Tin Tức Hàng Ngày
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Bài Mới

Nguyễn Hưng Quốc - Việt Nam cần gì?

Đăng bởi Kent Pham vào Thứ Ba, ngày 29 tháng 7 năm 2014


 Trung Quốc đã rút giàn khoan HD-981 trước kỳ hạn (vốn dự trù vào giữa tháng 8). Có nhiều giả thuyết khác nhau được đưa ra để giải thích quyết định của họ: Một, công tác thăm dò của họ đã hoàn tất; hai, sợ bão; ba, để tránh bị đả kích trong cuộc hội nghị Ngoại trưởng thường niên của Điễn đàn An ninh Khu vực ASEAN sắp tới; bốn, để tránh bị chính quyền Việt Nam kiện trước Liên Hiệp Quốc; và, năm, tránh sức ép từ dư luận quốc tế, đặc biệt, tránh việc thúc đẩy Mỹ, Nhật và Úc hình thành một liên minh quân sự vừa để giúp Việt Nam vừa để ngăn chận Trung Quốc bành trướng ở Biển Đông.

Bất kể vì lý do gì, việc Trung Quốc cho rút giàn khoan về nước cũng là việc rất đáng mừng đối với giới lãnh đạo Việt Nam: Họ trút được một gánh nặng rất lớn, không chừng là lớn nhất kể từ sau cuộc chiến tranh ở biên giới Việt Hoa năm 1979. Bởi họ bị áp lực từ nhiều phía:

Với Trung Quốc, chỉ cần một phản ứng hơi quá tay, họ có thể làm bùng nổ chiến tranh, một cuộc chiến tranh chắc chắn họ sẽ thua đậm. Với dân chúng Việt Nam, sự nhượng bộ quá lâu của họ trước sự gây hấn ngang ngược của Trung Quốc sẽ được diễn dịch là một sự đầu hàng, hơn nữa, phản bội. Đó là chưa kể sức ép từ các nước khác, đặc biệt Mỹ và một số quốc gia tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc: Với những nước ấy, sự nhượng bộ hoặc đầu hàng của Việt Nam đều là tai họa đối với quyền lợi của nước họ.

Tránh được gánh nặng ấy, nhưng điều đó không có nghĩa là Việt Nam có thể ung dung hưởng thái bình. Hầu như chắc chắn là Trung Quốc, một lúc nào đó, sẽ mang giàn khoan sang để tiếp tục thăm dò dầu khí trên Biển Đông, ngay trên thềm lục địa Việt Nam. Một phần, đó là mục tiêu chiến lược của họ. Chắc chắn họ sẽ không từ bỏ mục tiêu ấy. Phần khác, quan trọng hơn, họ biết họ sẽ hoàn toàn an toàn khi làm như thế. Họ có thể an tâm một điều: Dù thế giới có phẫn nộ đến mấy, cũng sẽ không có ai động thủ nếu Việt Nam vẫn giữ thái độ im lặng và bất động như vừa rồi. Trong lịch sử chính trị thế giới, không ai đánh giùm không công cho người khác cả. Thời hiện đại lại càng không. Khi Barack Obama vẫn làm tổng thống Mỹ, với chính sách “lãnh đạo từ phía sau” nổi tiếng của ông, chính phủ Mỹ lại càng không có lý do gì để động binh với Trung Quốc giùm cho Việt Nam cả.

Nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục mang giàn khoan sang thềm lục địa Việt Nam, họ có lợi gì? Họ có một cái lợi lớn: dần dần hợp pháp hóa chủ quyền của họ trên Biển Đông. Ở Việt Nam, người ta hay nói, trong cuộc tranh giành Biển Đông với Trung Quốc, có hai yếu tố quan trọng: lịch sử và pháp lý. Thật ra, cả hai là một: các bằng chứng lịch sử sẽ trở thành những bằng chứng về pháp lý. Người ta tin là nếu Việt Nam đưa ra nhiều tài liệu cổ, bản đồ cổ trong đó khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam sẽ được xem là có lý hơn. Tuy nhiên, đó chỉ là một ảo tưởng.

Ngoài công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958 thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa, còn một vấn đề khác nữa: cái lý bao giờ cũng thuộc về kẻ mạnh. Hầu như ai cũng biết, mọi phán quyết của tòa án quốc tế đều vô hiệu đối với các nước lớn, cỡ như Trung Quốc. Không có một thế lực quốc tế nào có thể bắt buộc Trung Quốc phải tuân theo một án lệnh kiểu như vậy cả.

Trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ, ngoài yếu tố lịch sử và pháp lý, còn có một yếu tố khác: thói quen. Ngay cả khi tất cả các tài liệu lịch sử đều chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam nhưng tàu bè và giàn khoan của Trung Quốc cứ đi lại nhiều lần và Việt Nam không phản đối gì cả, dần dần người ta cũng chấp nhận, dù một cách mặc nhiên, đảo và biển ấy là của Trung Quốc.

Bởi vậy, điều nhà cầm quyền cần làm, và làm thật gấp hiện nay, là chuẩn bị một chiến lược để bảo vệ Trường Sa và Biển Đông. Để có hiệu quả, điều kiện đầu tiên là giới lãnh đạo phải thống nhất với nhau. Trong mấy tháng vừa qua, hầu như tất cả giới quan sát quốc tế đều đồng ý với nhau là ngay cả Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam cũng còn bị phân hoá nặng nề. Thành ra người ta không có một tiếng nói chung nào cả. Người nói thế này người nói thế kia, cuối cùng, thế giới, và cả dân chúng Việt Nam nữa, cũng không biết là họ thực sự muốn gì.

Điều kiện thứ hai là phải gấp rút tạo thế liên minh với bên ngoài. Một mình Việt Nam chắc chắn không phải là đối thủ của Trung Quốc. Nhiều người, để bênh vực cho chính quyền Việt Nam, thường nêu lên trận chiến biên giới Việt Hoa vào năm 1979, lúc Trung Quốc bị thảm bại. Nhưng đó chỉ là nguỵ biện. Trung Quốc bây giờ không phải là Trung Quốc vào năm 1979 và Việt Nam bây giờ cũng không phải là Việt Nam thuở ấy, lúc tinh thần dân quân đều rất cao và kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội Việt Nam còn rất dày dạn, hơn hẳn Trung Quốc. Nhiều nhà bình luận quân sự cho vào năm 1979, cả tướng lẫn quân của Trung Quốc đều không quen trận mạc: cuộc chiến tranh cuối cùng, với họ, đã chấm dứt 30 năm trước, lúc Mao Trạch Đông đánh đuổi được Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan vào năm 1949. Với quân đội Việt Nam hiện nay, cũng vậy, chiến tranh đã chấm dứt từ 35 năm trước; chỉ có một số tướng lãnh là có chút kinh nghiệm chiến trường, nhưng lúc ấy, họ lại còn quá trẻ, không biết gì về việc chỉ huy các trận đánh lớn. Ngoài ra, trận đánh trên biển khác với các trận đánh trên đất liền. Trên biển, không ai có thể đánh du kích và cũng không ai có thể sử dụng biện pháp dùng biển người để đánh bại đối thủ. Trên biển, chỉ có một yếu tố chính quyết định thắng thua: kỹ thuật. Mà kỹ thuật trên biển của Trung Quốc hiện nay đã bỏ xa Việt Nam cũng như vô số các nước khác.
Cái gọi là liên minh với bên ngoài ấy có hai khả năng:

Một, liên minh với các nước cùng tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc (và có khi, tranh chấp với cả Việt Nam), bao gồm ba nước chính: Malaysia, Philippines và Brunei. Có điều, hầu như ai cũng nhận thấy một liên minh như thế chỉ có thể được dùng để tiến hành đấu tranh với Trung Quốc trên mặt trận pháp lý chứ không phải là bằng quân sự. Về quân sự, cả ba nước hợp lại vẫn không phải là đối thủ của Trung Quốc.

Hai, liên minh với các cường quốc của châu Á - Thái Bình Dương, từ Nhật Bản đến Hàn Quốc và Úc, và sau đó, là Mỹ. Một liên minh như vậy, nếu thành hiện thực, mới thực sự mạnh mẽ và hiệu quả. Tuy nhiên, vấn đề là: Liệu một liên minh lý tưởng như vậy có thể thực hiện được hay không? Nhiều người ở Việt Nam có vẻ tin chắc là được. Thật ra, để có một liên minh quốc tế, người ta cần nhiều điều kiện nhưng quan trọng nhất là phải tìm ra được những điểm chung. Có hai loại điểm chung: quyền lợi và giá trị.

Giữa Việt Nam và Mỹ cũng như các cường quốc trong khu vực và Tây phương có một điểm chung về quyền lợi rất rõ: đó là Biển Đông, một trong những con đường hàng hải tấp nập và quan trọng nhất trên thế giới. Tuy nhiên, các điểm chung về quyền lợi hiếm khi tạo và giữ được liên minh lâu dài. Yếu tố chung quan trọng hơn, nếu không muốn nói là quan trọng nhất, để tạo và duy trì liên minh giữa hai hoặc nhiều quốc gia với nhau chính là những điểm chung trong hệ thống giá trị của các nước.

