TTHNOL
Tin Cập Nhật :
Bài Mới

Đăng bởi Hai Hoang Van on Thứ Ba, ngày 30 tháng 8 năm 2016 | 30.8.16

Lời người dịch: Dù Putin lo bảo vệ quyền lực cá nhân cho đến cuối đời trong lo sợ, nhưng lại hô hào dân chủ giả hiệu và tinh thần dân tộc cực đoan để tìm sự ủng hộ của dân chúng. Vì Putin ủng hộ cho chế độ phi nhân tại Syria và xâm chiếm Bán Đảo Crimea để phô trương sức mạnh quân sự cho thế giới và dân chúng, nên gây nhiều hậu quả bất lợi cho nước Nga. Do ảnh hưởng của giá dầu xuống thấp và các biện pháp phong toả mà tình hình kinh tế suy vi, Nga không thể tiếp tục tài trợ cho các phiêu lưu quân sự và gia tăng phúc lợi cho dân chúng. Bất ổn xã hội tăng cao và động loạn triền miên nên Nga không thể phát huy tinh thần dân chủ và đoàn kết chính trị. Sụp đổ của Nga như Liên Bang Xô Viết và các nước Đông Âu sẽ là một hồi kết để hạ màn cho chế độ của Putin, nhưng đó là một triển vọng khó lường đoán. Dù có tình huống nào khác tốt hơn có thể xảy ra thì người dân Nga cũng sẽ phải còn tiếp tục sống trong đau khổ.
Các lý giải tổng hợp này của Anders Åslund cũng đúng cho Việt Nam, nhưng tình hình của Việt Nam còn trầm trọng hơn nước Nga nhiều.   

H1
Kommersant Photo/Getty Images
Khi cơn sốt chiến tranh trở lại Ukraina, thì lý do tại sao Tổng thống Nga Vladimir Putin, từ một con người mơ ước tạo ra hiện đại hóa lại thành một kẻ chuyên quyền hung hăng, là một vấn đề được làm sống lại. Cho dù với lý do nào đi nửa – nổi lo sợ cho sự an toàn của riêng mình hoặc ý nghĩa về sự bất bình thuộc lịch sử, hoặc là cả hai – khi Putin không có khả năng để cải cách cho nền kinh tế của Nga, thì dường như chắc chắn là ông sẽ sụp đổ.

Tổng thống Nga Vladimir Putin ở vào thời điểm gây được nhiều chú ý trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ cũng giống như Hillary Clinton và Donald Trump. Như theo các chuyên gia an ninh khả tín cho biết rằng Putin có tay chân thâm nhập được các vào máy vi tính của Đảng Dân chủ và lọt qua các kết quả cuả WikiLeaks, nên Putin dường như đang cố làm thiên lệch cuộc bầu cử theo cách của Trump. Bên cạnh việc kêu gọi Nga thâm nhập vào các điện thư của Clinton, Trump dường như đã trả ơn cho Putin bằng cách chấp nhận các lý do của Putin trong việc sáp nhập Crimea và phủ nhận sự hiện diện của quân đội Nga ở miền Đông Ukraine. Nhìn trong con người của Putin, nhiều nhà quan sát thấy có cả lý tưởng lãnh đạo của Trump: độc đoán, không kềm chế và có phong cách riêng.

Trở lại về vấn đề của Nga, Putin đã thậm chí vượt trội hơn Trump trong việc chế ngự các tin tức. Tất nhiên, ông có bộ máy tuyên truyền hùng hậu của Điện Kremlin trong tầm tay, một trong số bộ máy này là không ngừng phóng chiếu hình ảnh của ông như là một Nga Hoàng toàn năng và toàn trí qua hình thức sùng bái cá nhân trong phong cách mới của truyền hình. Tuy nhiên, bất chấp sự hiện diện của một Sa Hoàng khôn ngoan này, nền kinh tế Nga đã gần như nổ tung, dường như đang đi theo một tiến trình trì trệ như thời Leonid Brezhnev, nếu không nói là tệ hơn.

