Tin Tức Cập Nhật 24/7
HOT VIDEO CHANNEL - TV Gia đình Nông Đức Mạnh lại "cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt", Vợ bé Đỗ Huyền Tâm biến mất bí ẩn

Nguyên nhân cái chết của Chủ tịch Trần Đại Quang đã được Nhật Bản công bố thế nào?



Nhật Bản Công bố chính thức Nguyên nhân cái chết của Chủ tịch Nước Trần Đại Quang,

Nguyên nhân cái chết của Chủ tịch Trần Đại Quang đã được Nhật Bản công bố thế nào?



Đăng ký để xem nhiều tin mới nhất tại: goo.gl/kjKkZU

(Tin tức Hàng ngày TV)

TS. Đinh Hoàng Thắng - Mattis thăm VN: Các vấn đề chiến lược có được ưu tiên?


Liệu VN có cam kết sâu hơn đối với tiến trình FOIP? Việc tăng thêm các yếu tố chiến lược trong đối tác toàn diện song phương tiến triển đến đâu? VN và các nước ở trong khu vực mà Mattis gọi là “trái tim địa chính trị” đã tìm được thế cân bằng nào trong căng thẳng Mỹ—Trung? Bộ trưởng Quốc phòng Jim Mattis rời Sài Gòn song các câu hỏi này dường như vẫn chưa có câu trả lời rốt ráo. - TS. Đinh Hoàng Thắng

Ông Mattis, thứ ba từ phải, nói chuyện cùng các sĩ quan quân đội Việt Nam khi thăm sân bay Biên Hòa, 17 tháng 10, 2018. (Kham/Pool Photo via AP)
Đây là lần thứ 8 Mattis đến Ấn Thái Dương (Indo—Pacific) và là lần thứ 5 ông đến Đông Nam Á, khu vực được ông coi là “trái tim địa chính trị”. Đây cũng là cuộc gặp gỡ lần thứ 5 giữa hai bộ trưởng Quốc phòng Mỹ—Việt. Tờ Spunik (Nga) cho rằng chuyến đi của tướng Mattis lần này sang Việt Nam là bất ngờ và bất thường. Nhưng thật ra, chuyến thăm tp Hồ Chí Minh lần này đã được lên kế hoạch từ trước. Đầu tháng 10/2018, trợ lý của Jim Mattis là Randall G. Schriver, không những đã khẳng định về lịch trình chuyến thăm, mà còn cho truyền thông biết trước một số nội dung cụ thể.

Quan điểm đối với FOIP

VN là điểm đến đầu tiên của người đứng đầu Lầu Năm Góc trong chuyến đi ĐNÁ được đồn đoán, có thể là chuyến công du cuối cùng của ông trên cương vị hiện nay. Điều này cho thấy các chương tình làm việc có thể là khá cần kíp và không thể trì hoãn. Trước chuyến thăm, trợ lý của tướng Mattis, ông Schriver tuyên bố, Hoa Kỳ cảm thấy rất lạc quan trước chiều hướng phát triển hợp tác hiện nay giữa hai nước. Mỹ rất mong muốn Việt Nam trở thành một “đối tác chiến lược” và thân thiết với Mỹ. Từ nay, Hoa Kỳ thúc đẩy các mối bang giao theo hướng đó, với tiến độ và phạm vi tùy theo mong muốn của phía Việt Nam.

Cuộc gặp gỡ giữa tướng Lịch và tướng Mattis lần này chắc chắn có đề cập tới những tình hình mới nhất của mỗi bên. Thứ nhất, lãnh đạo cao nhất của VN tiếp Mattis hồi đầu năm, TBT Nguyễn Phú Trọng nay sắp trở thành Chủ tịch nước. Thứ hai, Ban chấp hành TW ĐCSVN, lần đầu tiên tuyên bố, sẽ từng bước đưa đất nước trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển và hướng ra biển. Thứ ba, Washington ngày càng tỏ rõ là rất quan tâm đến việc cùng các đối tác trong vùng tạo dựng một FOIP (khu vực Ấn Thái Dương tự do và rộng mở).

Vì vậy, vai trò của VN nói riêng và ASEAN nói chung đối với FOIP, tức cũng là quan điểm của VN đối với “chiến lược Ấn Thái Dương” (IPS) của “bộ tứ kim cương” Nhật—Mỹ—Úc—Ấn là một điểm nhấn nữa trong các cuộc trao đổi. Vị thế của VN như một “đối tác mới nổi” sẽ chủ động đến mức nào là vấn đề hết sức thời sự! Bởi vì, IPS là một tiến trình chứ chưa phải là một điểm đến, nên sự phối hợp trong khuôn khổ đa phương là không thể thiếu. Dịp thượng đỉnh Nhật Bản—Mekong (9/10) tại Tokyo, Thủ tướng Shinzo Abe cũng đã giới thiệu về chiến lược FOIP. Sáng kiến này được xem là nhằm đối phó với tầm ảnh hưởng lấn lướt về an ninh của Trung Quốc khi Bắc Kinh tăng cường quân sự hoá các đảo cưỡng chiếm và tuyên bố chủ quyền hầu hết cả diện tích Biển Đông. Dịp ấy, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tuyên bố, Việt Nam hoan nghênh và ủng hộ những nỗ lực và sáng kiến của Nhật Bản nhằm bảo đảm sự thịnh vượng về kinh tế, tự do về thương mại và an toàn về hàng hải trong khu vực FOIP.

Trong một phân tích trên Scribd (website chia sẻ tài liệu lớn nhất thế giới), ngày 15/10, GS. Carl Thayer từ Học viện Quốc phòng Úc nhận định: “Bộ trưởng Mattis cần tìm kiếm một liên minh tạm thời với các quốc gia trong khu vực, bao gồm Việt Nam, để ứng phó với Trung Quốc. Việt Nam phải chấp nhận một môi trường đối đầu hơn giữa Trung Quốc và Mỹ cả trong khu vực và quốc tế. Ngoài ra, việc Bắc Kinh quân sự hóa tuyến hàng hải chiến lược và xây các đảo nhân tạo (trái phép) trên Biển Đông trong các khu vực tranh chấp với nhiều nước láng giềng, trong đó có Việt Nam, nhiều khả năng cũng là một trong các chủ đề hàng đầu tại buổi họp quy tụ các bộ trưởng Quốc phòng ASEAN với các vị tương nhiệm từ Trung Quốc, Hoa Kỳ, Australia và Nhật Bản.

Các vấn đề còn bỏ ngỏ

Chuyến thăm của Mattis diễn ra sau các tuyên ngôn gây sốc từ phía các nhà hành pháp Hoa Kỳ. Phát biểu của Tổng thống Trump trước ĐHĐ/LHQ, diễn văn của Phó tổng thống Pence tại Viện Hudson và trả lời phỏng vấn của Cố vấn an ninh quốc gia Bolton đều chấn động công luận. Cả 3 phát biểu này được giới phân tích coi là những tuyên ngôn rõ ràng của Mỹ về cuộc chiến tranh lạnh mới trên toàn tuyến chống Trung Quốc. Đồng ý là VN không cần chọn giữa Mỹ và Trung Quốc, nhưng để duy trì được một tâm thế độc lập trong trường hợp “trâu bò húc nhau” như thế này, hoàn toàn không đơn giản đối với Hà Nội. Đó là vấn đề thứ nhất.

Vấn đề thứ hai, Hoa Kỳ hiện đang rất quan tâm đến số phận của bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển (COC). Hội nghị các bộ trưởng Quốc phòng ASEAN tới đây sẽ diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc và ASEAN hồi tháng 8/2018 đã đồng ý về dự thảo của COC. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng, thời gian tới đây, vẫn chưa thể tiến tới một thỏa thuận rốt ráo. Người đứng đầu Lầu Năm Góc tuyên bố, ASEAN là trung tâm trong các lợi ích an ninh và duy trì hòa bình tại Ấn Thái Dương. Nhưng với tình trạng “tan đàn xẻ nghé” vừa qua, tổ chức chức khu vực này làm thế nào có thể tìm được một tập hợp cân bằng và đối trọng hữu lý trong cán cân quyền lực đang thay đổi ngày một bất định trong quan hệ Trung—Mỹ?

Vấn đề thứ ba là căng thẳng thương mại Mỹ—Trung leo thang và nguy cơ đụng độ trên Biển Đông giữa các tầu chiến của hai nước lên cao. Đấy là chưa kể, ngày 10/10 vừa qua, Thượng Viện Mỹ đã thông qua đạo luật cắt đứt đường lưỡi bò của Trung Quốc trên Biển Đông. Ngoài ra, Hạm đội Thái Bình Dương của hải quân Hoa Kỳ đã đề xuất một loạt các cuộc diễn tập ở eo biển Đài Loan và Biển Đông để chứng minh cam kết của Hoa Kỳ với trật tự quốc tế dựa trên quy tắc và luật lệ. Hạm đội này sẽ tiến hành các hoạt động kéo dài khoảng 1 tuần trong tháng 11 tới để chứng minh khả năng Mỹ có thể đối phó với các kẻ thù tiềm năng một cách nhanh chóng, trên nhiều mặt trận.