Việt Nam hiện nay có thể chia sẻ một số quyền lợi với các nước khác, nhưng lại hoàn toàn không chia sẻ các bảng giá trị với Tây phương. Đó chính là trở ngại lớn nhất của Việt Nam trong việc bắt tay với Mỹ hay bất cứ quốc gia tự do nào trên thế giới. Không sẵn sàng vượt qua trở ngại này, đến lần sau, khi Trung Quốc mang giàn khoan trở lại thềm lục địa Việt Nam, Việt Nam cũng chỉ làm được cái điều họ làm vừa rồi: xúi dân mang tàu đánh cá ra chạy lờn vờn và phun nước vào các tàu hải quân và hải giám của Trung Quốc. Không có gì khác.

Không có gì khác ngoài một sự đầu hàng.

Nguyễn Hưng Quốc
   
      ( VOA )

Hiệu Minh - Hà Lan: Quốc gia nhỏ – Tòa án lớn

Peace palace - Trụ sở của PCA ở Hague. Ảnh: PCA
Peace palace – Trụ sở của PCA ở Hague. Ảnh: PCA

Nói đến Hà Lan nhớ đến cối xay gió, đê quai, hoa tulip, bóng đá tổng lực, sex… nhưng ít người nghĩ đến…tòa án. Vài  thứ đầu làm ta chóng mặt, hoa mắt, mỏi gối, chùn chân, nhưng tiếng búa gõ của quan tòa  The Hague mới làm cho kẻ mắc lỗi gục hẳn vì những phán xét mang tầm toàn cầu.

Rắc rối Nga, Ukraine, MH17 và Yukos

Tháng 12-2013, do tác động của bà Thủ tướng Đức, Tổng thống Putin đã ân xá cho sếp cũ của Yukos là Mikhail Khodorkovsky do muốn gây dựng hình ảnh Olympic Mùa Đông ở Sochi. Nhưng rồi biểu tình Maidan tại Kiev, lật đổ Yanukovych đã làm ngọn đuốc Sochi không như Putin muốn.

Tỷ phú Khodorkovsky đang vùng vẫy ở phương Tây, đứng sau những vụ ăn miếng trả miếng đối với Putin. Ukraine, MH17, trừng phạt kinh tế và nay là tòa án Hà Lan đang làm Putin đau đầu.

Có lẽ tin về Tòa án PCA ở Hague (Permanent Court of Arbitration – hay còn gọi là The Hague Tribunal) vưa phán quyết, chính phủ Nga phải trả 50 tỉ đôla thiệt hại cho các cổ đông của công ty Yukos nay đã phá sản, không gây chú ý đối với người Việt. Xem thêm trên BBC VN

Bị bắt năm 2003, 10 năm trong tù, Mikhail Khodorkovsky bị tòa án Nga buộc tội lừa đảo và trốn thuế. Dư luận cho rằng tay tài phiệt tỷ phú dầu hỏa Khodorkovsky dám thách thức vị trí của Putin nên mới phải đếm kiến, Yukos bị phá sản và bán rẻ cho các công ty nhà nước của Nga.

Vụ kiện này bắt đầu từ năm 2005, 2 năm sau khi tài phiệt ngồi sau song sắt, do ba công ty con là  Hulley Enterprises Limited (Cyprus), Yukos Universal Limited (Isle of Man) and Veteran Petroleum Limited (Cyprus) đâm đơn.

Sau 8 năm, nay tòa PCA “bỗng” kết luận, giới chức Nga đã làm sai và nay phải trả lại tài sản cho Khodorkovsky và các cổ đông. Để có được 50 tỷ đô la “của Cesar trả lại Cesar” chắc chắn còn nhiều cuộc chiến pháp lý tiếp theo, hao sức, tốn của.

Người ta tự hỏi, tại sao vụ Yukos nay lại dấy lên đúng vào thời điểm máy bay hành khách MH17 bị nghi do phiến quân thân Nga bắn rơi, dùng hệ thống tên lửa hiện đại BUK do Nga cung cấp.

Hà Lan là quốc gia có tới 2/3 số hành khách (gần 200 người trong tổng số 298) trên chuyến bay đó. Là một nước nhỏ, cỡ Moscow và ngoại ô cộng lại, dân số 17 triệu, cũng chỉ nhỉnh hơn thủ đô Nga một chút, Hà Lan không dám thách thức nước Nga về chính trị, kinh tế và quân sự sau MH17.

Nhưng nhìn cảnh những xác nạn nhân người Hà Lan và các nước khác trên thế giới bị phơi dưới nắng hè, bị những phiến quân canh gác, gây khó dễ, đồ đạc bị mất cắp, thi thể bị khám xét một cách thiếu tôn trọng, người Hà Lan không thể không căm giận.

Trong lúc Hà Lan đang đón nhận những thi thể từ Ukraine thì tòa án Hague đã làm phận sự của mình. Phán xét bất lợi cho nước Nga là một hành động của tòa án trong thời điểm khá tế nhị này là một đòn gió gửi Putin bởi xảy ra vào lúc căng thẳng Nga – phương Tây đang leo thang, các đòn trừng phạt kinh tế tới tấp đưa ra, miền Đông Ukraine đang chiến tranh.

Nếu Nga không chứng minh “mình đã làm đúng”, việc trả lại 50 tỷ USD là đương nhiên. Theo hầu tòa cũng tốn kém, không theo thì tòa tuyên án vắng mặt. Các cổ đông của Yukos có quyền tịch biên tài sản nào thuộc về nước Nga, tài sản Nga có khắp mọi nơi trên thế giới.

Nước nhỏ nhưng tòa án lớn

Dùng luật chính là sức mạnh của các nước nhỏ. Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan, Ý…từng ra trát bắt cả nguyên thủ quốc gia, nghe tưởng đùa. Mấy năm trước một doanh nhân Việt sang Thụy Sỹ bỗng bị câu lưu vì do một công ty đa quốc gia khác kiện.

The Hague (Den Haag) là một thành phố lớn thứ 3, nửa triệu dân, thủ phủ phương Nam của Hà Lan, dù không phải là thủ đô (Amsterdam) của Hà Lan nhưng là nơi chính phủ, quốc hội, và tòa án tối cao (tam quyền) làm đại bản doanh. Nơi đây có 150 tổ chức quốc tế  trong đó có Tòa án Quốc tế (International Court of Justice và International Criminal Court) nổi tiếng khắp thế giới.

Tại đây có những vụ án xét xử các tội phạm chiến tranh và diệt chủng, chống lại loài người. Cựu Tổng thống Serbia, Slobodan Milošević, bị dẫn độ về đây, xét xử từ năm 2002 đến 2005, cuối cùng Milošević chết trong tù. Nhiều chính khách Serbia và châu Phi cũng bị đưa về đây.

Tulip Hà Lan
Tulip Hà Lan

Báo chí Việt Nam hay gọi là tòa án quận Hague, nghe có vẻ thường. Trong thực tế, The Hague Tribunal (PCA) có vai trò phán xét quốc tế rất lớn. Việc PCA đưa ra kết luận Nga phải trả lại 50 tỷ đô là cho Khodorkovsky không phải là một phán xét bừa.

Danh sách các vụ tầy đình mà PCA đã và đang xử lý cũng thấy mức độ nghiêm trọng như thế nào (Xem danh sách tại đây).

Các vụ kiện giữa các quốc gia như Hà Lan và Nga tranh chấp ở Bắc Cực, Đông Timor và Australia, Malaysia và Singapore, đến vụ Philippines đang kiện Trung Quốc về tranh chấp đảo cũng đang ở giai đoạn xem hồ sơ.

Ngoài ra, PCA cũng xử kiện tụng giữa các công ty đa quốc gia về đầu tư đa phương. Mỹ, Trung Quốc, Nga, Anh, Pháp… đều có các công ty dính đến The Hague.

PCA là tổ chức tòa án liên quốc gia bao gồm 115 thành viên, thành lập từ năm 1899, nhằm giải quyết các tranh cãi giữa các quốc gia, các công ty đa quốc gia, kể cả nhân quyền và phán xét tội ác chống nhân loại.

PCA có trụ sở tại Hague là một chứng chỉ, nước nhỏ như Hà Lan, nhưng tòa án mạnh, sức lan tỏa của quốc gia rất lớn trên trường quốc tế. Chẳng ai nghĩ đến chuyện đặt trụ sở tòa án quốc tế tại một nơi mà bắt người vì bao cao su nhưng lại xử tội chống đảng và nhà nước.

Một quốc gia như thế, họ cũng sòng phẳng với chính mình. BBC cho hay, ngày 16/7, PCA  phán quyết rằng chính quyền nước này chịu trách nhiệm trong vụ để xảy ra việc giết hại hơn 300 đàn ông và bé trai Bosniak (người Bosnia Hồi giáo) ở Srebrenica, Bosnia-Hercegovina hồi tháng Bảy năm 1995. Vì lính Hà Lan gìn giữ hoà bình tại đây đã không làm tròn bổn phận khi đuổi 300 người ra khỏi doanh trại, sau đó họ bị thảm sát.

Khi tòa đã phán như thế sẽ kéo theo đền bù. No one is above the law – Không ai có thể ngồi trên pháp luật chính là đây.

Người Việt nên biết về luật quốc tế

Vietnam Airlines không quên bài học công ty Falcomar (Ý). Tháng 11 năm 1992, Vietnam Airlines (cũ) ký hợp đồng chỉ định Công ty Falcomar (Ý) là đại lý của VNA tại thị trường Ý. Theo phía nguyên đơn là luật sư Liberaty, từ 12 năm 1992, ông này đã được Falcomar thuê để thực hiện một số công việc cho Falcomar với tư cách là đại diện cho Vietnam Airlines.