Với thành tích về chủ trương phiêu lưu quốc tế và vụng về trong kinh tế, chuyện không có gì là ngạc nhiên khi Putin đã cuốn hút và gây quan tâm cho các nhà bình luận của Project Syndicate về 16 năm cầm quyền của ông. Ivan Krastev của Center for Liberal Strategies ở Sofia có thể nắm bắt được quan điểm của các nhà bình luận này một cách hay nhất: “chúng ta bị mê hoặc bởi Tổng thống Nga không phải vì Putin là hợp lý, hoặc thậm chí vì ông là mạnh hơn, nhưng vì ông chủ động sáng kiến”, trong khi các nhà lãnh đạo phương Tây dường như quá nhút nhát và/hoặc bị tê liệt trong hành động.

Thuần lý trong ngang bướng

Vladimir Putin là ai và điều gì thúc đẩy ông ta? Khi Putin nắm quyền vào năm 2000, ít ai biết về ông mà mọi người có xu hướng nhìn thấy những gì họ muốn biết. Sau khi nhìn vào đôi mắt của Putin, cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush nói rằng ông có thể “nhận được một ý nghiã trong tâm hồn của Putin”, ông nhìn thấy Putin là “một người dấn thân cao độ vì lợi ích tốt nhất của đất nước”. Chris Patten, Ủy viên Ngoại vụ của Liên Âu và có quan hệ với Putin, qua các cuộc gặp gỡ này, ông có một ấn tượng tối tăm hơn nhiều: “Putin nhìn chúng tôi trong ánh mắt và nói dối, gần như chắc chắn ông nhận thức rằng chúng tôi biết ông đang nói dối”.

Ngày nay, việc đánh giá tốt đẹp về Putin mà Bush thêu dệt đã đột nhiên biến mất trong số các nhà lãnh đạo của thế giới, một vài người trong giới này như Thủ tướng Đức Angela Merkel chẳng hạn, họ đã có những kinh nghiệm tương tự như Patten. Nhưng đánh giá càng đáng ngờ nhiều hơn này đã chỉ đem lại những vấn đề khác. Có phải Putin là một bậc thầy về  chiến lược luôn dẫm chân lên các đối thủ, gần đây nhất là ông tìm cách gần gủi hơn với Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdoğan trong khi đồng thời tăng thêm căng thẳng mới với Ukraine không? Hoặc có phải Putin là một kẻ vụng về liên tục, người không nhận ra các chiến thắng về mặt chiến thuật ở Ukraina và Crimea, hoặc trong việc ký kết thỏa thuận về năng lượng với giá hạ cho Trung Quốc, tất cả là những thất bại về mặt chiến lược mà nó đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho các lợi ích lâu dài của Nga không?

Adam Michnik, nhà lãnh đạo của phe đối lập chống Cộng sản của Ba Lan trước năm 1989, ông thấy tính cách hung hãn quốc tế của Putin như là nổi lên từ “quan điểm bất thường mà cả thế giới đã phân biệt đối xử chống lại Nga trong ba thế kỷ qua.” Tuy nhiên, Michnik nhấn mạnh rằng theo quan điểm bất động của phương Tây, quan điểm lệch lạc này về lịch sử đã khiến Putin nắm lấy các chính sách có thể được cấu trúc theo một cách thuần lý. Trong xâm lược và thôn tính Crimea, “việc thu tóm bằng bạo lực đã xãy ra – và Putin biết điều đó.”