Vấn đề thứ tư khá nhậy cảm, đó là các bàn thảo xung quanh đạo luật Chống những kẻ thù của Mỹ thông qua chế tài (CAATSA). Theo đạo luật này, Mỹ sẽ trừng phạt những nước nào mua vũ khí của Nga, trong khi Nga lại là nước cung cấp vũ khí hàng đầu cho Việt Nam. Tuy nhiên, James Mattis đã đề nghị Quốc hội Mỹ đưa Việt Nam và Ấn Độ ra khỏi danh sách các nước bị trừng phạt.

Cuối cùng, sau các chuyến thăm VN của “hai thầy trò” Mattis trong 9 tháng qua và chuyến thăm VN trong hai ngày 16 và 17/10, các yếu tố chiến lược nào trong đối tác toàn diện Mỹ—Việt đã được nâng cấp để VN có thể cùng các đối tác khác của Mỹ trong FOIP nối kết nhau thành một vòng tay lớn? Nói cách khác, liệu VN, một đối tác mới nổi, được cho là đã vượt qua Singapore, trở thành “đối tác tự nhiên nhất” của Hoa Kỳ trong khu vực sẽ có vai trò điều phối như thế nào trong ASEAN trong bối cảnh sang năm VN sẽ làm chủ tịch tổ chức này? Và tới đây, liệu sẽ có hay không một cuộc gặp cấp cao giữa TBT—Chủ tịch Nước Nguyễn Phú Trọng với Tổng thống Donald Trump trong tương lai, nhanh thì vào dịp cuối năm nay, chậm thì đầu năm sau? Tuy nhiên, ngay cả cuộc gặp cấp cao đang đón đợi ấy chắc gì đã giải quyết được một cách dứt điểm các vấn đề còn bỏ ngỏ nói trên!

Đinh Hoàng Thắng

* Tác giả nguyên là Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, hiện là Phó Viện trưởng — Giám đốc Đối ngoại của Viện các vấn đề phát triển (VIDS) thuộc VUSTA.

(VOA)

Phạm Chí Dũng - Vụ tống xuất Mẹ Nấm có liên quan EVFTA?


Đã có một sự trùng hợp kỳ lạ giữa vụ chính quyền độc đảng ở Việt Nam tống xuất tù nhân lương tâm Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh sang Mỹ và việc Ủy ban châu Âu thông qua hai thỏa thuận về thương mại và đầu tư EU - Việt Nam tại Bỉ: cả hai sự kiện này đều xảy ra vào buổi trưa ngày 17 tháng Mười năm 2018.

Mẹ Nấm và gia đình được chào đón tại phi trường quốc tế IAH, Houston.
Trùng hợp ngẫu nhiên hay lại đổi chác?

Đúng giữa trưa.

Trùng hợp ngẫu nhiên chăng?

Có thể xem là ngẫu nhiên, nếu đã chưa từng tồn tại, chính sách bất thành văn ‘đổi nhân quyền lấy thương mại’ của chính quyền Việt Nam. Thậm chí, chính sách này đã tồn tại một cách dày đặc và có hệ thống từ những năm 2000 sau khi bình thường hóa hoàn toàn quan hệ với Hoa Kỳ và bắt đầu ký Hiệp định song phương thương mại Việt - Mỹ, cho đến năm 2006 khi Việt Nam được Mỹ chấp thuận cho tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO), sau đó là giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016 khi Việt Nam kỳ vọng được Mỹ cho tham gia vào hiệp định TPP…

Trong suốt thời gian trên, ‘bản lĩnh và trí tuệ của đảng’ đã tiến hóa đến mức luôn chọn cách thả tù nhân lương tâm - những người bất đồng chính kiến - để đổi lấy những lợi ích thương mại mà cộng đồng quốc tế dành cho chế độ này. Đặc biệt vào năm 2014, đã có đến 12 tù nhân chính trị được trả tự do để mưu tính đổi chác TPP.

Còn bây giờ, khi TPP đã trở nên nỗi thất vọng không sao hiểu nổi, chỉ còn lại EVFTA (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - châu Âu), mà khoảng thời gian tháng Mười và Mười Một năm 2018 sẽ quyết định số phận được ký hay không đối với nó, và nếu được ký thì khoảng thời gian trước tháng Năm năm 2019 sẽ quyết định số phận EVFTA có được Nghị viện châu Âu phê chuẩn hay không.

Không khí điều trần ngày 10/10 ra sao?

Từ giữa năm 2018, trùng với hoạt động của một nhóm chuyên gia của Liên minh châu Âu (EU) đến Việt Nam để kiểm tra lại tiến trình Việt Nam thực hiện những yêu cầu của EU về ‘thẻ vàng hải sản’ của EU, Ủy ban Thương mại quốc tế châu Âu đã bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc họp quan trọng về điều trần EVFTA - nhân quyền tại Brussels, Bỉ sẽ diễn ra vào tháng Mười năm 2018. Cũng từ thời điểm đó, chính quyền Việt Nam đã khởi động một chiến dịch vận động vừa công khai vừa ngầm kín để EVFTA được Ủy ban Thương mại quốc tế châu Âu ký chính thức và đệ trình hiệp định này lên Nghị viện châu Âu để phê chuẩn cuối cùng.

Đó cũng là lúc bắt đầu có tin Như Quỳnh có thể được tự do.

Ngay sau khi Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được tự do, một bản tường trình của Mạng lưới blogger Việt Nam - tổ chức xã hội dân sự độc lập mà Như Quỳnh đã tham gia ngay từ ngày đầu - cho biết chính quyền Việt Nam đã thông báo với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ từ tháng Bảy năm 2018 về việc sẽ trả tự do cho Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, nhưng chưa biết vào thời điểm nào.

Cũng theo bản tường trình trên, từ tháng Bảy đến tháng Mười năm 2018, có ít nhất vài lần phía chính quyền Việt Nam thông báo cho Mỹ là ‘sẽ thả Nguyễn Ngọc Như Quỳnh’ vào một ngày xác định, nhưng ngay sau đó đã thất hứa.

Lời hứa có giá trị duy nhất của phía Việt Nam là lần hứa cuối cùng được đưa ra vào ngày 11/10/2018: sẽ thả Nguyễn Ngọc Như Quỳnh vào ngày 17/10/2018.

Vì sao lại có thái độ ‘thiện tâm’ đến thế từ phía nhà cầm quyền Việt Nam?

Nếu biết rõ rằng từ trước tới nay chưa từng có một trường hợp tù chính trị - bất đồng chính kiến nào được chính quyền Việt Nam giang tay phóng thích mà không có lý do đủ sâu xa; và Nguyễn Ngọc Như Quỳnh - một người hoạt động nhân quyền quá nhiệt thành và bằng nhiều bài viết phản biện lẫn tố cáo của mình đã giúp cho người dân miền Trung để phản đối thảm họa xả thải của nhà máy Formosa, người mà vào đầu năm 2017 đã được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh tặng danh hiệu ‘Người phụ nữ can đảm thế giới’, cũng là người mà đã bị chính quyền Việt Nam thâm thù sâu sắc đến độ giáng cho cô cái án tù giam đến 10 năm trời, thì càng không thể xảy ra chuyện tự nhiên nà cầm quyền trả tự do cho cô.

Không biết vô tình hay hữu ý, ngay trước ngày 11/10 trên là ngày 10/10 - thời điểm mà Ủy ban Thương mại quốc tế châu Âu tổ chức phiên điều trần EVFTA - nhân quyền, với sự tham gia của Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam là Thứ trưởng Bộ công thương Trần Quốc Khánh. Trong buổi điều trần này, đoàn đàm phán Việt Nam đã hoàn toàn thất bại khi không thể chứng minh được là Việt Nam đã ‘cải thiện nhân quyền’ như thế nào, càng cho thấy Việt Nam đã chẳng thèm quan tâm đến các yêu cầu về cải thiện nhân quyền do EU đòi hỏi như Việt Nam phải ký 3 công ước quốc tế về lao động liên quan đến các quy định của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), vấn đề nhân quyền và vấn đề môi trường.