Ngày 14 tháng 9 năm 1994, luật sư Liberati có đơn gửi Tòa án Roma yêu cầu Falcomar và Vietnam Airlines thanh toán những chi phí công việc mà ông ta đã thực hiện, tổng số khoảng trên 573.000.000 lire (tiền Ý). VNA không thèm dự, bỏ qua trát hầu tòa. Xem chi tiết trên Wiki về vụ này.

Vì VNA không có mặt tại tòa, Tòa án Roma phán VNA phải nộp 4,3 triệu ER. Kiện đi kiện lại vẫn bị phạt.

Năm 2004, Ủy ban Đòi nợ và Tịch biên Pháp thông báo phong tỏa số tiền 1,3 triệu euro tại tài khoản BSP Pháp (tài khoản thu từ bán vé máy bay ở đại lý) của Vietnam Airlines để thanh toán theo phán quyết của tòa. Kèm theo quyết định của Tòa Phúc thẩm Paris xác nhận số tiền mà Vietnam Airlines phải trả là gần 5,2 triệu euro (tính cả lãi suất phát sinh theo lãi suất ngân hàng, tức là khoảng 100 tỷ đồng).

Chẳng hiểu vụ việc đi đến đâu. Nhưng cho dù có hòa thì tiền mất tật mang vì đã bị kiện phải thuê luật sư, mà thù lao khoảng 1000$/giờ. Ngày 8 tiếng làm việc đã toi 8000$, kéo khoảng vài 3 năm, ai có thể chịu nổi. Đôi khi nộp tiền phạt còn rẻ hơn là theo kiện.

Nếu nghĩ rằng PCA (The Hague Tribunal) đưa trát bắt nước Nga trả lại 50 tỷ đô la là trò chính trị vui đùa thì không hiểu luật lệ quốc tế. Ngược đãi, bắt người vô cớ, hành hạ và thủ tiêu bí mật, rất dễ bị liệt vào tội chống lại nhân loại ở tòa án Hà Lan, hậu quả thường đến sau khi kẻ phạm pháp không còn ngồi trên ghế quyền lực.

Vĩ thanh
Cối xay gió Hà Lan
Cối xay gió Hà Lan
Có lẽ Putin không lường trước được những đòn hiểm về kinh tế của phương Tây. Chiếm Crimea, giúp phiến quân miền đông Ukraine, bắn rụng MH17 và hành xử bất nhân sau đó… đang làm nước tràn ly. Vụ Yukos, rồi tại London cũng rục rịch lội tay KGB bị ám sát từ thời nào thời nào ra điều tra lại từ đầu. Bây giờ thêm đối thủ Khodorkovsky giơ găng. Chống đỡ các đòn tứ phía quả là khó.

Hà Lan có đặc sản cối xay gió, bóng đá tổng lực,  phố đèn đỏ, sex, nhưng ít ai nhớ đến…tòa án. Mấy thứ đầu làm ta chóng mặt, hoa mắt, lảo đảo… nhưng tòa án mới là thứ làm người ta gục ngã vì những phán xét mang tầm toàn cầu.

Nước nhỏ nhưng nền pháp luật lớn làm nên một siêu cường có sức mạnh mềm. Thay vì sắm tầu ngầm kilo, SU hay Mig, tên lửa, người Hà Lan dùng pháp luật bảo vệ tổ quốc, và sẵn sàng xử các cường quốc nếu vi phạm luật.

     HM. 28-7-2014

  (  Hiệu Minh Blog )

Giáo dục Việt Nam: phi lợi nhuận hay vì lợi nhuận?

Gần đây, câu chuyện giáo dục phi lợi nhuận hay vì lợi nhuận ở Việt Nam trở nên sôi động, đặc biệt trong cộng đồng những người làm giáo dục. Một số người ủng hộ giáo dục vì lợi nhuận, như GS Vũ Đức Vượng, trong khi cũng có nhiều người phản đối như TS Giáp Văn Dương, TS Huỳnh Thế Du.
GS Vượng cho rằng “hãy cứ dạy vì lợi nhuận đã” và “trường đại học tư có lãi không phải là điều xấu”. TS Dương và TS Du thì cho rằng “giáo dục nói chung không phải là nơi để kiếm lợi nhuận” và “khi trường đang ăn nên làm ra thì chẳng có lý do gì để cổ đông từ bỏ lợi ích tài chính của mình và vấn đề ở chỗ là khả năng trở thành nơi bán bằng của các đại học vì lợi nhuận rất cao”.

Đây không phải là một vấn đề mới ở các nước đã phát triển, nhưng ở Việt Nam thì nó mới mẻ hơn, và cũng có những đặc thù khác xa các nước đã phát triển.

Khác biệt cực kỳ lớn ở Việt Nam khiến cho câu chuyện thảo luận mô hình vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận ở Việt Nam trở nên gần như là vô nghĩa nằm ở ba điểm:

Thứ nhất là khối tư nhân ở Việt Nam chưa quen “cho” tiền các đại học. Ở Việt Nam không tồn tại các quỹ tài trợ cho giáo dục của tư nhân. Việt Nam cũng không có nhiều các đại gia, tỷ phú, giàu có và sẵn sàng bỏ các khoản tiền lớn hiến tặng các trường đại học. Văn hoá của người Việt cũng không quen cho tiền ra bên ngoài (trừ trường hợp là hoạt động tôn giáo), thông thường họ chỉ hiến tặng cho các cá nhân trong gia đình và trong dòng họ.

Thứ hai, nhà nước Việt Nam cũng không có bất cứ đãi ngộ gì với trường đại học tư, dù là phi lợi nhuận hay có lợi nhuận. Nhà nước không tài trợ tiền cho đại học tư, cũng không có những quỹ trợ cấp cho sinh viên (dù sinh viên trường tư hay công).

Thứ ba, các đại học tư, dù khoác áo phi lợi nhuận hay vì lợi nhuận thì cũng đều bị đối xử bất bình đẳng so với các đại học công lập vì nhóm thứ hai này được trợ cấp “tới tận răng”.

Vì điểm thứ nhất và thứ hai ở trên, dù là đại học tư đi theo con đường vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận thì trước hết cũng phải… có lợi nhuận trước đã. Không có bất kể nguồn tài trợ nào từ cả phía tư nhân lẫn nhà nước. Vì thế đại học tư phải hoàn toàn dựa vào nguồn thu duy nhất là học phí của sinh viên, và phải tự trang trải được.

Kết hợp với điểm thứ ba, đại học tư ở Việt Nam (bất kể vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận) đều khó sống được khi cạnh tranh với các trường đại học công lập, nơi học phí gần như không đáng kể và luôn toạ lạc tại các địa điểm trung tâm với campus hoành tráng. Thực tế là cho đến nay ở Việt Nam vẫn chỉ có vài ba trường đại học tư thục có lợi nhuận (chưa nói đến chuyện chia lợi hay không). Tuyệt đại đa số các đại học tư nhằm trong nhóm thứ hai – nhóm đang lỗ nặng.

Vậy thì tại sao lại phải tranh luận về việc nên làm đại học tư thục theo mô hình vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận? Ở đây có một số thực tế thú vị mà ít người nhắc tới.

Thứ nhất là nếu như đằng nào cũng lỗ, cũng không tuyển sinh được bao nhiêu, thì dùng chữ “phi lợi nhuận” dù sao vẫn sang hơn. Trường Phan Chu Trinh là một thí dụ. Đây là một trường đại học thành lập cũng khá lâu, số người theo học ít, và mới tuyên bố trường mình là mô hình trường đại học phi lợi nhuận đầu tiên tại Việt Nam.

Thứ hai, có một vài trường hợp (rất hiếm hoi), ban đầu do một số lãnh đạo trường dựng lên. Sau đó kêu gọi các nhà đầu tư tham gia phát triển trường. Nay trường đã có lãi nhưng sở hữu của những người sáng lập không còn bao nhiêu. Vậy là nếu chia thì những sáng lập viên chẳng được bao nhiêu lợi nhuận. Thế là có những cuộc đấu tranh tan nát trong nội bộ về chuyện trường theo mô hình vì lợi nhuận (tức là chia cho cổ đông) hay là phi lợi nhuận (giữ lại trường, và vì thế nằm trong quyền quản lý của các lãnh đạo nhà trường chứ không phải cổ đông).

Thứ ba, là một vài cơ sở đào tạo, thí dụ trường Fulbright ở Việt Nam, vốn cho tới nay vẫn được tài trợ 100% từ nguồn tài trợ của nước ngoài. Sự thành công về chất lượng đào tạo của các cơ sở này (dựa trên nguồn tiền tài trợ lớn, lương giáo viên cao, miễn học phí nên tuyển được đầu vào giỏi, và quy mô đào tạo nhỏ) khiến nhiều người có ảo tưởng rằng mô hình này có thể nhân rộng và trở thành cứu cánh về chất lượng cho giáo dục đại học (hay gọi chung là giáo dục sau phổ thông) ở Việt Nam.