Một trong những người chỉ trích Putin gay gắt nhất trong nước (mà gần đây bị phải chạy khỏi nước Nga), đó là nhà phân tích chính trị Andrei Piontkovsky, ông đi xa hơn trong khi nhấn mạnh đến tính cách thuần lý của Putin. Ông lập luận là “Putin được hướng dẫn bởi một mục tiêu duy nhất.” Và mục tiêu đó không phải là “tham vọng đế quốc.” Thay vì thế, “mọi chính sách lệ thuộc với mục tiêu cầm quyền Nga của Putin là cho đến khi nào mà ông còn sống”. Các hành động của ông ta không được thúc đẩy bởi một ham muốn đầy bệnh hoạn cho quyền lực, nhưng đang “dựa trên các mối quan tâm hoàn toàn thực tế về sự an toàn cá nhân của mình,” Piontkovsky khẳng định như vậy. Nói một cách đơn giản, Putin “hiểu các quy luật của hệ thống độc tài mà ông đã giúp xây dựng lại nước Nga.”

Nina Khrushcheva của Trường phái mới đồng ý khi lập luận là lo sợ của Putin cho sự an toàn cá nhân là biện minh có cơ sở. Bởi vì “Putin đã thể hiện là ít kiềm chế khi săn đuổi các đối thủ,” dù ông hiểu rằng có “các thỏa thuận bất thành văn giữa các giới lãnh đạo là không bao giờ có thể từ bỏ quyền lực một cách tự nguyện mà không lo sợ cho sự an toàn trong tương lai”. Vì vậy, số phận của người hùng là một loại hoang tưởng thường trực mà nó đòi hỏi Putin duy trì quyền lực cho đến ngày cuối đời của mình.

Để đạt được mục tiêu này, Putin đã làm vô dụng một nền dân chủ còn non  trẻ của Nga và thậm chí bịa ra một ý thức hệ giả tạo – “một nền dân chủ với chủ quyền tối thượng” mà trong đó, như cựu Tổng thư ký Liên minh  Bắc Đại Tây Dương (NATO) Anders Fogh Rasmussen nói: “tổng thống loại bỏ tất cả đối lập, hạn chế tự do của truyền thông vàrồi thì ông nói với người dân rằng họ có thể lựa chọn các nhà lãnh đạo của họ.”

Mối quan tâm của Putin cho an toàn cá nhân cũng đi theo một con đường dài hướng tới việc giải thích lý do tại sao ông đã kích động sự nhiệt tình  tinh thần dân tộc ở trong nước. Vladislav Inozemtsev của Moscow’s Higher School of Economics thấy trong con người của Putin và cách cai trị của ông là một dấu hiệu lờ mờ của chủ nghĩa phát xít, mà theo định nghĩa của  nhà sử học Robert O. Paxton là: “Mối bận tâm đầy ám ảnh về sự suy sụp của cộng đồng, ô nhục, hoặc mang tâm trạng là nạn nhân, tinh thần sùng bái cho đoàn kết, tinh thần nhiệt huyết và thuần khiết.”

Viễn kiến này hỗ trợ cho sự khẳng định của Harold James thuộc Đại học Princeton. Đó là một lỗi lầm nghiêm trọng để biến “chính sách của Điện Kremlin thành một bi kịch tâm lý mà chỉ có thể hiểu được thông qua một cuộc thăm dò sâu xa về tinh thần của nước Nga.” Kết quả của một tìm kiếm như thế chỉ là “các quan niệm sai lầm tràn lan về những gì đã thúc đẩy làm cho Putin thay đổi từ một lập trường có vẻ như đang hiện đại hóa, hòa giải, và thậm chí thân phương Tây” trong đầu nhiệm kỳ tổng thống chuyển sang một  “chủ nghĩa xét lại hung hăng” ngày nay.

Đáp ứng trước sự đe doạ của một quyền lực đang suy vong

Joseph S. Nye của Đại học Harvard, người có tiếng nói hàng đầu trong học giới về chính sách đối ngoại của Mỹ, ông nhìn thấy “một tình trạng suy vong trường kỳ” của nước Nga, nhưng trong đó “Nga vẫn còn đặt ra một mối đe dọa rất thực tế với trật tự quốc tế ở châu Âu và các nơi khác.” Vấn đề vượt qua khỏi Putin là: “Các quốc gia đang suy vong – thí dụ như Đế quốc Áo-Hung vào năm 1914 – có xu hướng trở nên ít sợ rủi ro và do đó mà họ tạo ra nguy hiểm hơn nhiều.” Thực ra, đối với Nye, mối đe dọa của Nga đặt ra “vượt xa khỏi Ukraine,” nơi mà Putin thôn tính Crimea và sự xâm nhập vào khu vực phía đông Donbas đã đặt ra một thách thức nghiêm trọng nhất đối với trật tự thế giới từ năm 1989. Như vậy, phương Tây phải đứng lên để đáp ứng lại thách thức của Putin, nhưng không phải là làm “cô lập Nga hoàn toàn.”