Trong cuộc họp trên, điều mà những người tham gia đặt câu hỏi muốn biết là Việt Nam sẽ làm gì để cải thiện nhân quyền; kế hoạch cụ thể để cải thiện nhân quyền là gì; Việt Nam cần thể hiện bằng hành động để chứng minh sẽ và có thể thực hiện các cam kết. Ngoài ra cũng yêu cầu rằng 3 công ước còn lại của ILO cần phải được Việt Nam ký chính thức trước khi EU bỏ phiếu chấp thuận EVFTA.

Một người tham dự cuộc họp là bà Granwander Hainz đã chỉ thẳng ra rằng những lời hứa về ILO của Việt Nam chỉ là lời hứa suông từ trước giờ vì chưa có gì được thực hiện, cũng như các cam kết về nhân quyền chỉ toàn có tiêu đề mà không có nội dung cụ thể.

Thậm chí bà Maria Arena thuộc đảng Xã Hội của Vương quốc Bỉ, là thành viên của Nghị Viện Liên Âu còn nói thẳng: “Năm nay là năm 2018, từ năm 2012-2018 chúng tôi nhận thấy các tiêu chí về quyền Nghiệp đoàn và nhân Quyền của Việt Nam vẫn chưa tiến bộ một cách đầy đủ. Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể chờ thêm 6 tháng nữa để Việt Nam thực hiện lời hứa. Nhưng không chỉ là lời hứa mà là sự đảm bảo, ngay cả trước khi Nghị Viện Liên Âu phê chuẩn hiệp định này. Nghị viện Liên Âu cần Việt Nam có những chỉ dấu tích cực chứ không chỉ là lời hứa. Chúng tôi có thể cho thêm thời gian, nhưng thời gian đó phải được Việt Nam sử dụng để có những hành động cho thấy được sự nỗ lực của họ”.

Vụ tống xuất Mẹ Nấm có liên quan EVFTA?

Sau ngày 10/10, một sự kiện ‘ngoài lề’ khác đã diễn ra chuyến công du của thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đến hai nước thuộc EU là Áo và Bỉ.

EVFTA là lợi ích kinh tế quá thiết thân đối với sự tồn tại của ngân sách và cũng là của chế độ độc đảng ở Việt Nam. Trên danh nghĩa là dự Hội nghi cấp cao ASEM lần thứ 12 và Hội nghị P4G, nhưng rất có thể Nguyễn Xuân Phúc nhắm đến mục tiêu lớn nhất trong chuyến đi châu Âu lần này là thuyết phục bằng được - nếu không phải là Ủy ban Thương mại quốc tế châu Âu thì cũng là một số nước trong EU - để ‘sớm ký kết và triển khai EVFTA’.

Hai sự trùng khớp về thời điểm ‘sẽ thả Nguyễn Ngọc Như Quỳnh’ và ‘Nguyễn Ngọc Như Quỳnh lên máy bay’ với sự khởi đầu và sự kết thúc của cuộc họp Ủy ban Thương mại quốc tế châu Âu vào ngày 17/10 có thể hé lộ một bí mật: sau khi không đáp ứng được bất kỳ yêu cầu nào của EU về cải thiện nhân quyền và nhận thấy rõ là chính vì nguồn cơn đó mà sẽ khiến EVFTA không thể được ký kết lẫn thông qua, chính quyền Việt Nam đã giở ra con bài dự trữ tiềm năng là ‘thả Mẹ Nấm’ - mặc dù trường hợp của Quỳnh được xem là một ‘ca’ của người Mỹ, do chính phủ Mỹ đòi hỏi chứ không phải do yêu cầu của EU.

Câu trả lời từ Việt Nam cho EU!

Không chỉ thả Nguyễn Ngọc Như Quỳnh để lấy lòng Mỹ và EU, đặc biệt nhằm thuyết phục Ủy ban châu Âu làm tờ trình cho Hội đồng châu Âu về hai thỏa thuận trong EVFTA, rất có thể chính quyền Việt Nam đã phải giở thêm một con át chủ bài mà trước đó chẳng bao giờ họ muốn đặt lên bàn: hứa hẹn ký 3 công ước quốc tế về quyền lao động mà EU đòi hỏi.

Hẳn đó là cơ sở để “Chúng tôi đang bàn về chuyện này một công khai với những người tương nhiệm của phía Việt Nam và thỏa thuận thương mại sẽ không làm cho Việt Nam bỗng chốc trở thành một nền dân chủ. Nó là một công cụ trong hộp công cụ mà chúng tôi có trong quan hệ với Việt Nam và các nước khác” - Trưởng đặc trách thương mại EU Cecilia Malmstrom nói trong một cuộc họp báo, được đài VOA đưa tin. Theo đó, “các bên đã nhất trí về một thỏa thuận liên quan để thúc đẩy dân chủ và nhân quyền, bao gồm các cam kết, đối thoại và các chế tài khả dĩ”.

Đã khá rõ rằng vụ thả Nguyễn Ngọc Như Quỳnh có liên quan đến lợi ích EVFTA của chính quyền Việt Nam. Hành động này còn có thể kéo theo một chuỗi hành động khác trong thời gian tới: chính quyền Việt Nam buộc phải thả tiếp một số tù nhân lương tâm và ký 3 công ước quốc tế về quyền lao động mà EU yêu cầu.

Tuy nhiên, như bà Granwander Hainz đã đi guốc thấu cáy trong bụng chính thể cộng sản ở Việt Nam khi chỉ thẳng ra rằng những lời hứa về ILO của chế độ này chỉ là lời hứa suông, cả Ủy ban châu Âu, Hội đồng châu Âu và Nghị viện châu Âu hãy nên tỉnh giấc: chẳng có gì bảo chứng cho lời cam kết ‘sẽ cải thiện nhân quyền’ của chính thể độc đảng ở Việt Nam. Bằng chứng về thái độ hai mặt đó đã tích tụ quá nhiều kể từ năm 2013 khi Việt Nam được chấp nhận là thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc: nhà cầm quyền Việt Nam vẫn liên tiếp truy bắt, bỏ tù hàng trăm nhà hoạt động nhân quyền bằng những điều luật cực kỳ mơ hồ và ngụy tạo.

Chính quyền Việt Nam thậm chí còn thoải mái ký kết Công ước quốc tế về chống tra tấn, để ngay sau đó hàng năm cứ liên tiếp xảy ra quá nhiều cảnh công an đánh đập dã man người hoạt động nhân quyền và người dân biểu tình, quá nhiều cảnh công dân phải ‘tự chết’ trong đồn công an, trong đó số trường hợp các nhân viên công an bị phát hiện đã tra tấn đến chết người dân lại quá hiếm hoi.

Chỉ một ngày sau khi Ủy ban châu Âu làm tờ trình cho Hội đồng châu Âu về EVFTA và được Thủ tướng Phúc hân hoan thông báo ‘tin mừng’ cho toàn bộ giới quan chức, một ‘tòa án nhân dân’ ở Việt Nam đã có câu trả lời cho EU khi xử phúc thẩm nhà hoạt động nhân quyền Lê Đình Lượng và y án với mức án 20 năm tù giam!

Phạm Chí Dũng

(Blog VOA)

Jonathan Tepperman - Bước nhảy lùi vĩ đại của Trung Quốc


Trong nhiều thập niên, quốc gia này đã xoay xở tránh được phần lớn những vấn đề mà các chế độ độc tài phải chịu đựng. Giờ đây, trò chơi quyền lực cá nhân của Tập Cận Bình có nguy cơ phá hủy mọi thứ đã làm cho Trung Quốc trở nên khác biệt.

Hình minh họa
Trong bốn mươi năm qua, Trung Quốc đã tích cóp được một danh sách dài những thành tựu nổi bật. Từ năm 1978 đến 2013, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng bình quân 10 phần trăm mỗi năm, làm gia tăng mười lần mức thu nhập trung bình của người lao động trưởng thành. Tất cả sự tăng trưởng đó đã giúp khoảng 800 triệu người thoát ra khỏi đói nghèo; trong quá trình này Trung Quốc cũng giảm được 85 phần trăm mức tử vong của trẻ sơ sinh và nâng tuổi thọ bình quân thêm 11 năm.

Đáng kinh ngạc là Trung Quốc đã đạt được những thành tựu như vậy trong khi chính phủ nước này vẫn rất hà khắc về chính trị - chuyện chưa hề có tiền lệ trong lịch sử và rất, rất khó thực hiện, theo lý thuyết chính trị. Vậy nên, không có gì lạ khi nhà nghiên cứu Trung Quốc Orville Schell miêu tả thành tích này như là “một trong những phép lạ gây sửng sốt nhất về phát triển kinh tế trong lịch sử thế giới”.