Thứ tư, nếu nói về chất lượng bằng cấp, hay chuyện bán bằng, thì phải nói đến hệ thống đại học công lập với tư cách là thủ phạm chính. Phần lớn các trường đại học và cao đẳng công lập cho tới nay vẫn có chất lượng không ra gì mặc dù được ngân sách nhà nước đầu tư rất lớn về cơ sở vật chất và trang thiết bị. Đó là chưa kể các chương trình đại học tại chức được triển khai từ khoảng gần 20 năm nay bởi các trường đại học công lập đã biến hàng chục triệu người thành cử nhân qua các khoá tại chức với chất lượng sư phạm cực kỳ thấp. Mặc dù vẫn có những người học đại học tại chức ra và có chất lượng thật, nhưng số này quá ít, số lớn chỉ là “hợp thức hoá” về mặt bằng cấp. Nhiều người sau đó đã “học” tiếp lên các bằng thạc sĩ và tiến sĩ và trở thành những lãnh đạo quan cấp cao trong bộ máy nhà nước.

Vậy thì vấn đề đại học tư nên vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận ở Việt Nam có đáng được bàn đến hay không? Tôi cho rằng hãy còn quá sớm để bàn tới chuyện này. Trước hết hãy chờ xem họ (các trường đại học tư thục) có sống được không đã.

* Blog của Tiến sĩ Trần Vinh Dự là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

'Hòa giải dân tộc' qua sự kiện Khánh Ly?


 Ca sỹ Khánh Ly đã bay từ Mỹ về Sài Gòn hôm 28/7 để chuẩn bị cho hai chương trình biểu diễn vào hai tối 02/08 ở Hà Nội và 08/08 ở Đà Nẵng.
Đây là lần thứ hai trong vòng vài tháng bà trở lại Việt Nam.

Ca sỹ nổi tiếng với các ca khúc của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn lần đầu tiên về nước biểu diễn hồi tháng 5/2014 sau gần 40 năm sống ở Mỹ, làm dấy lên phản ứng trái ngược cả từ trong nước và cộng đồng hải ngoại.

Bình luận về sự kiện bà được chính phủ Việt Nam cấp phép biểu diễn, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân từ Huế cho rằng đây là sự kiện văn hóa “quan trọng để chứng tỏ sự đổi mới của Việt Nam".

“Thứ hai là cũng thực hiện trên tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc. Thứ ba nữa là chính quyền Việt Nam có trách nhiệm với Việt kiều, với người Việt Nam muốn về phục vụ dân tộc, phục vụ nhân dân thì cái đó rất quý, rất tốt. Đó là một tin hết sức có ý nghĩa,” tác giả từng tham gia viết sách về nhạc sỹ Trịnh Công Sơn nói.

Trả lời BBC Tiếng Việt từ Huế hôm 28/07 về việc liệu đây có phải là chính sách mềm mỏng hơn nhằm nối lại khoảng cách giữa người trong nước với người ở nước ngoài, đặc biệt là những người đã ra đi từ thời chiến tranh, ông cho rằng, “về phương diện chính trị, còn những mâu thuẫn mà còn lâu mới giải quyết được, nhưng nó sẽ teo dần. Nhưng lấy văn hóa, âm nhạc, nghệ thuật để mà người Việt Nam gần gũi với nhau, chung sống với nhau là rất cần thiết.”

Ông giải thích, “trước kia phía Việt Nam Cộng hòa bị gọi là bên thua cuộc, cũng có nỗi uất hận còn bên này là người thắng cuộc lại xây dựng đường lối chính trị chủ nghĩa xã hội thành ra nhiều người họ không thích, họ không chấp nhận, họ không theo chủ nghĩa xã hội nên có sự mâu thuẫn.

“Bây giờ ở Việt Nam, chữ chủ nghĩa xã hội cũng chỉ để mà gọi thôi, còn thực sự đó là đất nước kinh tế thị trường.”

Thù lao 'xứng đáng'

Nhạc sỹ Trịnh Công Sơn hát trong đám cưới của ông Nguễn Đắc Xuân với bà Võ Thị Cẩm Tú năm 1976

Truyền thông Việt Nam hồi tháng Năm đưa tin buổi biểu diễn duy nhất của ca sỹ Khánh Ly tại nhà hát lớn Hà Nội hôm 09/05 đã 'cháy vé', cùng với đó là tin tức về mức thù lao cao kỷ lục được dành cho Khánh Ly.

Nhà bình luận về văn hóa Việt Nam cho rằng, việc Khánh Ly được trả thù lao cao là hoàn toàn đáng hoan nghênh do tài năng của cô, và “nếu thương mại đóng góp cho nghệ thuật thì thương mại đó là chân chính”.

“Nếu cô về mà quần chúng họ hoan nghênh thì chuyện thu nhập là xứng đáng, là thành tựu cô phải đạt được thôi.

“Ở đây là 90 triệu dân, còn ở ngoài đó cũng đông mà đâu phải dễ dàng để biểu diễn được liên tục để có thu nhập tốt. Đối với tôi, nếu vì kinh tế mà cô về thì cũng cứ tốt thôi.”

Ông Nguyễn Đắc Xuân từng nhiều lần tiếp xúc với nhạc sỹ Trịnh Công Sơn và có loạt bài viết về cố nhạc sỹ Phạm Duy, nhận xét các ca sỹ cùng thời với ca sỹ Khánh Ly như Thái Thanh nay đã không thể hát nữa, còn ca sỹ Lệ Thu cũng đã yếu.

“Khánh Ly dù sao đi nữa, tuy vừa rồi tôi không theo dõi trực tiếp ở Hà Nội mà qua băng thì tôi thấy là cũng đã yếu, nhưng vẫn còn có thể bởi những bài nhạc Trịnh Công Sơn đã vô máu huyết của Khánh Ly rồi nên cô vẫn hát ra, vẫn là người được ngưỡng mộ.

"Theo tôi thì nhạc Trịnh Công Sơn còn sống mãi mãi, nó là loại nhạc tâm linh, làm cho người đến một thế giới khác. Khánh Ly cũng nhờ cái đó, và cô hát nhạc Trịnh Công Sơn không thay đổi lắm, nó vẫn còn tươi tắn, vẫn hay như thường.

Trịnh Công Sơn với ông Nguyễn Đắc Xuân trong căn phòng của nhạc sỹ ở Sài Gòn năm 1999

Đối với nhà bình luận Nguyễn Đắc Xuân, chỉ có ca sỹ Khánh Ly hát nhạc Trịnh là ông thích nhất và cảm thấy thực sự xúc động, làm ông nhớ lại thời của ông với nhạc sỹ Trịnh Công Sơn.

“Ở Việt Nam cũng có nhiều người hát nhạc Trịnh Công Sơn, ví dụ như ca sỹ Hồng Nhung, nhưng mà không ai thay thế được ai. Mỗi thế hệ có hoàn cảnh khác nhau và cũng phải nói rằng hoàn cảnh đất nước cũng hun đúc lên con người trong từng hoàn cảnh.

“Hồi xưa là chiến tranh có sự đau khổ, còn bây giờ lớp trẻ này không bị thúc bách bởi đau khổ của chiến tranh của sự chết nên bây giờ khác.

“Mà nghệ thuật nó có trong từng giai đoạn, trong từng hoàn cảnh nó phục vụ cho thế hệ đó chứ không bao giờ có cái gì vĩnh cửu trừ trường hợp Trịnh Công Sơn với Phạm Duy.”

“Theo tôi thì những người tôi biết như Hồng Nhung cũng có thời gần gũi với Trịnh Công Sơn, cô cũng hết sức cố gắng trong vấn đề tìm hiểu nhưng mà nó cũng có hạn chế chứ không thể nào thay thế Khánh Ly được. Khánh Ly của thời đại đó, qua rồi là thôi.”

Ông nói ở hoàn cảnh Việt Nam những năm chiến tranh, một may mắn hiếm có là nhạc sỹ Trịnh Công Sơn “đã trầm mình” trong cuộc sống thời chiến, “đã sáng tác bằng hơi thở, bằng máu huyết của mình, mà Khánh Ly cũng may mắn là đã được gần Trịnh Công Sơn”.

( BBC )

Tòa án dưới chế độ "không tam quyền phân lập"


Không thực hiện thiên chức

Đòi hỏi mà Chủ tịch nước nêu ra với Tòa Án nhân dân tối cao hôm 15/7/2014, khiến mọi người... bổ ngửa.

Nguyên văn, câu của Chủ tịch: Tòa án phải mang lại công lý cho mọi người.

Từ thượng cổ, thiên chức của Tòa Án là thực thi công lý. Đó là lý do duy nhất để Tòa Án sinh ra và tồn tại. Nay đã là năm 2014. Tòa án ở Việt Nam đã hành xử ra sao trong quá khứ mà đến nỗi bị đích thân nguyên thủ quốc gia đòi hỏi phi thực thi thiên chức của mình?

Nếu (giả sử) một loạt các ngành khác cũng bị đòi hỏi như vậy, ví dụ:

- Đại biểu của dân phải bênh vực dân;

- Đầy tớ của dân phải phục vụ và lễ phép với dân;

- Đảng (tiêu cả đống tiền ngân sách do dân đóng) phải coi dân như bậc sinh thành...

- Quân đội do dân nuôi phải trung thành với dân;

- Công an do dân nuôi không được đánh chết dân...

- vân vân...

Thử hỏi, ai chẳng "bổ ngửa"? Và người dân vô phúc biết nhường nào?