Shlomo Ben-Ami, cựu Bộ trưởng Ngoại giao Israel, theo cách lý luận này trong một bước sâu xa hơn. “Đối với một số quốc gia, thất bại về mặt chính trị hay quân sự là chuyện không thể nào chịu đựng được, quá nhục nhã đến độ mà các nước này sẽ làm bất cứ điều gì để lật đổ những gì họ xem như là một trật tự quốc tế bất công. Ben-Ami lập luận rằng:” Mặc dù Putin có thể bị thúc đẩy nhằm để tự bảo tồn, Putin thực sự cảm thấy bị phẩn uất.“ “Chiến lược mới để báo thù ” của Nga có vẻ như là một phản ứng tự nhiên với sự nhục mạ trong thất bại của họ trong Chiến tranh Lạnh và sự bần cùng đi kèm với sự sụp đổ kinh tế của đất nước trong những năm 1990.

Có thể làm gì để kiểm soát đất nước và lãnh đạo bị thúc đẩy bởi các cảm giác nhục nhã? Ben-Ami tiếp tục lập luận là: “Một quyền lực theo chủ  trương xét lại có thể bị phản đối với sự nhiệt tình tương ứng” hoặc người ta có thể chờ đợi cho phản ứng này “đạt đến giới hạn của sức mạnh quân sự và kinh tế” và nổ tung giống như Liên Xô. Những giấc mơ của Putin về nước Nga “duy trì thiên hướng và các đặc điểm của một cường quốc: một nền văn hóa và lịch sử phong phú, tầm vóc quy mô, khả năng kinh khủng về hạt nhân, ảnh hưởng mạnh mẽ trên khắp vùng Âu Á, và năng lực để có một nơi điều chỉnh trong một vài cuộc xung đột.” Nhưng  Putin dường như mù quáng trước các giới hạn về các nguồn lực của nước Nga.

Đối với Richard N. Haass, Chủ tịch Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, thì việc quyết định của Putin gửi quân sang bán đảo Crimea và sau đó là phía Đông Ukraine đã dẫn đến việc không chỉ làm phật ý phương Tây, nhưng là một phần của nỗ lực không ngừng để tăng cường “nắm quyền lực của mình trong nước.” Haass không ủng hộ việc kết hợp Ukraine vào khối NATO, nhưng ông đề xuất một sách lược đa phương. “Chính sách của phương Tây là nên tìm cách làm đe doạ chiến lược của Putin, bằng cách tăng cường cho Ukraine về phương diện chính trị và kinh tế, hỗ trợ an ninh và đặt thêm các biện pháp trừng phạt kinh tế Nga.

Ulkraine và Syria là các ván cờ đầu của Điện Kremlin

KHi Ngoại trưởng Thụy Điển Carl Bildt là một trong những kiến trúc sư về Quan hệ Đối tác của Liên Âu với các quốc gia Đông Âu trong năm 2009 (cùng có sự hợp tác của Ngoại trưởng Ba Lan lúc bấy giờ là Radosław Sikorski). Kể từ khi Nga xâm lược Ukraine, các Chương trình Đối tác với các quốc gia Đông Âu đã bị chỉ trích là một sáng kiến ngây thơ. Bildt cũng không biện hộ. “Trong khi viễn kiến của Liên Âu cho một ‘châu Âu rộng hơn’ dựa vào quyền lực mềm, hội nhập kinh tế và xây dựng thể chế dài hạn, thì chính sách Nga nới rộng của Putin phụ thuộc vào sự đe dọa và bạo lực”. Chuyện không may là một tình trạng bất đối xứng còn dai dẳng. “Đối với Nga, gây thêm biến động trong ngắn hạn còn dể hơn là đối với châu Âu trong việc giúp xây dựng sự ổn định lâu dài.”