Phẩm chất kỳ diệu của những thành tựu của Trung Quốc làm cho những gì đang xảy ra ở đất nước này ngày hôm nay trở nên hết sức bi thảm – và gây hoang mang. Dưới vỏ bọc chống tham nhũng, chủ tịch Tập Cận Bình đang từng bước xóa bỏ hầu như mọi cuộc cải cách đã làm cho Trung Quốc đạt được sự tăng trưởng ngoạn mục trong bốn thập kỷ qua. Thay cho một hệ thống dù khiếm khuyết nhưng cực kỳ thành công, ông ta đã dựng lên một sự sùng bái cá nhân to lớn chỉ tập trung vào cá nhân ông ta, ông ta thâu tóm mọi quyền hành vào tay mình hơn bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào kể từ thời Mao Trạch Đông.

Trong ngắn hạn, những nỗ lực của Tập có thể làm cho Trung Quốc bớt tham nhũng và ổn định hơn. Nhưng bằng việc hủy diệt nhiều cơ chế đã giúp cho phép lạ Trung Quốc có thể xảy ra, có nguy cơ Tập sẽ đảo ngược những kết quả ấy và biến Trung Quốc thành một nhà nước cảnh sát khác nữa (hãy nghĩ tới một phiên bản Bắc Triều Tiên khổng lồ và cởi mở hơn): không có hiệu quả, vô tích sự, dễ đổ vỡ và hiếu chiến. Và đó là điều đáng lo không chỉ cho 1,4 tỉ người Trung Quốc mà cho tất cả chúng ta.

Để hiểu điều gì đang làm cho chiến dịch xây dựng đế quốc cá nhân của Tập trở nên nguy hiểm như thế, trước hết cần hiểu những gì đã làm cho Trung Quốc trở nên phi thường trong thời gian dài như vậy. Xuyên suốt lịch sử hiện đại, đa số các nhà độc tài và các nhà nước độc đảng đều có chung một số đặc điểm căn bản. Quyền lực nằm trong tay của một nhóm nhỏ các cá nhân. Để giữ quyền lực, các cá nhân này đàn áp những người bất đồng và cai trị bằng sự đe dọa. Bởi vì đám công chức quan liêu và dân chúng sống trong sợ hãi, họ cạnh tranh nhau để bợ đỡ các ông chủ. Không ai nói lên sự thật, nhất là khi sự thật ấy làm cho họ và các lãnh đạo của họ trông xấu xí đi. Kết quả là, các bạo chúa tự cô lập – mà cái tôi của họ được thổi phồng lên bằng những lời xu nịnh thường xuyên và khúm núm – tự thấy mình ngày càng xa rời thực tế, xa rời phần còn lại của thế giới (hãy nghĩ tới Kim Jong Un, Bashar al-Assad hoặc Robert Mugabe) và rốt cuộc họ cai trị một cách tùy hứng, cai trị theo bản năng với rất ít ý thức về những gì đang thật sự xảy ra ở đất nước họ. Tác động của sự ngu muội này đối với chính sách đối nội và đối ngoại thật là thảm họa.

Trong khoảng 35 năm – tính từ khi Mao chết và Đặng Tiểu Bình phát động các cuộc cải cách của ông ta vào cuối thập niên 1970 cho đến khi Tập lên nắm quyền năm 2012 – Trung Quốc đã tránh được nhiều cạm bẫy kiểu này và đi ngược lại quy luật về các chuẩn mực chính trị bằng cách xây dựng cái mà các học giả gọi là chế độ “độc tài thích nghi” (adaptive authoritarian). Trong khi vẫn duy trì chủ nghĩa cộng sản trên danh nghĩa, Trung Quốc đã tiếp thu nhiều hình thức của chủ nghĩa tư bản thị trường và một số cuộc cải cách tự do khác. Tất nhiên, hệ thống cũ vẫn có tính đàn áp cao độ (hãy nhớ vụ thảm sát Thiên An Môn) và còn xa mới hoàn hảo xét về nhiều phương diện. Tuy vậy, nó cho phép chính phủ Trung Quốc thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả phi thường và tránh được nhiều chứng bệnh mà các chế độ độc tài khác mắc phải. Chế độ kiểm duyệt chẳng hạn, chưa bao giờ biến mất, nhưng các đảng viên Cộng sản có thể không tán thành và tranh luận các ý tưởng, còn các báo cáo nội bộ đôi khi tỏ ra thẳng thắn một cách đáng ngạc nhiên.

Không còn như vậy nữa. Ngày nay, Tập đang hủy hoại một cách có hệ thống hầu như mọi phương diện từng làm cho Trung Quốc trở nên khác biệt, từng giúp Trung Quốc hoạt động tốt như thế trong quá khứ. Những nỗ lực của ông ta có thể làm gia tăng quyền lực và uy tín của ông ta trong ngắn hạn, làm suy giảm một số hình thức tham nhũng. Tuy nhiên, cân nhắc kỹ, chiến dịch của Tập sẽ có những hệ quả thảm khốc trong dài hạn cho đất nước ông ta và cho cả thế giới.

Có lẽ đặc trưng bất thường nhất của hệ thống mà Đặng tạo ra là cách phân bổ quyền lực cho nhiều nhà lãnh đạo. Thay vì để một người thực hành uy quyền tối cao, như phần lớn các chế độ độc tài, Đặng phân chia quyền lực cho tổng bí thư đảng (người cũng thường nắm vị trí chủ tịch đảng), thủ tướng chính phủ và bộ chính trị.

Đặng hy vọng một hệ thống như vậy sẽ bảo đảm không một cá nhân nào có thể tái thâu tóm kiểu quyền lực mà Mao từng có – bởi vì quyền lực không kiểm soát của Mao đã dẫn tới những sai lầm và lạm dụng khủng khiếp, chẳng hạn như các công cuộc Đại Nhảy vọt (trong đó ước tính khoảng 45 triệu người đã chết) và Cách mạng Văn hóa (trong đó bản thân Đặng đã bị thanh trừng và con trai của ông ta bị tra tấn tàn khốc tới mức anh ta trở thành bại liệt). Như ông Bùi Mẫn Hân (Minxin Pei), chuyên gia về Trung Quốc tại đại học Claremont McKenna College, giải thích, mô hình lãnh đạo tập thể mà Đặng thiết kế đã giúp loại bỏ những ý tưởng xấu và thúc đẩy những ý tưởng tốt bằng cách đề cao sự cân nhắc cẩn thận mà không khuyến khích việc mạo hiểm.

Từ khi lên nắm quyền năm 2012, Tập đã ra sức dỡ bỏ hệ thống lãnh đạo tập thể ở một số phương diện. Trước hết, nhân danh đấu tranh với tham nhũng – một mục tiêu quan trọng mà Trung Quốc đang rất cần – ông ta đã thanh trừng một số lượng lớn quan chức mà tội lỗi thật sự của họ, dưới cái nhìn của Tập, là không thể hiện đầy đủ lòng trung thành với nhà lãnh đạo tối cao. Mạnh Hoành Vĩ (Meng Hongwei), chủ tịch Interpol (Cảnh sát quốc tế), người bị Trung Quốc đột ngột bắt giam hai tuần trước, chỉ là một trường hợp nổi bật nhất và mới nhất; câu chuyện của ông ta là hết sức bất thường.

Trong vòng 6 năm qua, có 1,34 triệu quan chức bị biến thành mục tiêu – một con số gây sửng sốt, và hơn 170 nhân vật lãnh đạo ở cấp bộ trưởng hoặc thứ trưởng bị bãi nhiệm (đa số bị cầm tù). Cảnh ngộ của Mạnh, cũng giống cảnh ngộ của Bạc Hy Lai (Bo Xilai) – bí thư thành ủy đầy quyền lực của thành phố Trùng Khánh, bị hạ bệ năm 2012 – chứng tỏ rằng không ai được miễn nhiễm với sự trừng trị của Tập. Thật vậy, từ năm 2012 đến nay số ủy viên ban chấp hành trung ương đầy quyền lực của đảng Cộng sản bị thi hành kỷ luật còn nhiều hơn cả thời kỳ dài từ cuộc Cách mạng Cộng sản tới năm ấy.

Không hài lòng với việc chỉ xóa bỏ mọi sự cạnh tranh, Tập còn củng cố quyền lực bằng việc bãi bỏ giới hạn nhiệm kỳ đối với chức vụ của ông ta và từ chối đề cử một người kế vị, như những người tiền nhiệm của ông ta vẫn làm vào giữa thời gian cầm quyền của họ. Ông cũng đưa “Tư tưởng Tập Cận Bình” vào vị thế trang trọng trong hiến pháp Trung Quốc (một vinh dự mà chỉ Mao và Đặng có được); thâu tóm quyền kiểm soát trực tiếp các lực lượng vũ trang, tự biến mình thành “chủ tịch của mọi thứ” bằng cách tạo ra một số lượng lớn các nhóm hoạt động về chính sách, trải rộng từ tài chính đến vấn đề Đài Loan và an ninh mạng – tất cả đều báo cáo trực tiếp cho ông ta.