Hai vị trí thức "bổ ngửa" khi nghe câu của Chủ tịch nước

- Đó là luật sư Ngô Ngọc Trai, với bài viết Toà án Việt Nam "không nhân danh công lý". Rà soát nhiều văn bản tư pháp, vị luật sư hầu như không tìm ra từ "công lý". Đọc lại hàng trăm bản án (sản phẩm trực tiếp của ngành Tòa Án) vị luật sư đi đến kết luận: Tòa ở Việt Nam không nhân danh công lý, mà nhân danh Nhà Nước (hoặc Nước) CHXHCN Việt Nam để kết tội bị can. Rồi luật sư phân tích sự treo ngoe (phi logic) của cái "nhân danh" này. Đã không nhân danh công lý, làm sao "mang lại công lý cho mọi người"? Tôi cũng "bổ ngửa" khi đọc bài của luật sư.

- Cũng đọc bài của luật sư, một vị trí thức khác là GS Nguyễn Văn Tuấn đã không thể nhịn được, lập tức có bài thể hiện thái độ: Toà án KHÔNG nhân danh công lí! Cái "tít" của bài gần như trùng với bài trên, nhưng thú vị là ông nhấn mạnh chữ "không", và kết thúc bằng dấu chấm than (!). Nó thể hiện sự ngạc nhiên, thất vọng. Và cả mỉa mai nữa. Nghe nói, vị giáo sư này sống ở nước ngoài, chỉ thỉnh thoảng mới về nước, nhưng vẫn dẫn ra được nhiều bản án để làm ví dụ và xếp loại, mà khi so sánh, chẳng ai thấy công lý ở đâu hết. Dưới đây, để cho tiện, tôi sử dụng cách xếp loại này.

Bị kết án nặng nề nhất là các trí thức phát biểu ôn hòa, thể hiện những bất đồng chính trị, thậm chí chỉ là phản đối sự lệ thuộc Tàu. Còn được xử nhẹ nhất là công an. Bản chất chế độ thể hiện quá rõ. Chính cách xử này khiến quan tòa vứt bỏ công tâm và lương tâm, trở nên tàn bạo, vô cảm. Sự tha hóa, thối nát khiến việc kết án nhóm thứ ba (trộm cắp, tham ô) và thứ tư (mua bán dâm) cũng tùy tiện, bất chấp công lý.

Nhớ lại mấy câu trong môt bài thơ yêu nước

(của một chí sĩ bị đi đày vì chống thực dân Pháp)

Tôi được nghe ông tôi đọc về cái thời dân ta còn sống kiếp nô lệ, cách đây trên 70 năm.

Thần Công Lý bên trời lẩn mất

Quỷ Văn Minh chật đất làm càn

Biết đâu mà giải nỗi oan

Đã đày đọa Nước, lại tan nát Nhà...

Không lạ, nếu nhìn từ bản chất

Các vị Mác và Lênin coi nhà nước là công cụ đàn áp sự phán kháng. Tòa án của Lênin (tư pháp nói chung) chĩa mũi nhọn vào mọi sự phản kháng, kể từ thái độ, lời nói, ý kiến, cho tới hành vi. Tòa án Xô Viết là công cụ của chuyên chính vô sản. Nó không độc lập, vì không có đảng cộng sản "chân chính" nào thừa nhận tam quyền phân lập.

GS Nguyễn Văn Tuấn hầu không học dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, lại sống chủ yếu ở nước ngoài (đã không được Đảng dạy chủ nghĩa Mác-Lê, thì chớ) làm sao sờ, ngửi, nghe, nhìn... được sự vận dụng nó vào thực tế Việt Nam? GS ngạc nhiên là phải. Còn luật sư Ngô Ngọc Trai, ra trường trước tôi dăm-bảy khóa, tuy có được học Mác-Lê ở trường Luật, nhưng làm sao còn nhớ được bằng tôi?

Tôi xin nói ngay: Nếu Đảng "ta" còn theo chủ nghĩa Mác-Lênin thì tòa án Việt Nam vẫn không độc lập, vẫn là một công cụ chuyên chính. Các vị quan tòa, dù cao, dù chỉ èng èng, đều là đảng viên cả đấy ạ.

Bốn loại tội phạm chính

Như GS Nguyễn Văn Tuấn phân loại, trước mặt quan tòa có 4 loại tội phạm:

1) Tội dám phản đối cái chế độ đang ưu đãi quan tòa; do vậy các vị tự thấy rằng mình đang xử kẻ thù. Xin nói rằng cái từ "phản động" được gán ghép rất tùy tiện. Thật ra, "phản động" là khái niệm rất tương đối, tùy theo được nhìn từ phía nào. Hai phía đối lập coi nhau là "phản động" là tất nhiên. Tranh luận mất công, chỉ cần có cái nhìn tổng quát. Vậy, tổng quát, trong thời đại dân chủ hóa toàn cầu, một chế độ độc đảng, độc đoán chính là chế độ phản động.

2) Tội "quá tay" khi thực hiện công vụ: được xử nhẹ. Quá tay khi thực hiện chuyên chính vô sản: càng được xử nhẹ, thậm chí được khen, được tin, được cất nhắc...

3) Tội hình sự, chế độ nào cũng phải răn đe;

4) Tội vi phạm "thuần phong" được nống lên thành vi phạm đạo đức.

Tuy nhiên, do bản thân là nhân sự của bộ máy đàn áp, cho nên quan tòa sẽ mất dần lương tâm, không thể công tâm; trở thành tàn bạo, vô cảm... Do vậy nhóm 3 và 4 cũng bị xử rất tùy tiện, tùy hứng. Kể cả vi phạm quyền con người khi xử (bán dâm bị tù nhiều năm).

Còn Luật? Tất nhiên, những điều nhằm đàn áp sự phản kháng độc tài đều bị quy tội rất nặng. Phản dân chủ lộ liễu nhất nằm ngay trong cái Điều "lợi dụng tự do dân chủ dân chủ" để thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt thái độ.

Điều 77, 88 và 256, bị coi là chống tự do ngôn luận; nhưng sâu xa trong bản chất chúng chống trí thức. Đúng vậy, nó kết án những người đủ kiến thức, đủ năng lực thể hiện quan điểm và có tư duy phản biện và phản đối bất công – đó chính là tiêu chuẩn để trở thành trí thức đúng nghĩa.

Đỗ Thúy Hường

Tác giả gửi BVN.

Sao Hồng - Bao giờ có một ngày chung?

img_5833.jpg
“Sư đoàn” Nghệ An ở Nghĩa trang Quốc gia Trường Sơn. Ảnh của Sao Hồng
Theo văn hóa đạo gíao Trung Quốc, từ hôm nay, mùng 2 tháng Bảy âm đến hết ngày 14, Quỷ Môn Quan được mở để cho ma quỷ sống cùng với cõi dương. Tục gọi là Tết Quỷ. Văn hóa đó truyền đến Việt Nam thì dân gian gọi là cúng cô hồn (rằm tháng 7). Phật giáo Việt Nam coi tháng 7 Âm là tháng Vu lan báo hiếu MẸ CHA & NGƯỜI CÓ CÔNG.

Ngày nay, nét văn hóa đạo giáo Trung Quốc đã pha trộn với phong tục Việt. Tháng 7 vừa là Vu lan báo hiếu vừa cúng những linh hồn của những người chết nơi đất khách quê người, trên dặm đường thiên lý, trong đó có cả người chết do chiến tranh…

Cứ tháng 7 là mình nhớ đến những nghĩa trang bạt ngàn ngôi mộ trên đất nước Việt Nam sau mấy chục năm chiến tranh. Có những nghĩa trang luôn được truyền thong quan tâm và nhức đến như ở Quảng Trị. Nhưng có những nghĩa trang gần như bị lãng quên suốt gần ba chục năm nay. Chỉ từ năm ngoái, mới có một vài tờ báo nhắc đến nó. Đó là những nghĩa trang ở biên giới phía Bắc, nơi an tang những người hy sinh chống quân xâm lược Trung Quốc 1979-1989.

Riêng đất Quảng Trị có hai Nghĩa trang lớn (Trường Sơn & Đường 9). Nơi đây quy tập và chôn cất cả vạn người thuộc đường dây 559, mặt trận B5, Nam Lào và một phần tuyến lửa Vĩnh Linh – Quảng Bình. Họ được táng theo địa bàn “quê quán”: Hà Nội, Hà-Nam-Ninh, Hà – Sơn – Bình, Bình – Trị – Thiên hay Nghệ – Tĩnh,…

Ngày 30/4, một đoàn nhỏ từ Hà Nội tự tổ chức tour du hành về vùng DMZ. Trong đoàn có những người lính chiến trường trở lại bút nghiên sau 1976. Nay các anh đã nghỉ hưu nên muốn vào thắp hương cho đồng đội. Xuất phát từ Đồng Hới, trong một ngày nên chỉ đi được Nghĩa trang Trường Sơn và Thành cổ Quảng Trị… Trên đường ra xe để đi Thành cổ Quảng Trị, một bạn nói:

- Nghĩa trang lớn quá, bao nhiêu là người hy sinh, quê quán khắp ba miền. Không thể thắp hương hết trong một buổi được..

- Gần đây thôi, còn một nghĩa trang rộng lớn như thế này nữa. Nghĩa trang Đường 9. Địa phương, mặt trận nào cũng có cũng có các nghĩa trang “đầy ắp”,… nhưng riêng Quảng Trị có đến 72 nghĩa trang lận. Mà chỉ mới “chống Mỹ” thôi đấy,…

- Ừ, đến 9 năm kháng chiến trường kỳ rồi nối tiếp 21 năm chiến tranh đằng đẳng cơ mà,… vẫn còn mấy trăm ngàn người mất tích,..

