malaysia

Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Công, Đài Loan, Thái Lan, Philippines, …, và nhất là các nước ”con rồng” luôn đề cao tiếng Anh, CNTT và chủ trương quốc tế hóa nền khoa học và giáo dục của họ.

Ở đây, tôi xin tập trung vào hai ví dụ cụ thể là Singapore và Malaysia để tham khảo và so sánh. Năm 1965, Singapore tách ra thành một đảo quốc độc lập từ Malaysia và Ông Lý Quang Diệu (1923-2015), cựu sinh viên luật của Đại học Cambridge, nước Anh, là Thủ tướng trong suốt 31 năm, từ 1959 đến 1990.

Với diện tích 697,25 km2, chỉ xấp xỉ bằng huyện Cần Giờ, TP. HCM, và dân số 5,47 triệu người (tháng 6/2014), Singapore xuất phát từ một làng chài nghèo, đến nước uống cũng không có, phải mua của Malaysia.

Vì thế Thủ tướng Lý Quang Diệu ngay từ đầu đã xác định rằng nước mình không có một nguồn tài nguyên nào hết, tất cả phải nhờ cái đầu, đi lên bằng cái đầu, bằng nguồn nhân lực và tài năng.

Singapore có ba nhóm người chính là Hoa, Ấn Độ và Mã Lai. Cả ba vẫn duy trì tiếng nói, văn hoá và bản sắc của mình, nhưng ngôn ngữ chính thức được sử dụng chung trong hành chính và giáo dục là tiếng Anh.

Trong suốt 20 năm đầu khi mới thành lập nhà nước Singapore, Ông Lý Quang Diệu chỉ đạo Bộ Giáo dục nước này dùng luôn (copy) sách giáo khoa phổ thông của nước Anh cho trường học của mình, nhất là đối với các môn khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ.

Đây có lẽ là cách nhanh nhất, khoa học nhất, tiết kiệm nhất để cập nhật, hiện đại hoá nền giáo dục và nói riêng là biên soạn sách giáo khoa, bảo đảm các nguyên tắc của khoa học sư phạm hiện đại, vì các nước phát triển lâu đời như nước Anh đã có truyền thống với nhiều chuyên gia khoa học và giáo dục rất giỏi.

Rồi không chỉ đối với giáo dục phổ thông mà ngay cả những trường đại học nổi tiếng hàng đầu của Singapore như NUS hay NTU, từ lâu đã sử dụng luôn chương trình giảng dạy về khoa học và công nghệ, sách giáo khoa và sách tham khảo, áp dụng việc thi cử và bằng cấp của các đại học đứng đầu thế giới như Harvard, MIT (của Mỹ) và Cambridge, Oxford (của Anh).

Singapore đã coi tiếng Anh là chìa khóa để cạnh tranh và tránh tụt hậu. Lý Quang Diệu đã tổng kết bài học của Singapore: Chỉ có một cách để không bị tụt hậu là phải giỏi tiếng Anh.

Việc lựa chọn tiếng Anh đóng vai trò như ngôn ngữ làm việc, giúp ngăn chặn nảy sinh xung đột sắc tộc, đem lại ưu thế cạnh tranh. Nhờ kiên trì thực hiện chủ trương “nhiều tiếng nói, một ngôn ngữ” để đưa tiếng Anh vào trường học, ngày nay Singapore có lợi thế lớn. Đây là phần thưởng ngoài dự đoán của Singapore khi thực hiện chủ trương này.

Ông Lý Quang Diệu đã từng được Chính phủ Việt Nam mời làm cố vấn. Ông gợi ý: “Đại học Việt Nam nên có sách giáo khoa tiếng Anh ở các ngành quan trọng như kỹ thuật, công nghệ, …, bởi nếu chỉ dùng sách Việt Nam thì chắc chắn sẽ tụt hậu”.