Yuliya Tymoshenko, người đã hai lần làm Thủ tướng Ukraine, bà nói rằng một tình trạng ổn định như vậy không thể phụ thuộc vào cách đặt niềm tin vào thiện chí của Điện Kremlin. Đối với bà Tymoshenko, Putin đã hành động theo một niềm tin đơn giản: “những gì ông có thể chia là để dể trị”. Đó là lý do tại sao số phận của đất nước của bà là rất quan trọng. Bà tin rằng “Những gì xảy ra ở Ukraine sẽ là một thử thách tối hậu để xem liệu việc thống nhất châu Âu và Xuyên Đại Tây Dương có chịu đựng được không” khi đối mặt với những cái bẩy mà Putin đặt ra cho họ.

Nhưng Jeffrey Sachs của Viện Địa Cầu thuộc Đại học Columbia tin rằng niềm tin của Putin là bước thoát ra khỏi các thực tế của thế kỷ XXI. “Putin dường như tin rằng Nga có thể làm đảo lộn bất kỳ tình trạng tồi tệ nào của quan hệ kinh tế với phương Tây bằng cách tăng cường quan hệ kinh tế với Trung Quốc”, Sachs ghi nhận rằng: “Nhưng những công nghệ và kinh doanh được kết hợp nhau trong toàn cầu là để phân chia thế giới thành các khối kinh tế.” Trong khi đó, “Trung Quốc biết rằng sự thịnh vượng kinh tế dài hạn phụ thuộc vào quan hệ tốt đẹp với Mỹ và châu Âu”,  điểm này dường như Putin không nhận ra, có vẻ như Putin không hiểu vấn đề “là nền kinh tế Liên Xô sụp đổ mà kết quả là do tình trạng bị cô lập từ các nền kinh tế công nghệ tiên tiến.”

Việc xâm nhập gần đây của Nga tại Trung Đông thể hiện cả hai vấn đề là sự táo bạo và các giới hạn của chủ thuyết Putin. Anne-Marie Slaughter,  cựu Giám đốc Hoạch định Chính sách tại Bộ Ngoại giao Mỹ và Chủ tịch đương nhiệm của New America, bà cho rằng: “Putin đã hành động vì lý do quốc nội – để đánh lạc hướng sự chú ý của người Nga ‘từ thất bại của nền kinh tế trong nước và để xoa dịu sĩ nhục khi xem những kẻ biểu tình ủng hộ châu Âu lật đổ chính phủ Ukraina mà ông hỗ trợ”.

Và từ khởi thuỷ, ông tin tưởng rằng Nga sẽ phải chịu ít chi phí. Đối với một nhà lãnh đạo tự đo lường cho mình theo điều kiện của một kẻ bạo dâm thô kệch”, thực tế thì “Hoa Kỳ là một cường quốc quân sự lớn nhất và linh hoạt nhất trên thế giới, đã được lựa chọn để đàm phán khi bàn tay bị trói sau lưng,” là một lời mời gọi công khai đưa tới việc gây bất hoà.

Ben-Ami nghĩ là Putin đã đạt được mục tiêu ở Syria, ngay cả khi chính quyền của Tổng thống Bashar al-Assad rút cục sẽ sụp đổ. “Sau nhiều năm đứng chung hàng ngũ, Nga hỗ trợ trong tâm điểm của trò chơi thuộc về địa chiến lược ở Trung Đông” và “đã củng cố vị trí như là một quyền lực phải được quan tâm đến”. Bằng cách tự khẳng định trong cuộc xung đột, Nga đã buộc Mỹ phải làm theo Nga. Do đó: “Các nhà lãnh đạo Trung Đông hiện nay hướng đến Moscow, không phải nhìn về Washington để gia tăng các lợi ích”.