Một phương diện quan trọng thứ hai của hệ thống cũ là quan chức các cấp đều có thể kỳ vọng được thăng thưởng nếu có thành tích tốt. Đây không hoàn toàn là chế độ nhân tài, và hệ thống vẫn đầy sự tham nhũng và sự bảo trợ đỡ đầu. Nhưng cả hai khía cạnh này thực sự đã phục vụ một sự nghiệp chung ở một điểm chủ yếu: nếu một công chức làm tốt công việc của mình, anh ta hoặc chị ta có thể hy vọng có được một phần thành quả và được thăng tiến đều đặn. Ông Tập trái lại, đã “thay thế hệ thống dựa trên sự khích lệ bằng hệ thống dựa trên sự sợ hãi” như nhận định của ông Bùi. Và sự chuyển dịch này kéo theo hai vấn đề lớn. Trước hết, nó làm méo mó những ưu tiên của quan chức, từ ưu tiên cho kết quả làm việc sang ưu tiên cho việc thể hiện lòng trung thành. Vấn đề thứ hai, theo Alexander Gabuev, chuyên gia về Trung Quốc tại Trung tâm Carnegie Moscow, là “khi nỗi sợ hãi là tất cả những gì bạn có, công chức trở nên sợ hãi tới mức họ không dám làm gì mà không có mệnh lệnh rõ ràng từ cấp trên. Thế là toàn bộ guồng máy quan chức trở nên thụ động. Không việc gì được hoàn thành cả”.

Một tài sản có liên quan của hệ thống cũ là cách thức mà nó khuyến khích chính quyền các địa phương - ở cấp làng xã, quận hạt và tỉnh thành – thử nghiệm các sáng kiến mới, từ công cuộc xây dựng thị trường tự do bốn mươi năm về trước đến cho phép sở hữu tư nhân về đất đai trong thời gian gần đây. Những cuộc thử nghiệm như vậy đã biến Trung Quốc thành một đất nước có hàng trăm phòng thí nghiệm chính sách, cho phép nó thử nghiệm những giải pháp khác nhau cho nhiều vấn đề theo những cách thức an toàn, lặng lẽ và ít rủi ro trước khi quyết định có nên áp dụng đại trà hay không. Hệ thống này đã giúp Bắc Kinh tránh được những quyết định phi lý và những sai lầm thảm họa mà nó đã từng có dưới thời Mao – chẳng hạn như trong thời kỳ Đại Nhảy vọt những năm 1958-1962, các quan chức kế hoạch ở trung ương nhấn mạnh rằng nông dân Tây Tạng phải trồng lúa mì bất chấp thực tế khu vực núi cao đất đai cằn cỗi hoàn toàn không phù hợp với loại cây trồng đó.

Tất nhiên, Bắc Kinh đã chấp nhận một mức độ tự trị nào đó để cho phép các quan chức địa phương được thử nghiệm những điều mới mẻ. Ông Tập, trái lại, có vẻ như nhìn những lối suy nghĩ độc lập ấy như là những mối đe dọa không tha thứ được. Theo mệnh lệnh của ông, chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu ngăn chặn những chương trình thử nghiệm quy mô nhỏ. Sebastian Heilmann của trường đại học Trier của Đức dự tính số lượng các cuộc thử nghiệm ở cấp tỉnh đã giảm từ mức 500 cuộc năm 2010 xuống còn khoảng 70 cuộc năm 2016 và có lẽ đã giảm nhiều hơn nữa kể từ lúc ấy. Thay vào đó, một lần nữa các chính sách lại được ban bố từ trên đỉnh, với rất ít sự quan tâm tới các điều kiện của địa phương.

Một ví dụ mới nhất: Cũng như ngành công nghiệp công nghệ Trung Quốc khét tiếng về ăn cắp và áp dụng các sáng tạo của nước ngoài, các quan chức Trung Quốc từ lâu đã làm điều tương tự trong lĩnh vực chính sách; họ nghiên cứu cẩn thận những gì được thực thi ở các nước khác rồi áp dụng những bài học ấy vào trong nước. (Ví dụ tốt nhất cho sự bắt chước này tất nhiên chính là công cuộc xây dựng xây dựng thị trường tự do ở Trung Quốc, theo các mô hình của Nhật Bản, Đài Loan và Hoa Kỳ). Giống như đối với những sáng kiến khác của ông Đặng, ông Tập cũng đã cắt xén thực tế này bằng cách làm cho các quan chức cấp tỉnh thành khó tương tác với người nước ngoài hơn. Năm 2014, chính quyền bắt đầu tịch thu hộ chiếu của công chức. Cũng như nhiều hạn chế khác được chính phủ thực thi gần đây, động thái này được biện minh nhân danh cuộc đấu tranh chống tham nhũng – nhìn bề ngoài, ý tưởng tịch thu hộ chiếu là để ngăn chặn các quan chức ăn bẩn chạy ra khỏi nước. Nhưng thực tế là chính sách này gần đây đã được mở rộng xuống cả các giáo viên tiểu học, và được tăng cường bằng những sự hạn chế liên quan khác – giờ đây các quan chức phải xin phép mới được tham dự các cuộc họp và hội nghị với nước ngoài và phải báo cáo về thời gian ở nước ngoài theo từng tiếng đồng hồ một – cho thấy rằng ưu tiên thật sự là giới hạn sự tiếp xúc với người nước ngoài và các ý tưởng của họ.

Cuộc đàn áp của Tập có ý nghĩa gì cho tương lai của Trung Quốc và cho chúng ta? Trong khi cần luôn luôn cẩn trọng khi dự đoán sự thất bại của Trung Quốc – như lịch sử tóm tắt ở trên cho thấy quốc gia này rất giỏi trong việc tìm đường đi tránh những vấn đề mà về lý thuyết sẽ kìm hãm nó – thật khó để tránh cái kết luận u ám rằng nước Trung Quốc của Tập đang nhanh chóng trở nên ít khác thường hơn và giống một nhà nước cảnh sát điển hình hơn.

Trên bình diện nội trị, việc hoạch định chính sách của Bắc Kinh đã trở nên ít linh hoạt và nhanh chóng. Không khó tìm những ví dụ cho lối tiếp cận cứng nhắc hơn, cũng như những mặt tiêu cực của nó. Cứ xem trong mùa đông vừa qua, khi chính phủ bắt buộc các hệ thống cung cấp hơi sưởi ấm trên toàn quốc phải chuyển đổi ngay lập tức từ chạy bằng than sang chạy bằng khí đốt. Điều này nghe có vẻ khôn ngoan ở một đất nước bị ô nhiễm như Trung Quốc. Nhưng mệnh lệnh được thi hành một cách bất ngờ trên khắp nước, không có ngoại lệ. Thế là ở miền Bắc lạnh giá của Trung Quốc, nhiều lò đốt bằng than bị dỡ bỏ trước khi các lò đốt bằng khí gas được lắp đặt – khiến cho nhiều thị trấn hoàn toàn không có hơi ấm để sưởi, dân chúng bị buộc phải đốt cùi bắp để sinh tồn.