Ông còn cảnh báo thêm, nếu tất cả sinh viên Việt Nam sau này “không thể nghe và nói tiếng Anh trôi chảy, chỉ có thể đọc thôi cũng đã là tụt hậu”. (Xem VNNet 23/3/2015)

Hiện nay, trên 20% số sinh viên trên đất Singapore là người nước ngoài. Họ đến đây học bằng nhiều loại học bổng khác nhau hoặc tự túc, cũng có thể bằng học bổng do Singapore cấp, nhưng sau khi tốt nghiệp đại học, có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ thì ở lại làm việc cho Singapore để trả nợ.

Một số trường phổ thông chất lượng cao và đại học có uy tín quốc tế của Singapore đã trực tiếp sang Việt Nam hoặc qua internet, tổ chức hội thảo du học, trại hè,… để thu hút những học sinh, sinh viên và NCS Việt Nam tài năng.

Như vậy, họ không chỉ biết khai thác trí tuệ của 5 hay 6 triệu người của mình mà cả hàng triệu người nước ngoài, nhất là những người có tài, trẻ trung và sung sức, đến học tập, nghiên cứu và làm việc tại Singapore, hoặc khai thác qua mạng internet/online.

Sự khôn ngoan của họ lại làm tôi nhớ đến câu thơ rất hay của Cao Bá Quát (1808-1855) “kho trời chung, mà vô tận của mình riêng”.

Trong khi đó Malaysia, nước láng giềng bên cạnh, thì lại chủ trương dùng tiếng Malay là chủ yếu. Kết quả là rất nhiều học sinh, sinh viên nước này bỏ ra học nước ngoài, trong đó có nhiều thanh thiếu niên, con nhà giàu, khiến mỗi năm bị chảy máu ngoại tệ nhiều tỷ Đô la Mỹ và chất lượng đại học đi xuống.

Cách đây ít năm, sau 22 năm làm Thủ tướng, ông Mahathir Mohamad đã rút ra bài học kinh nghiệm đắt giá về giáo dục và yêu cầu mọi người Mã Lai hãy trở lại với tiếng Anh và cá nhân.

Ông gương mẫu học trước. Nói vậy thôi, nhưng có lần vào khoảng đầu những năm 2000, khi tham dự Hội nghị thường niên của các Bộ trưởng Giáo dục ASEAN (SEAMEC) được tổ chức tại Kinabalu (Malaysia), tôi nghe Ông phát biểu trơn tru bằng tiếng Anh thứ thiệt trong suốt một giờ đồng hồ mà không cần cầm giấy tờ, trợ lý, phiên dịch gì cả.

Kết luận: Tôi xin đề nghị Bộ Chính trị, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, xem xét, tham khảo, vận dụng những kinh nghiệm quý báu của chính đất nước ta (từ thời Chủ tịch Hồ Chí Minh), của Singapore và Lý Quang Diệu, của các nước phát triển thần kỳ khác, để có quốc sách phù hợp cho tiếng Anh song hành cùng CNTT ở Việt Nam.

Tôi xin cảm ơn Tổng Bí thư, Bộ Chính trị và Ban Bí thư đã dành thời gian đọc và xem xét kiến nghị của tôi, một nhà giáo, một đảng viên, một công dân yêu nước, luôn mong mỏi đất nước mình phát triển nhanh chóng một cách bền vững, để dân tộc Việt Nam có thể sánh vai được với các cường quốc năm châu, như Bác Hồ hằng mong mỏi. Kính chúc Tổng Bí thư, các Đồng chí ủy viên Bộ Chính trị và các Đồng chí Bí thư Trung ương Đảng khỏe mạnh, hạnh phúc và hoàn thành trọng trách cao cả mà Dân tộc và Đảng đã tín nhiệm trao cho các Đồng chí, nhất là khi Đại hội Đảng lần thứ XII đang đến gần !

Kính thư,

Trần Văn Nhung

GS Trần Văn Nhung, Tổng Thư ký Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước

(VTC News)
 
Top ↑ Copyright © 2010. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Welcome to Tin Tức Hàng Ngày