Trận chiến Potemkin của nước Nga

Vấn đề chính của Putin ở Syria đã không phải là các phản đối của phương Tây, nhưng thực tế là nền kinh tế của Nga là quá yếu để hỗ trợ các hoạch định lớn lao của Putin trong thời gian dài. Trong vòng sáu tháng của sự can thiệp, chi phí tốn kém của việc phối trí quân đội Nga đã gây cho Putin phải triệt thoái nhiều lực lượng.

Yuriko Koike là Đô trưởng vừa mới được bầu tại Tokyo chỉ ra một cách trung thực là sự can thiệp của Putin tại Ukraine thể hiện sự yếu đuối mà  không có hành động kinh nghiệm trước đó. Bà lập luận là “chổ yếu trong tham vọng quyền lực của Putin là một nền kinh tế còn bấp bênh và chưa đủ đa dạng của Nga, và nhiều mong đợi của người Nga bình thường về các tiêu chuẩn sống được cải thiện.“

Thật vậy, vào tháng Ba năm 2014, ngay sau khi Nga chiếm đóng Bán Đảo Crimea, Sergei Guriev, cựu Viện Trưởng New Economic School ở Moscow, hiệnnay đang lưu vong, ông liệt kê những thiệt hại kinh tế lớn mà Nga gây ra như là kết quả trong một chuyến phiêu lưu sai lầm của Putin tại Ukraine. Điều này không chỉ bao gồm các “chi phí trực tiếp của hoạt động quân sự và hỗ trợ chế độ Crimean và nền kinh tế không hiệu quả”, nhưng cũng có những chi phí nhiều thương đau hơn do các biện pháp phong toả về thương mại. Kết quả của cả hai đã “làm suy yếu niềm tin của nhà đầu tư Nga và nước ngoài và gia tăng việc thất thoát vốn tư bản”.

Putin là một nhà chiến thuật, ông đã sử dụng phản ứng của phương Tây để làm lợi cho mình. Cựu Ngoại trưởng Đức Joschka Fischer và Henrik Enderlein, Giáo sư tại Trường Quản trị Hertie tại Berlin, dự đoán việc này. “Nếu phản ứng của phương Tây trước việc xâm lược của Nga tại Ukraine  giới hạn có hiệu quả trong các biện pháp trừng phạt kinh tế”, họ viết: “Putin sẽ dễ dàng hơn để có thể đổ lỗi cho phương Tây và Nga cáo buộc sự thù địch làm cho đời sống của người dân Nga bình thường suy sụp, do đó nó làm cho Putin tăng gấp đôi về chủ thuyết dân tộc hiếu chiến”.

Nhưng ý tưởng cho rằng các biện pháp trừng phạt là nguyên nhân của tình trạng khốn cùng kinh tế của Nga chỉ là một phần khác trong tuyên truyền của chế độ. Các biện pháp phong toả chỉ kết hợp các yếu kém dài hạn của nền kinh tế Nga, phản ánh trào lượng tư bản khổng lồ bị thất thoát mỗi năm. Nguyên nhân của việc này, nói như Guriev và Aleh Tsyvinski của Đại học Yale, rõ ràng đây là: “Mặc dù các cơ hội đầu tư ở Nga rất nhiều, các cơ hội này đang bị đè nặng hơn bởi những rủi ro của sự truất hưũ tài sản.” Do đó mà  “cổ đông tư nhân muốn bán cho nhà nước nhiều hơn, và lý do tại sao các công ty nước ngoài ưu tiên làm kinh doanh với các doanh nghiệp nhà nước.”