Nếu Trung Quốc tiếp tục đi theo con đường hiện hành thì sẽ có thêm rất nhiều trường hợp mà những chính sách với ý định tốt được thực hiện một cách vội vã và vụng về, dẫn tới nhiều hậu quả tai hại hơn rất nhiều. Bởi vì các chế độ độc tài cá nhân rất kém cỏi trong việc thừa nhận lỗi lầm – không được phép làm gì, nói gì có hại cho huyền thoại về lãnh đạo toàn năng – Trung Quốc sẽ có khả năng trở nên kém linh hoạt trong việc sửa chữa những sai lầm một khi nó đã gây ra. Hoặc trong việc đối mặt với những vấn đề tiềm ẩn đang kéo nền kinh tế xuống, chẳng hạn như sự phụ thuộc nặng nề vào các doanh nghiệp nhà nước kềnh càng và không hiệu quả - bộ phận doanh nghiệp đã trở nên to lớn hơn, nhiều quyền lực hơn kể từ khi Tập lên cầm quyền; mức nợ công cao một cách nguy hiểm, đặc biệt là nợ của các chính quyền địa phương; và một xu hướng ứng phó với mỗi vụ suy giảm kinh tế bằng cách bơm thêm tiền vào hệ thống, nhất là cho các dự án hạ tầng cơ sở không cần thiết. Trong thực tế, Trung Quốc không chỉ không có khả năng xử lý bất kỳ khuyết điểm nào trong các khuyết điểm này, mà nó còn có vẻ làm cho tình hình tệ hại thêm. Đó chính là điều mà Trung Quốc đã làm vào ngày 7 tháng 10, khi ngân hàng trung ương Trung Quốc công bố thêm một chương trình kích thích tốn kém khác nữa: kế hoạch chi ra 175 tỉ đô la nhằm vực dậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Với mỗi động thái phá vỡ ngân sách mới, và trong hoàn cảnh không có sự cải cách, khả năng Trung Quốc phải trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế gây bất ổn nghiêm trọng – mà những nhà đầu tư có cái nhìn bi quan về Trung Quốc như Ruchir Sharma, phụ trách khối các thị trường đang nổi lên của Morgan Stanley từng cảnh báo nhiều năm trước – sẽ tiếp tục tăng lên. “Vấn đề lớn là liệu có thể một trong những quả bom hẹn giờ - nợ xấu, thị trường bất động sản quá nóng, doanh nghiệp nhà nước phình to lên – sẽ bùng nổ hay không”, Gabuev nói. “Do sự tập trung quyền lực của ông Tập nên không có ai nói cho ông ta những lời cảnh báo trước nếu một trong những quả bom này sắp nổ. Và bởi vì ông ta không thật sự hiểu biết rõ về kinh tế vĩ mô, còn mọi người thì ngại không dám nói ngược với hoàng đế cho nên có một rủi ro rất lớn là ông ta sẽ quản trị sai lầm khi nó xảy ra”. Thật vậy, sự ứng phó của chính phủ Trung Quốc trước bất kỳ sự bất ổn nào đều có vẻ thật ngu ngốc. Như Schell giải thích: “Tập đã thực sự đưa Trung Quốc vào rủi ro rất lớn. Và bởi vì công cụ duy nhất của ông ta là đàn áp, nếu sự việc diễn biến theo chiều hướng xấu, rất có thể chúng ta sẽ thấy thêm nhiều cuộc trấn áp nữa”.

Những dự báo như vậy làm cho mọi người lo lắng. Trung Quốc là nền kinh tế lớn nhất thế giới về một số mặt, cho nên nếu nó sụp đổ, cả hành tinh này sẽ phải trả giá. Nhưng lịch sử của các chế độ độc tài khác, chẳng hạn như nước Nga của Vladimir Putin hoặc Bắc Hàn của dòng họ Kim, cho thấy trò chơi quyền lực không ngừng nghỉ của Tập có thể sinh ra nhiều hệ lụy tệ hại hơn nữa. Từ khi nắm được quyền lực, Tập đã vạch ra một chính sách đối ngoại hiếu chiến hơn rất nhiều so với những người tiền nhiệm của ông ta, đã làm hầu như mọi nước láng giềng và cả Hoa Kỳ xa lánh, bằng việc đẩy mạnh đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông, đe dọa Đài Loan, và dùng sức mạnh quân sự để hậu thuẫn cho các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh ở các quần đảo tranh chấp.

Nếu như các vấn đề kinh tế của Trung Quốc trở nên tồi tệ, Tập có thể thử gia tăng căng thẳng ở những mặt trận này nhằm lôi kéo người dân ra khỏi cuộc khủng hoảng trong nước. Sự cám dỗ của hành vi đó tỏ ra mạnh mẽ đặc biệt nếu tổng thống Donald Trump của Hoa Kỳ tiếp tục chọc ngoáy Trung Quốc bằng việc tăng cường chiến tranh thương mại và công khai phê phán Trung Quốc.

Ông Bùi cảnh báo tình hình còn có thể đáng sợ hơn nếu những vấn đề kinh tế của Trung Quốc hoàn toàn vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Trong trường hợp đó, nhà nước Trung Quốc có thể sụp đổ - kết cục điển hình của các chế độ độc tài điển hình khi đối mặt với các cú sốc kinh tế, với các mối đe dọa từ bên ngoài (đặc biệt là từ một thất bại trong chiến tranh) hoặc với sự nổi loạn của dân chúng – nhưng là một sự sụp đổ, mà do kích thước khổng lồ của Trung Quốc, có thể sinh ra những hậu quả cực kỳ khủng khiếp.

Đó là lý do tại sao tất cả chúng ta nên hy vọng rằng Trung Quốc bằng cách nào đó một lần nữa sẽ tìm được con đường vượt qua lực hút chính trị và tiếp tục là một ngoại lệ đối với mọi quy luật – bất chấp những nỗ lực đang tiến hành của ông Tập nhằm làm cho Trung Quốc trở nên bình thường theo ý nghĩa tệ hại nhất của từ này.

Jonathan Tepperman


Huỳnh Hoa dịch

(*) Jonathan Tepperman là tổng biên tập tạp chí Foreign Policy.

(Viet-studies)

Phạm Chí Dũng - Vì sao Quốc hội vừa khai mạc lại bầu ‘tân chủ tịch nước’?


“Việc làm được hôm nay không để đến ngày mai” (ngạn ngữ).

Nguyễn Phú Trọng và cơ hội được "nhất thể hóa" do ông Trần Đại Quang qua đời.
Bất thường và trái thông lệ

Chỉ ba tuần sau cái chết bất ngờ và đáng nghi vấn của quan chức mới ngồi ghế chủ tịch nước được hơn hai năm là Trần Đại Quang, chưa đầy mười ngày sau Hội nghị trung ương 8 với kết quả ‘nhất thể hóa hai chức danh tổng bí thư và chủ tịch nước’ nhưng được chính Tổng bí thư Trọng biện lý với cử tri rằng đó chỉ là giải pháp ‘tình huống’ - bất chấp khái niệm này không nằm trong quy định nào của hiến pháp Việt Nam, lại có thêm một tin tức thuộc loại ‘nhân sự thần tốc’ khiến cả chính trường quan chức và dư luận xã hội đặc biệt xôn xao: khai mạc vào ngày 22/10/2018, nhưng kỳ họp quốc hội sẽ bàn ngay ‘công tác nhân sự’ cùng động tác bỏ phiếu kín, để sang ngày hôm sau - 23/10 - sẽ công bố ‘tân chủ tịch nước’.

Vì sao ‘tân chủ tịch nước’ - từ quá trình chuẩn bị đến bầu bán và công bố - phải cập rập đến thế?

Động thái chính trị trên là bất thường so với một thông lệ bình thường đã diễn ra tại kỳ họp cuối cùng của Quốc hội sau đại hội 12 của đảng cầm quyền vào năm 2016. Khi đó, Quốc hội khai mạc kỳ họp vào ngày 21/3/2016, trong đó có nội dung ‘bầu chủ tịch quốc hội, chủ tịch nước và thủ tướng chính phủ’. Nhưng phải đến ngày 2/4/2018 - tức hơn mười ngày sau - Trần Đại Quang mới chính thức ra mắt và mới được chính thức nhận cái ghế chủ tịch nước.

Còn vào lúc này, đà tiến công ‘thần tốc, thần tốc, đại thần tốc; thành công, thành công, đại thành công’ cho chức danh tân chủ tịch nước cũng khiến người ta không thể không nhớ lại việc chưa đầy một tuần sau khi Trần Đại Quang từ giã cõi đời, tuổi thọ ngồi ghế thực tế của Quyền chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh đã chỉ ngang bằng với số ngày ngắn ngủi đó, khi một cuộc họp bất thường của Bộ Chính trị vào cuối tháng Chín năm 2018 đã ‘nhất trí cao’ đề cử Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng làm chủ tịch nước, để ngay sau đó là ‘100% Ban chấp hành trung ương’ giới thiệu đồng chí Nguyễn Phú Trọng ra kỳ họp quốc hội để bầu chức danh chủ tịch nước’. Kể từ đó, bà Thịnh gần như ‘biến mất’ - hiện tượng khá tương đồng với hai lần ‘biến mất’ của Trần Đại Quang khi còn sống, vào tháng Tám năm 2017 và tháng Tư năm 2018 khi ông Quang bị đồn đoán quá nhiều về mối quan hệ hữu cơ với ‘sân sau’ Vũ ‘Nhôm’ và cả vài chuyện động trời khác.

Những câu hỏi về ‘tân chủ tịch nước’

Vì sao trường hợp Đặng Thị Ngọc Thịnh được Bộ Chính trị ‘phân công’ làm Quyền chủ tịch nước lại không thể kéo dài tối thiểu 6 tháng hay một năm rồi mới thay bằng ‘tổng bí thư kiêm chủ tịch nước’?

Vì sao ‘tập thể Bộ Chính trị’ và cả Ban chấp hành trung ương không thể kiên nhẫn chờ sau 100 ngày chết hay tối thiểu cũng là đám giỗ 49 ngày của quan chức vắn số Trần Đại Quang rồi hẵng bàn chuyện bầu bán tân chủ tịch nước mới?