- Có những người lính chết bệnh hay gặp tai nạn không được công nhân liệt sỹ, nên không có ở nghĩa trang…

- Mà mới “bên thắng cuộc” thôi đấy. Còn “bên thua cuộc” chẳng thấy ai quy tập nhỉ?

- Còn người dân vô tội nữa chứ,…

- ……

Hôm qua, có một bạn trên Facebook post bài thơ nhân ngày 27/7. Một thực tế xót xa nghe sao buồn tủi cho rất nhiều gia đình ở Việt Nam…

BAO GIỜ CÓ MỘT NGÀY CHUNG ?

Chiến trường xưa mộ bạt ngàn


Còn bao xương trắng hoang tàn vô danh


Lúc còn sống ANH, TÔI thù địch


Nay thác rồi đất mẹ nằm chung


Anh còn có kẻ khói hương


Tôi thì vất vưởng bao năm cô hồn…


Bao giờ có một ngày chung nhỉ?


Để chỉ yêu thương, hết hận thù…

(Nguyễn Đức Hạnh)

.…

Năm nay, ngày 27/7, Ngày Thương binh – Liệt sỹ của Việt Nam lại trùng ngày mùng Một tháng Bảy Âm. Dù Âm hay Dương thì tháng 7, nên là tháng tưởng nhớ những linh hồn đã mất vì chiến tranh; trong các cuộc chiến tranh trên đất nước Việt Nam này… không riêng gì liệt sỹ “bên thắng cuộc” !

img_5885.jpg
VIỆT NAM HÒA BÌNH THỐNG NHẤT / ĐỘC LẬP – DÂN CHỦ – GIÀU MẠNH...
Chẳng cần phải chủ nghĩa xã hội (viễn vông) gì sất!
  Sao Hồng

(Dân Luận)

Tạm ngưng cấp visa cho người Việt đi Mỹ từ 19 tháng 7

SÀI GÒN (NV) - Ðại diện Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn cho hay, đã tạm ngừng cấp visa đi Hoa Kỳ cho người Việt Nam kể từ ngày 19 tháng 7, 2014 vừa qua. 

Cảnh xếp hàng trước Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn chờ phỏng vấn xin visa nhập cảnh Hoa Kỳ. (Hình: vietbao.vn)

Báo Dân Trí dẫn lời ông David McCawley, đại diện Lãnh Sự tại Việt Nam của Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn cho biết, nguyên nhân của sự đình trệ nay là vì hệ thống xét duyệt cấp chiếu khán của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ bị trục trặc.

Cũng theo ông David McCawley, sự kiện trên ảnh hưởng đến hoạt động chung của Hoa Kỳ khắp thế giới, dẫn đến tình trạng tồn đọng và kéo dài thời gian xét duyệt chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ khắp nơi.

Báo Dân Trí cũng dẫn phúc trình của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nói sẽ ưu tiên xem xét, cấp phát chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ cho người nộp đơn xin định cư trước tiên. Ông David McCawley cũng bày tỏ sự hối tiếc về sự trục trặc và xác nhận rằng tình thế trên đã làm kéo dài thời gian chờ đợi xin chiếu khán nhập cảnh của người Việt Nam.

Cũng theo ông, công dân Việt Nam nên hoạch định và nộp đơn xin chiếu khán nhập cảnh ít nhất vài tuần lễ trước ngày dự định đến Hoa Kỳ.

Dư luận e rằng sự việc trên sẽ gây trở ngại cho du học sinh Việt Nam về quê thăm nhà, nay chuẩn bị xin chiếu khán nhập cảnh để trở lại Hoa Kỳ đi học.

 Người ta cũng chưa quên, vụ một viên chức tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn “bán” visa nhập cảnh Hoa Kỳ cho người Việt Nam bị bắt trước đây, đã gây dư luận xôn xao tại Việt Nam.

Việc xin visa sang Hoa Kỳ vì lý do du học hoặc du lịch thăm thân nhân có vẻ như ngày càng bị siết chặt hơn tại Việt Nam.

(Người Việt)

Việt Hoàng - Rất nên hạn chế bia rượu, nhưng phải làm như thế nào?


Dự luật của Bộ Y tế, cấm bán bia rượu sau 22 giờ đang gây ra nhiều tranh cãi trái chiều trong dư luận. Theo đánh giá chủ quan của chúng tôi thì đây là một trong những dự luật hiếm hoi có giá trị tích cực và tính nhân văn. Bia rượu là nguyên nhân gián tiếp gây ra bao nhiêu là bất hạnh cho người dân Việt Nam mà có lẽ nổi bật nhất là vấn đề sức khỏe của người dân, tai nạn giao thông, nạn bạo hành trong gia đình và các tệ nạn xã hội khác...

Loài người đã biết uống rượu từ thời cổ đại và dân tộc nào cũng biết uống rượu. Uống khi vui, uống khi buồn và uống cả khi không có lý do gì. Rượu là người bạn tri kỷ của nhiều người, nhất là đối với giới văn nghệ sĩ. Nhiều tác phẩm để đời của các thi sĩ cũng là nhờ… rượu. Rượu cũng là công cụ giao tiếp và làm cho con người xích lại gần nhau. “Bạn rượu” là một tình bạn khá thủy chung và chỉ đứng sau “bạn đời”. Nhờ rượu mà con người dễ tâm tình và bộc lộ những tình cảm sâu kín hay khó nói. Rượu cũng làm cho con người có dũng khí và mạnh mẽ hơn “nam vô tửu như kỳ vô phong”. Có những người khi không có rượu thì rất nhút nhát nhưng khi rượu vào rồi thì mặc sức ba hoa, cho nên mới có câu “rượu vào lời ra”…
14566310579_ebca5a4717_n.jpg

Cũng như bao thứ khác trên đời, rượu cũng có tính hai mặt. Tích cực và tiêu cực. Ngoài những tích cực của rượu đã nêu trên thì rượu cũng là một chất gây kích thích, nếu uống đủ liều lượng thì rượu có tác dụng an thần, giảm lo âu và mệt mỏi, tăng hưng phấn và kích thích thần kinh làm việc tốt hơn… Nhưng nếu uống quá độ thì rượu sẽ gây rối loạn tâm thần, khiến cho người uống mất tự chủ và không điều khiển được bản thân và đây chính là cội nguồn gây ra đau khổ và bất hạnh cho những người xung quanh và cho chính bản thân người uống.

Đàn ông thì hầu như ai cũng biết uống rượu nhưng uống như thế nào lại là cả một câu chuyện dài và không có hồi kết. Người Việt Nam có lẽ là vô địch thế giới về uống rượu và sở hữu các loại rượu. Ngoài những loại rượu thông thường mà cả thế giới thường uống như rượu trắng (vốt-ca), rượu cô-nhắc, uýt-ky, rượu màu (vang), rượu mùi (hoa quả)… thì người Việt còn có hàng trăm loại rượu khác và chủ yếu là rượu ngâm các loại cây thuốc và động thực vật. Từ những loại cây cỏ chữa bệnh cho đến các loại động vật, từ bò cạp cho đến chúa sơn lâm, từ mật mèo đến cao hổ cốt… tất tật đều được cho vào rượu ngâm để uống. Người ta tin rằng những loại thuốc đó có tác dụng bồi bổ sức khỏe và giúp đàn ông mạnh mẽ hơn trong chuyện chăn gối dù rằng chưa có một nghiên cứu khoa học cụ thể và nghiêm túc nào. Tất cả chỉ là truyền thuyết và đồn thổi.

Xuất phát từ những niềm tin mơ hồ, người Việt Nam rất chịu khó sưu tầm các loại rượu “đặc biệt” và xem đó là cách tốt nhất để nâng cao sức khỏe, thay vì chịu khó vận động và tham gia các môn thể thao. Người Việt lạm dụng rượu một cách đáng báo động. Người người uống rượu, nhà nhà uống rượu. Uống rượu mọi lúc mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh. Người ta có thể uống rượu ngay từ buổi sáng sớm, buổi trưa và nhất là buổi tối. Sau giờ làm việc thì hầu hết đàn ông ở các thành phố lớn đều có mặt ở quán nhậu. Tùy theo thu nhập và túi tiền để ngồi ở những chỗ khác nhau, từ những nhà hàng sang trọng cho đến quán cóc bên đường với mấy cốc bia cỏ hay xị rượu đế với gói lạc rang hay quả me quả cóc.

Rượu bia thật sự đang hủy hoại nòi giống Việt, đã có quá nhiều hệ lụy do việc lạm dụng bia rượu gây ra và chúng ta nên lấy làm lo ngại khi người Việt Nam chiếm ngôi vô địch Đông Nam Á về tiêu thụ bia rượu với hơn 3 tỉ lít bia và hàng triệu lít rượu các loại mỗi năm.

Vì sao người Việt lại uống rượu bia nhiều như vậy? Đây là một chủ đề khá rộng lớn mà chúng tôi chỉ có thể trình bày tới độc giả trên cái nhìn và đánh giá của những người hoạt động chính trị chuyên nghiệp.

Lý do đầu tiên khiến người Việt uống nhiều bia rượu xuất phát từ sự mất niềm tin vào tương lai. Một người có niềm tin vào cuộc sống và có những kế hoạch rõ ràng cho tương lai sẽ không bao giờ lạm dụng bia rượu vì họ cần tỉnh táo để suy tính và làm việc nhằm đạt được mục đích của mình, kế hoạch của mình.