Một phần vì lý do này mà Giáo sư Simon Commander của IE Business School và tôi tin rằng nỗ lực để đa dạng hóa nền kinh tế thoát ra khỏi khu vực dầu mỏ và khí đốt đã thất bại. Hơn nữa, dưới thời Putin, khu vực công đã mở rộng nhanh chóng đến 70% của nền kinh tế, về cơ bản đảo ngược các cải cách tư nhân hóa và thị trường tự do của những năm 1990. Các người trung thành với Putin quản lý doanh nghiệp nhà nước kém cỏi và ít có sự minh bạch tối thiểu, nó làm cho vấn đề còn tệ hại hơn. Chúng tôi đã lập luận là: “Nước Nga của Putin làm ngày càng gợi nhớ đến Tổng thống Suharto của Indonesia – một hệ thống phức tạp của tư bản thân tộc và không ai có quyền sở hữu thực sự.”

Nhưng Charles Wyplosz của Trường Graduate Institute of International Studies tại Geneve đã cảnh báo chống lại các vấn đề phóng đại về khó khăn kinh tế của Nga. “Nga không phải là trường hợp của một cái rổ chờ để chứa các vấn đề kinh tế”, ông lập luận. “Tình hình hiện nay rất khác so với năm 1998”, khi thâm hụt ngân sách lớn lao của Nga và nợ công buộc chính phủ phải vỡ nợ.

Wyplosz nhấn mạnh rằng trong những năm gần đây chính phủ của Putin đã theo đuổi một chính sách kinh tế vĩ mô bảo thủ với mức khiếm hụt ngân sách nhỏ và một khoản nợ công có giới hạn, trong khi tỷ giá hối đoái của đồng rúp mất giá so với giá dầu, làm cho Nga có thể duy tình trạng thặng dư trong tài khoản thanh toán vãng lai. Vì không có tình trạng tổn thương về mặt tài chính nên đã cho phép Nga khắc phục được các biện pháp phong toà kinh tế lâu dài hơn. Và trong khi “quyết định của Putin không thực hiện các cải cách không được phổ cập mà nó có thể tạo ra một khu vực mạnh không thuộc dầu khí và có thể tác hại lâu dài cho tình trạng lành mạnh của nền kinh tế”. Ông tiếp tục lập luận là: “Tình hình này đã cho phép Putin duy trì sự hỗ trợ của đông đảo quần chúng.”

Vladimir Brezhnev?

Tuy nhiên, lựa chọn đó chỉ làm trì hoãn các việc không thể tránh khỏi. Putin là một kẻ cơ hội khéo léo, nhanh chóng chuyển biến lợi thế trong ngắn hạn khi ông cảm nhận sự yếu kém hoặc thiếu quan tâm của giới đối kháng. Nhưng ngoài mối quan tâm của ông về sự ổn định về  nền kinh tế vĩ mô, Putin dường như không có cách làm cho cải cách tạo ra cạnh tranh cho nền kinh tế của Nga.

Thật vậy, mặc dù Putin thường đem nhiều lời hứa hẹn lớn lao và hoạch định cho một tương lai rạng rỡ của Nga, thậm chí đoan chắc rằng đến năm 2003 GDP sẽ tăng gấp đôi trong một thập kỷ, ông “đã không báo hiệu bất kỳ các kế hoạch cụ thể nào để giải quyết những yếu kém của nền kinh tế Nga”, nhà kinh tế học Ba Lan Jan Winniecki nói. “Nga phải đối mặt với một thách thức tương tự như trong các năm 1970 và 1980 – và, như Putin ngày nay, các nhà lãnh đạo đã thất bại trong việc làm những gì xem ra là cần thiết.”

Do đó, George Soros lập luận là “chế độ Putin phải đối mặt với sự phá sản vào năm 2017, khi một phần lớn các khoản nợ nước ngoài tăng lên, và bất ổn chính trị có thể bùng dậy sớm hơn. “Với dự báo này, vấn đề cơ bản của Putin hôm nay là: nhờ sự cứng rắn, quá chú trọng vào đầu tư quân sự, và lơ là của phương Tây mà chế độ của ông sẽ kết thúc trong cùng một số phận sụp đổ như Liên Xô?