Phải chăng có một lý do đặc biệt hay quá nhạy cảm nào đó mà đã khiến ngay tại thời điểm Trần Đại Quang vừa về cõi âm, giới cận thần của Tổng bí thư Trọng như Vũ Mão - cựu chánh văn phòng quốc hội, Nguyễn Đình Hương - cựu phó trưởng ban bảo vệ chính trị nội bộ trung ương, cựu tướng quân đội Nguyễn Quốc Thước, và một người trong giới blogger - Huy Đức - … phải ngay lập tức ồn ào và ráo riết vận động cho phương án ‘tổng bí thư kiêm chủ tịch nước’ và tìm cách định hướng ‘gật’ cho cả 200 ủy viên trung ương cùng 500 đại biểu quốc hội?

Và phải chăng Nguyễn Phú Trọng - phương án nhân sự duy nhất cho chức danh chủ tịch nước đến giờ phút này, chứ không phải những ‘chân gỗ’ hay thủ thuật nghi binh nhân sự như Nguyễn Thiện Nhân, Trần Quốc Vượng, Tòng Thị phóng, Ngô Xuân Lịch - đang khẩn cấp cần đến tính ‘chính danh’ (từ ngữ của blogger Huy Đức), tức trở thành ‘nguyên thủ quốc gia’ để trở nên một cái gì đó trong các chuyến công du đối ngoại?

‘Chính danh’

Có thể lý giải cho chiến dịch ‘thần tốc nhân sự chủ tịch nước’ theo cách: nếu không tổ chức ngay việc bầu bán người thay thế Trần Đại Quang tại kỳ họp quốc hội tháng Mười năm 2018, sẽ phải chờ đến kỳ họp quốc hội tới vào đầu năm 2019.

Nhưng từ tháng Chín năm 2018 đã loáng thoáng có tin về việc Nguyễn Phú Trọng muốn có một chuyến đi Mỹ vào cuối tháng Mười Một cùng năm để gặp Tổng thống Donald Trump, với hai mục đích thương thảo về thương mại song phương và điều đình về quân sự Biển Đông. Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn đối với chuyến đi này chính là việc Trump khác hẳn với người tiền nhiệm là Obama - vị tổng thống đã đặc cách tiếp đón ông Trọng tại Phòng Bầu Dục với các nghi thức dành cho một nguyên thủ quốc gia: Trump lại chẳng cần quan tâm đến đảng trưởng của bất kỳ đảng phái chính trị nào, kể cả đảng Cộng sản Việt Nam, mà chỉ cần biết người mà ông ta tiếp có ‘chính danh’ hay không.

Bằng chứng gần gũi nhất về tính nguyên tắc và thực dụng của Tổng thống Trump là tại Hội nghị thượng đỉnh kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC) vào tháng Mười Một năm 2017 tại Đà Nẵng, Trump đã đến dự nhưng chỉ có cuộc gặp chính thức với nhân vật được xem là số hai (trên danh nghĩa) về quyền lực trong thể chế nhà nước cộng sản ở Việt Nam là Trần Đại Quang, chứ không hề tiếp xúc chính thức với Tổng bí thư Trọng, khiến ngay sau đó tờ báo Nhân Dân - “cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Việt Nam” và được xem là ‘báo ruột’ của ông Trọng - đã đăng một bản tin với tựa đề thật sự kỳ quặc: “Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp; Chủ tịch nước Trần Đại Quang đón, hội đàm; Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hội kiến Tổng thống Hoa Kỳ Đ. Trăm”.

Tựa đề trên đã làm cho người đọc cảm thấy ngay đã có một sự phân chia “quyền lực” rất có chủ ý và cũng rất tỉ mẩn, lục đục giữa 3/4 của “tứ trụ” trong việc tiếp “Trăm” (phiên sang tiếng Anh là Trump).

‘Cơ hội không đến lần thứ hai’


Ngoài động cơ ‘chính danh’ cho chức danh chủ tịch nước, có thể còn một lý do khác không kém quan trọng mà ông Trọng đã nhất quán và quyết liệt tiến hành kể từ sự kiện ông ‘tự cơ cấu’ vào Thường vụ đảng ủy công an trung ương ương vào cuối năm 2016. Đó là việc âm thầm lên kế hoạch về nhân sự cao cấp trong một số vụ việc và tình huống, và triển khai rất nhanh chóng những ý đồ đó: vụ thay Đinh La Thăng bằng Nguyễn Thiện Nhân vào tháng Năm năm 2017, vụ thay Đinh Thế Huynh bằng Trần Quốc Vượng vào tháng Tám năm 2017, và cả vụ ‘tự thay’ vừa diễn ra.

Bài học xương máu đối với giới chính trị gia luôn kèn cựa lục đục và tranh đấu không mệt mỏi với nhau là bàn cờ chính trị sẽ ‘gặp thời một tốt cũng thành công’, nhưng nếu không biết tận dụng, lợi dụng cơ hội và lợi thế để ‘ngồi ngay vào ghế trống’ thì có khi ‘lạc nước hai xe đành bỏ phí’.

Trước khi ‘trở về làm người tử tế’, một Nguyễn Tấn Dũng ‘mạnh vì gạo bạo vì tiền’ cùng quyền thế không khác gì thời ‘Chúa Trịnh, Vua Lê’ đã có quá nhiều cơ hội để cho dù bị xem là ‘tổ sư tham nhũng’ nhưng nếu lá gan của ông ta lớn hơn và biết mị dân hơn, Dũng đã có thể ngồi vào ghế tổng bí thư chứ không phải là một Nguyễn Phú Trọng - trừ chuyện ‘tương đối sạch sẽ’ - vẫn bị coi là lép về về nhiều mặt vào khoảng thời gian đó.

Xem ra ông Trọng đã rút được một phần nào đó bài học sai lầm một đi không trở lại của ông Dũng.

Còn sau Dũng là Quang…

Trong một nền chính trị ‘đâm dao sau lưng’ và một chính trường sắc lẻm tia mắt giết người, cơ hội không đến lần thứ hai. Chẳng có gì bảo đảm là thời thế và cơ hội vẫn như cũ sau mỗi 3 tháng hay nửa năm.

“Việc làm được hôm nay không để đến ngày mai”.
Phạm Chí Dũng
(Blog VOA)

Sức khỏe của TBT Nguyễn Phú Trọng đang có vấn đề gì trước ngày nhậm chức?



Theo Kết luận của Ủy Ban Bảo vệ sức Khỏe Trung ương cho biết,

Sức khỏe của TBT Nguyễn Phú Trọng đang có vấn đề gì trước ngày nhậm chức?



Đăng ký để xem nhiều tin mới nhất tại: goo.gl/kjKkZU

(Tin tức Hàng ngày TV)

Hoa Kỳ giành lại ngôi vị hành đầu nền Kinh tế cạnh tranh nhất


Lần đầu tiên trong 10 năm sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009, Hoa Kỳ đã giành lại vị trí đầu bảng trong danh sách những quốc gia cạnh tranh nhất trên thế giới.

Hình minh họa
Trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu hàng năm công bố ngày 16/10 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Mỹ là quốc gia gần nhất tới biên độ của tính cạnh tranh – chỉ số xếp hạng khả năng cạnh tranh trên thang điểm từ 0 đến 100, The Wall Street Journal đưa tin.

Mỹ đã đánh bại Singapore, Đức, Thụy Sĩ và Nhật Bản, bốn thị trường hàng đầu khác, với số điểm 85,6 trên 100, nhờ vào văn hóa kinh doanh “sôi động” cùng thị trường lao động và hệ thống tài chính “mạnh mẽ”, báo cáo cho biết.

“Báo cáo xếp hạng các quốc gia dựa trên mức độ phù hợp chặt chẽ của họ với lý tưởng cạnh tranh. Nền văn hóa kinh doanh sôi động và vị thế thống trị của Mỹ trong việc tạo ra một thị trường lao động cạnh tranh và hệ thống tài chính linh động” là một trong số các yếu tố góp phần làm cho hệ sinh thái kinh tế đổi mới của Hoa Kỳ trở thành một trong những môi trường kinh tế tốt nhất trên thế giới, tờ TWJ cho hay.

Điểm số của năm quốc gia đứng đầu đều tăng trong năm 2017. Lần gần đây nhất Mỹ đứng đầu danh sách là vào năm 2008.

Năm nay, WEF đã thay đổi phương pháp luận của mình để có thể tính toán một cách chính xác hơn về tính sẵn sàng cạnh tranh trong tương lai, chẳng hạn như các thế hệ ý tưởng, văn hóa kinh doanh và số lượng doanh nghiệp làm gián đoạn thị trường hiện tại của mỗi quốc gia.