Lý do thứ hai là người Việt luôn bất an trong cuộc sống, họ lo lắng cho công việc và cuộc sống hiện tại lẫn cả tương lai, họ không hiểu ngày mai sẽ ra sao và vì thế họ tìm đến rượu để quên đi hiện thực hoặc để tự trấn an mình.

Lý do thứ ba đó là do người Việt bế tắc trong cuộc sống, do sống trong một môi trường căng thẳng và một cuộc sống khó khăn cho nên họ phải tìm đến với rượu để giải sầu và quên đi những nhọc nhằn hàng ngày.

Lý do thứ tư: Người Việt không có không gian để chia sẻ và giao lưu với nhau. Ngoài giờ đi làm về họ không tham gia vào một tổ chức dân sự nào (do xã hội dân sự vẫn bị nhà nước cấm đoán). Quán rượu là nơi để họ gặp gỡ bạn bè, người quen, đồng nghiệp để trút bầu tâm sự, bàn chuyện nhân tình thế thái hay giản dị hơn là để chửi bới mấy ông sếp khó tính và khó chịu của họ.

Lý do cuối cùng là thói quen. Khi việc ăn nhậu đã trở thành “chuyện thường ngày ở Huyện” và đã ngấm vào máu của mỗi người thì chuyện bia rượu đôi khi chỉ vì thói quen, ở nhà thấy buồn và bứt rứt, không khí của quán xá đã trở thành thân quen và gần gũi…

Ngoài những tác hại mà rượu bia gây ra như chúng ta đã biết thì còn một tác hại vô cùng lớn nữa là nó làm suy kiệt tinh thần và thể chất của người Việt. Thử hỏi một dân tộc suốt ngày ăn nhậu và say xỉn như vậy thì còn làm được cái gì cho bản thân mình, cho đất nước mình? Chưa kể mỗi năm mất một lượng tiền khổng lồ lên đến hàng tỉ đô-la cho bia rượu. Làm thế nào để hạn chế việc uống bia rượu và nên bắt đầu từ đâu?

Thật lòng là chúng tôi nghi ngờ rằng dự luật này sẽ không được thông qua. Dù rất nhân văn nhưng khó thực thi và quan trọng là nó đi ngược lại với lợi ích của chính quyền Việt Nam và các nhóm lợi ích liên quan đến việc sản xuất và nhập khẩu bia rượu. Với chính quyền Việt Nam thì khi một đám đông dân chúng suốt ngày lê la ở quán nhậu hò hét và chém gió mà không hề quan tâm đến chính trị và tình hình đất nước thì đó là điều rất tuyệt vời. Mọi việc đã có đảng và nhà nước lo, cuộc đời cứ đến đâu hay đến đó, sống hôm nay không cần biết đến ngày mai. Nếu đã vì tương lai và tiền đồ của nòi giống thì không có chuyện chính quyền thả cửa cho nhập khẩu bia rượu vô tội vạ vào Việt Nam đến như vậy. Giấy phép nhập khẩu bia rượu phải mua với giá rất cao vì vậy các vị cấp giấy phép này sẽ phản đối Bộ Y tế để dự luật này không được thông qua và đồng tiền sẽ chiến thắng.

Chính vì sự thiếu thống nhất, lợi ích phe nhóm và sự bất lực của chính quyền nên dự luật này sẽ chết yểu như bao điều tốt lành khác. Nếu chúng tôi là đảng cầm quyền thì chúng tôi sẽ làm như sau:

1) Kiểm tra nghiêm ngặt chất lượng của tất cả các loại đồ uống có cồn trước khi được lưu thông ra thị trường. Một cơ quan kiểm định độc lập của nhà nước sẽ làm việc này với tất cả các nhãn hiệu đăng ký kể cả các loại rượu thuốc. Nhà nước khuyến khích và bảo hộ cho các loại rượu có đăng ký nhãn mác và chất lượng. Nhà nước không khuyến khích và không chịu trách nhiệm với các sản phẩm không có nguồn gốc xuất xứ và đăng ký. Một lộ trình (khoảng 5 năm) sẽ được đặt ra để chấm dứt việc sản xuất và lưu hành các loại rượu không đăng ký nhãn mác và chất lượng.

2) Thay vì cấm đoán người dân, nhà nước sẽ làm gương trước bằng cách cấm cán bộ và công chức của nhà nước uống rượu bia trong giờ hành chính. Nếu người dân phát hiện ra một công chức nhà nước uống rượu bia trong lúc làm việc thì có thể gọi điện cho cơ quan chức năng đến giải quyết. Các cơ quan nhà nước sẽ cấm hoàn toàn việc sử dụng bia rượu kể cả trong các ngày lễ.

3) Tăng thuế trên các mặt hàng như bia rượu và thuốc lá để hạn chế sử dụng. Với người dân nhà nước sẽ qui định giới hạn tuổi tối thiểu để có thể mua và tiêu thụ bia rượu. Các địa điểm bán rượu phải có giấy phép và có qui định về giờ giấc.

4) Sẽ có những hình phạt cụ thể đối với những người say rượu đánh nhau và gây gổ, kể cả tại nhà riêng nếu có người tố cáo. Nghiêm cấm tuyệt đối việc người dân tham gia giao thông uống rượu với phương châm “đã uống bia rượu là không được lái xe”.

5) Mở rộng tối đa không gian cho xã hội dân sự và các khu tập thể dục thể thao. Chính quyền cần hướng dẫn và tạo mọi điều kiện để người dân tìm đến những thú vui lành mạnh khác để nâng cao trí tuệ, tinh thần và sức khỏe thay vì uống bia rượu…

Một con người hoàn thiện là phải khỏe mạnh về thể lực và minh mẫn về tinh thần. Một gia đình và một quốc gia cũng vậy. Dân tộc Việt Nam chỉ có thể hùng mạnh và phát triển khi mỗi công dân Việt nam khỏe mạnh và minh mẫn. Tất nhiên từ bỏ thói quen lạm dụng bia rượu là không dễ. Cần có sự hợp tác và cảm thông giữa người dân và chính quyền. Một dự luật dù có đúng đắn đến đâu đi nữa nhưng nếu không được người dân hợp tác thì cũng sẽ thất bại. Và muốn có sự hợp tác của người dân thì trước hết chính quyền phải minh bạch và có uy tín.

Việt Hoàng

(Thông luận)

Trương Nhân Tuấn - Mất lòng trước được lòng sau?

6665682_0.jpg
Ảnh minh họa cho bài viết (Do người đăng chọn khi đọc bài viết)
Trong nỗ lực phát triển đất nước, đôi khi nhà cầm quyền phải có những quyết định đau đớn, làm mất lòng dân. Như dự án làm métro ở Sài Gòn. Nhiều người lên tiếng phản đối vì công trình xây xựng đã làm tổn hại đến mỹ quan của thành phố. Những phản đối này chính đáng. Dầu vậy nhà nước cũng vẫn phải làm, vì công trình này cần thiết, đem lại lợi lộc trong trường kỳ cho đất nước và đa số người dân trong thành phố. Cảnh quan thành phố, như những công viên phải di dời, nhiều cây cổ thụ bị đốn ngã… tất cả đều có thể xây lại, trồng lại, ngay trên vị trí cũ. Vấn đề là đã có quyết tâm đó hay chưa ? Đương nhiên trong lúc công trình đang thực hiện thì nét mỹ quan của thành phố bị thuơng tổn rất nhiều. Ai lại không bất mãn ? Nhưng đó chỉ là nhất thời.

Tuy vậy, nếu nhìn sang những khía cạnh khác của việc phát triển, ta thấy nhiều việc trái tai gai mắt (nếu không nói là vô nhân đạo) đã diễn ra.

Việc truất hữu ruộng đất của dân nghèo. Việc này đã tạo nên một lớp giàu mới trong xã hội VN. Chưa ai tính toán được những đóng góp của tầng lớp giàu này cho việc phát triển đất nước là bao nhiêu. Nhưng hậu quả của nó đã tạo ra trong xã hội VN một tầng lớp thật sự « vô sản », không nhà không cửa, không công ăn việc làm… sống bên lề của xã hội. Tức là tạo ra một gánh nặng cực kỳ lớn cho đất nước, mà chưa thấy ai đưa ra phương cách để xoa dịu. Vấn nạn này đã được nhiều người nói qua.

Hiện tượng khác đáng chú ý nhất hiện nay là chủ trương dẹp việc buôn bán hàng rong. Theo tôi người lãnh đạo không thể cho phép thi hành một chính sách thất nhân tâm mà hậu quả của nó lên nền kinh tế quốc dân nặng nề không lường trước được. Thật là khó để so sánh tình trạng kinh tế giữa một nước Pháp tiên tiến, đứng hàng thứ 5 về phát triển trên thế giới, với VN một nước nghèo đang cố gắng phát triển. Nên biết, những ngành nghề « artisan-commerçant » (tương đương với hàng rong của VN) của Pháp không chỉ đóng góp lớn nhất cho kinh tế Pháp mà còn là một « xí nghiệp » tạo ra công ăn việc làm nhiều nhất cho nước Pháp. Theo tôi, kinh tế VN hôm nay còn gượng gạo đứng được là nhờ lực lượng mua bán lẻ ngoài luồng (hàng rong). Nếu lãnh đạo VN chịu áp lực của các tập đoàn kinh tế, đã tạo được hàng loạt các của hàng tại các tỉnh thành của VN, muốn độc quyền trong việc mua bán, thì không bao lâu VN sẽ có một khối người nghèo khổ không có việc làm, cũng như hàng vạn hàng triệu gia đình phải lâm vào cảnh nghèo đói.

Việc cấm hàng rong hiện nay tại VN, theo tôi, có có lợi cho bọn sai nha, lợi dung việc này để « ăn cướp » của người dân. Ngoài ra là làm lợi cho các tập đoàn kinh tế quốc tế.

Việc này, người có thẩm quyền, nên nghĩ lại.

Tựa đề bài viết do người đăng đặt.
   
(Dân Luận)

Hơn 60 đảng viên CSVN kỳ cựu đòi dân chủ, kiện Trung Quốc

HÀ NỘI (NV) .- Hàng chục đảng viên kỳ cựu và từng có chức vụ cao trong đảng CSVN vừa gửi thư ngỏ tập thể kêu gọi đảng này từ bỏ đường lối sai lầm và kiện Trung Quốc.

Đại biểu tham dự cuộc họp đại hội đảng CSVN hồi Tháng Giêng 2011 giơ cao thẻ đảng trong một lần biểu quyết. (Hình: STR/AFP/Getty Images)
Ký tên trên bức thư ngỏ gồm 61 người, trong đó có những đảng viên kỳ cựu và nổi tiếng như tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, giáo sư Hoàng Tụy, giáo sư Tương Lai, Nguyễn Trung, Huỳnh Kim Báu, Nguyên Ngọc, Hạ Đình Nguyên, Kha Lương Ngãi, Tô Nhuận Vỹ, Lữ Phương, Nguyễn Thị Kim Chi, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Đăng Doanh, Chu Hảo, Phạm Chi Lan...

Bức thư ngỏ mở đầu rằng “Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết, được coi là dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin. Công cuộc đổi mới gần ba nươi năm qua nhằm sửa chữa sai lầm về đường lối kinh tế nhưng chưa triệt để, trong khi vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc. Đường lối sai cùng với bộ máy cầm quyền quan liêu, tha hóa tạo điều kiện cho sự lộng hành của các nhóm lợi ích bất chính gắn với tệ tham nhũng, đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh.”

Bức thư khuyến cáo chủ trương của những kẻ cầm đầu đảng độc tài, lèo lái đất nước bám theo Trung quốc nên đã bị Trung Quốc “mưu đồ đặt nước ta vào vị thế lệ thuộc, phục vụ lợi ích của Trung Quốc”. Hệ quả là “Sau Hội nghị Thành Đô năm 1990 đến nay, Việt Nam đã có nhiều nhân nhượng trong quan hệ với Trung Quốc, phải trả giá đắt và càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới.”

Hành động rõ nhất và nổi bật nhất gần đây nhất là việc Trung Quốc leo thang, muốn bá chiếm Biển Đông trong khi bề ngoài vẫn hô hò hữu nghị “4 tốt, 16 chữ vàng” cũng như “cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa”.

Càng ngày càng lún sâu vào vòng lệ thuộc Trung Quốc, bức thư ngỏ tập thể nói trên cáo buộc “thế lực bành trướng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong mưu đồ biến Việt Nam thành “chư hầu kiểu mới” của họ. Tiến đến thực trạng đau lòng này “phơi bày sự yếu kém cả về trách nhiệm và năng lực của lãnh đạo đảng và nhà nước trong thời gian qua”.

Chính vì vậy, bức thư ngỏ của 61 đảng viên kỳ cựu của đảng CSVN kêu gọi “Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, với trách nhiệm và vị thế của mình, ĐCSVN tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa.”

Để có thể đoàn kết toàn dân đối phó với hiểm họa phương bắc, bức thư ngỏ đề nghị “Ngay từ bây giờ, cần thảo luận thẳng thắn và dân chủ trong toàn Đảng và trong cả nước về tình hình mọi mặt của đất nước và những thách thức trước bước đi mới rất trắng trợn của Trung Quốc bá chiếm Biển Đông, vạch ra con đường chuyển đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu và lệ thuộc nghiêm trọng vào Trung Quốc hiện nay, xây dựng hệ thống nhà nước pháp quyền thật sự dân chủ. Chỉ có như vậy mới phát huy được sức mạnh trí tuệ, tinh thần và vật chất của dân tộc Việt Nam, tăng cường được đoàn kết, hòa hợp dân tộc và tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước.”

Bức thư kêu gọi những kẻ cầm đầu đảng CSVN “từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng” hầu “thoát khỏi sự lệ thuộc Trung Quốc” mà có như vậy mới “có đối sách trước mắt và lâu dài bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống”. Cần phải loại bỏ chính sách “không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba” bởi vì như vậy là “tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế”.

Bức thư kêu gọi “Việc cần thiết và cấp bách hiện nay là phải nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa của nước ta. Đồng thời, Việt Nam cần chủ động cùng với các nước ven Biển Đông thỏa thuận giải quyết những vướng mắc về chủ quyền trên biển với các đảo, bãi đá; củng cố sự đoàn kết, thống nhất của các nước ASEAN, trước hết là giữa các quốc gia ven biển, trong cuộc đấu tranh chống mọi hành động bành trướng của Trung Quốc muốn  độc chiếm vùng biển này thành ao nhà của mình.”

Trước đây, từng có những bức thư ngỏ kêu gọi đảng CSVN thay đổi, từ bỏ chủ nghĩa cộng sản không tưởng có rất nhiều đảng viên CSVN ký tên kêu gọi kèm theo cả những người không ở trong đảng. Bức thư vừa được phổ biến trên một số mạng xã hội kêu gọi đảng CSVN từ bỏ chủ thuyết sai lầm và thúc hối kiện Trung Quốc chỉ xưng tên 61 đảng viên.(TN)


( Người Việt )

Vì sao Nike, Adidas bỏ Trung Quốc sang Việt Nam đặt hàng?

Gia tăng chi phí lao động và môi trường cũng như hành động công nghiệp mới đây tại Trung Quốc đã khiến một số các thương hiệu quốc tế lựa chọn để di dời một số dây chuyền sản xuất của họ từ Trung Quốc vào Việt Nam. 

Vì sao Nike, Adidas bỏ Trung Quốc sang Việt Nam đặt hàng?
Ảnh minh họa.

Theo Hiệp hội Da giày Việt Nam (LEFASO), trong 6 tháng năm 2014, các nhà sản xuất giày dép khổng lồ như Nike, Adidas và Puma đã chuyển các đơn đặt hàng từ Trung Quốc và Bangladesh vào Việt Nam.

Tỉ lệ dịch chuyển là 25%, cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Mục tiêu của nguồn cung ứng dịch vụ, là một trong 10 nhà phân phối lớn nhất và Dansu Group có kế hoạch đầu tư vào Việt Nam.

Các công ty được sử dụng để đặt hàng và sản xuất tại Trung Quốc chỉ là những tập đoàn túi xách Lancaster và Sequoia Paris cũng chuyển đầu tư vào Việt Nam để tránh rủi ro.

Cũng theo Hiệp hội Da giày Việt Nam, Timberland và Puma muốn mở rộng sản xuất tại Việt Nam để đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng đối với các đơn đặt hàng chuyển từ Trung Quốc.

Gia tăng chi phí lao động và môi trường cũng như hành động công nghiệp mới đây tại Trung Quốc đã khiến một số các thương hiệu quốc tế lựa chọn để di dời một số dây chuyền sản xuất của họ từ Trung Quốc vào các nước Đông Nam Á như Việt Nam, LEFASO lý giải nguyên nhân.

Được biết, Việt Nam hiện là một trong 5 nước có kim ngạch xuất khẩu giày dép lớn trên thế giới. Tại Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản, nhập khẩu giày dép từ Việt Nam đứng vị trí thứ 2 sau Trung Quốc.

6 tháng đầu năm 2014, sản phẩm da giày xuất khẩu Việt nam vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng cao là 17,8%; ba lô, túi xách xuất tăng trưởng đạt 40,7% so với cùng kỳ năm 2013.

Từ khóa : Hiệp hội da giày Việt Nam, Trung Quốc, Adidas, Nike, giầy dép, gia tăng, Liên minh châu Âu, Bangladesh

Mạnh Nguyễn

Thông Báo

Hiện nay trang "TTHN" đã bị một vài nhà mạng chặn. Để có thể theo dõi xin bạn đọc dùng trang đệm http://webwarper.net (tốt nhất) để truy cập. Hoặc đơn giản hơn bạn dùng "Cách vượt tường lửa đơn giản bằng các web translators". Bằng cách dùng trang dịch sang tiếng Việt của Google, viết đầy đủ tên miền http://tintuchangngayonline.com vào phần cần dịch, sau đó bấm vào phần dịch hiển thị bên tay phải.

Suy ngẫm

Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân... Dân chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. — Hồ Chí Minh

Lưu ý viết comments!


Chúng tôi hoan nghênh đón nhận và xuất bản những ý kiến khách quan, có tính xây dựng, tôn trọng cộng đồng. Nhưng từ chối hoặc xóa bỏ bất cứ lời bình nào không hợp thuần phong mỹ tục, các ý kiến cực đoan, không tôn trọng người khác.
Cám ơn sự đóng góp và hợp tác của bạn đọc.
 
Support : Creating Website | IT Team | TTD
Copyright © 2011. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Template Created by IT team Published by TTD
Proudly powered by Blogger