Báo cáo của WEF cho biết: “Quá trình phục hồi kinh tế đang diễn tiến thuận lợi, nền kinh tế toàn cầu dự kiến tăng trưởng gần 4% trong năm 2018 và 2019”. Tuy nhiên, báo cáo cũng lưu ý rằng “quá trình phục hồi vẫn dễ bị tổn thương trước một loạt các rủi ro và cú sốc tiềm ẩn”, và cuộc chiến thương mại Mỹ – Tàu là một trong những trở ngại tiềm tàng đó.

Tờ CNBC nhận định, nỗ lực của Tổng thống Donald Trump đang được chứng minh qua những thay đổi rõ nét của nền kinh tế Mỹ trong những năm gần đây với các thành tựu nổi bật nhất từ trước đến nay.

Trong quý 2 vừa qua, GDP của Mỹ tăng trưởng tới 4,2%, cao nhất trong gần 4 năm trở lại đây. Đồng thời, tỷ lệ thất nghiệp chỉ còn 3,9%, chỉ bằng 1/10 so với mức thấp nhất kể từ năm 1969.

Vào thời của Trump, 3,9 triệu người Mỹ tìm được công ăn việc làm đầy đủ. Tính đến hết quý 2 năm nay, quy mô của nền kinh tế Mỹ tăng thêm 1,4 nghìn tỷ USD trong khi cùng giai đoạn dưới thời người tiền nhiệm Obama, kinh tế Mỹ chỉ tăng thêm 481 tỷ USD, tương đương 1/3 mức tăng trưởng trong thời ông Trump nắm quyền, theo CNBC.

Minh Hạnh

(FB Minh Hạnh)

Cuộc sống của Mẹ Nấm bên Mỹ sắp tới sẽ ra sao?


Vậy là 11 giờ trưa nay (11 giờ đêm bên Mỹ) chị Quỳnh cùng mẹ và 2 con nhỏ sẽ đến Houston bang Texas, thành phố nhiều người Việt thứ 2 tại Mỹ . Sau những buổi tiếp đón ban đầu, chị Quỳnh sẽ đối diện với cuộc sống mưu sinh bên Mỹ. Vậy chị Quỳnh sẽ đối diện với nó như thế nào?

Đặt chân đến phi trường Texas (Hoa Kỳ)
Từ hơn chục năm nay, bang Texas đứng đầu trong việc thu nhận dân diện tị nạn chính trị (chiếm hơn 10% tổng số dân tị nạn vào Mỹ). Lý do là tỷ lệ thất nghiệp rất thấp, kinh tế mạnh, đa sắc thái, các cơ sở cung cấp dịch vụ định cư của chính phủ hoàn chỉnh, nhà cửa rẻ, thức ăn đa dạng…

Đầu tiên gia đình chị Quỳnh phải đối mặt về khó khăn ngôn ngữ và khác biệt văn hoá. Gia đình chị sẽ phải học tiếng Anh (Dân Luận: Quỳnh, bà Tuyết Lan và các cháu đều có vốn tiếng Anh nhất định, đây có lẽ không phải trở ngại chính của gia đình). Có thể chị sẽ học tại các chương trình hỗ trợ dành cho người Việt mới qua, hoặc người quen nào đó sẽ dạy chị, đưa chị đi khắp nơi (đi siêu thị, làm giấy tờ, tập đi xe bus...) để chị quen với giao tiếp bằng tiếng Anh. Quá trình này sẽ diễn ra vài tháng, tuỳ thuộc vào chị, miễn chị đừng chỉ giao thiệp trong cộng đồng người Việt. Khi ở Mỹ, tôi đã gặp rất nhiều người dù qua Mỹ hàng chục năm nhưng vẫn không thể giao tiếp được tiếng Anh thông dụng, vì suốt thời gian đó, họ toàn ở trong cộng đồng người Việt, làm những việc đơn giản cho người Việt, đi chợ Việt Nam, ăn đồ Việt Nam, sinh hoạt không khác gì khi ở Việt Nam.

Việc thứ 2 là chị phải tập lái xe. Ở Mỹ không nói được tiếng Anh coi như câm, không lái xe được coi như mất đôi chân. Chị sẽ rất khó làm mọi việc nếu không thể lái xe. Còn trong thời gian đó, chị phải đi xe bus.

Với diện là tị nạn chính trị, gia đình chị lúc đầu sẽ được trợ cấp từ quỹ của Liên Bang (khác với trợ cấp dân thường vốn ở cấp Tiểu Bang). Trợ cấp gồm: tiền mặt + thực phẩm + y tế + giáo dục trong thời gian đầu khoảng 8 tháng đến năm rưỡi. Liên Bang sẽ cấp cho chị tiền mặt (tùy Bang ở, giá cả khác nhau... Cali thì cao nhất, nhưng ở đó sinh hoạt phí, nhà cửa thuê đắt). Vì chị ở Houston, Texas mọi chi phí sẽ rẻ hơn nhiều. Gia đình chị sẽ được lãnh 1500-2000 usd/tháng , để trang trải sinh hoạt (thuê nhà lúc đầu, tiền sinh hoạt)... thêm vào mấy trăm đô tiền tem phiếu (Foods Stamps), và nhất là được bao toàn bộ chi phí Y tế (ở Mỹ rất đắt, nếu là người dân thường phải trả): khám+chữa trị bệnh +mắt…

Sau thời gian đó thì hết. Lúc đó, nếu còn... nghèo (theo chuẩn Mỹ: có mẹ già + 2 con nhỏ, mà khả năng lớn đến lúc đó, sẽ vẫn xếp vào diện nghèo với 4 miệng ăn chị sẽ được hưởng qui chế ở cấp Tiểu Bang, rồi cấp Thành Phố nữa… mẹ chị, khoảng 65 tuổi sẽ được hưởng bảo hiểm y tế toàn bộ và được trợ cấp khoảng 700-800 usd/tháng + thực phẩm... 2 con nhỏ sẽ được học đến hêt trung học miễn phí + trợ cấp thực phẩm đến 18 tuổi. Riêng chị, gần 40 tuổi thì không được huởng như người già hay con nhỏ, nên chị sẽ đi làm, lúc đầu đi học nghề sẽ được nhà nước chi trả tiền học nghề. Chắc chắn cuộc sống mới sẽ thật sự bận rộn và nhiều thứ để phải toan tính. Thời gian nhiều năm qua chị đã hy sinh quá đủ rồi. Good-bye Vietnam - thiên đường XHCN!
Phương Lê: Tôi coi live stream lúc gia đình Quỳnh vừa ra khỏi sân bay, có một bác sồn sồn cầm micro của một hãng tin nào đó, nhanh chóng chĩa micro hỏi một câu đầu tiên đại để như vầy:

- Nhiều người tranh đấu dân chủ trong nước nói rất mạnh. Qua đây lại im re. Vậy cô qua đây, cô sẽ im như họ hay tiếp tục lên tiếng?

Xin lỗi các bạn, cho tôi mắng một phát: hỏi ngu như bò! Dừng hay tiếp tục tranh đấu là một lựa chọn cá nhân. Tranh đấu không phải là một nghĩa vụ bắt buộc của một cá nhân nào cả. Từ đó, quyết định ngừng tranh đấu không phải là một lỗi lầm để có thể chất vấn, hạch hỏi. Nhất là khi người ta vừa ra khỏi lao tù CS, mới chui ra khỏi máy bay.

Mà phải coi lại mình, cộng đồng mình ăn ở thế nào, có đủ tử tế, đoàn kết với nhau để hỗ trợ cuộc tranh đấu chung hay không? Cấu xé nhau tàn tệ đến cỡ nào mà người trong nước qua đành chọn cách làm thinh cho yên phận?

Câu hỏi đã ngu ngốc, mà còn phản ánh cái tâm thế muốn người khác đóng vai anh hùng, trong khi mình ngồi trong bóng râm khoan khoái quan sát, chỉ trích như đi coi võ sĩ giác đấu. Về VN chỉ cần an ninh sân bay trừng mắt một cái là tè m nó ra quần.

Không ai, không một ai qua clip tôi coi hỏi được một câu ân cần về sức khoẻ của Quỳnh, về kế hoạch định cư của gia đình Quỳnh, chỉ nhăm nhăm trút gánh nặng đấu tranh cho người phụ nữ này mà thôi. WTF?

Đó là cái tâm thế làm anh hùng không nổi, bèn trút hết mọi ẩn ức yếm thế cho người khác làm thay, không vừa ý thì vu vạ, chụp mũ, chửi rủa. WTF?

Quỳnh đã làm đủ phần mình. Không ai có quyền đòi hỏi điều gì khác hơn. Hãy nghỉ ngơi và tận hưởng cuộc sống an lành bên hai con đi, Quỳnh ạ!
Nguyễn Dân

(FB Nguyễn Dân)
 

Website và blog tiêu biểu

Top ↑ Copyright © 2008. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Back To Top ↑