Nếu Nga sụp đổ, các dự đoán Michnik sẽ được xác minh là đúng. “ông trùm của băng đảng Mafia thường gặp một số phận bất hạnh”. Ông nhắc nhở chúng ta là: “tôi không nghĩ rằng Putin sẽ tiến triển nhiều trong khi hạ màn kết thúc. Tuy nhiên, trong khi đó, nhiều người – trong nước Nga và ở các nơi khác nữa – có thể phải còn chịu khổ.“

Anders Åslund

Dịch giả: Đỗ Kim Thêm

* Anders Åslund là Thành viên Cao cấp của Atlantic Council in Washington, DC. Tác phẩm gần đây nhất của ông là Ukraine: Went Wrong và How to Fix It.

Nguyên tác: The Putin Question. Tựa đề bản dịch là của người dịch.

(Ba Sàm)

Nền kinh tế Trung Quốc phụ thuộc nặng vào thương mại hàng hải, đặc biệt là năng lượng. Một cuộc phong tỏa ở bên ngoài tầm với của khu vực chống tiếp cận A2/AD của Trung Quốc có thể ngăn chặn giao thương với Trung Quốc. Thiệt hại kinh tế từ cuộc phong tỏa này có thể buộc Trung Quốc ngừng bất kỳ hành động xâm lược nào, Strategy Bridge phân tích.

Chiến đấu cơ xuất kích từ tàu sân bay Mỹ
Chiến đấu cơ xuất kích từ tàu sân bay MỹChiến đấu cơ xuất kích từ tàu sân bay Mỹ
Trong những năm gần đây, tập trung chú ý vào hiện trạng phát triển quân sự Trung Quốc chính là việc phát triển ý tưởng tác chiến từ chối hoặc buộc các đối thủ tiềm tàng phải trả giá đắt khi tiếp cận vào khu vực Tây Thái Bình Dương. Ý tưởng này trong giới hoạch định quân sự Mỹ thường ám chỉ chiến lược chống tiếp cận khu vực (A2/AD).

Theo Strategy Bridge, chiến lược trên nhấn mạnh việc sử dụng sức mạnh tấn công tầm xa được hỗ trợ bởi các hệ thống radar tối tân, các loại tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo nhằm triệt hạ lực lượng hải quân và nhằm vào các mục tiêu cố định trên đất liền. Tên lửa đất đối không và máy bay chiến đấu bảo vệ những vũ khí này khỏi những cuộc không kích của kẻ thù trong khi các tàu ngầm diesel tàng hình và các chiến hạm mặt nước mang tên lửa dẫn đường uy hiếp lực lượng hải quân hoạt động trong khu vực.

Chiến lược A2/AD cũng giả định những cuộc tấn công vào hệ thống cảnh báo không gian và liên lạc của kẻ thù. Những hệ thống này được thiết kế để phá hủy hoặc ngăn chặn lực lượng kẻ thù xâm nhập vào một khoảng không hay vùng biển nhất định.

Strategy Bridge nhận định, những khả năng trên có thể đe dọa đến khả năng Mỹ tiếp cận vùng biển gần Đông Á, cản trở giao thương của Mỹ và ngăn cản khả năng triển khai lực lượng quân sự của nước này trong khu vực. Năng lực phát triển khu vực chống tiếp cận của Trung Quốc có liên quan mật thiết với những hành động ngày càng hung hăng của nước này trong các vùng biển tranh chấp ở Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Khả năng thiết lập vùng A2/AD càng lớn thì càng có khả năng cưỡng bức các nước Đông Á trong những khu vực tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc. Việc bồi lấp phi pháp các đảo nhân tạo ở Biển Đông lại có khả năng củng cố khả năng vùng chống tiếp cận của Trung Quốc vì các đảo này sẽ là địa điểm để đặt tên lửa, máy bay và các hệ thống radar tinh vi.

Cho dù Trung Quốc và Mỹ không xảy ra chiến tranh, thì các nhà hoạch định quân sự Mỹ cũng đã dành nhiều năm tranh luận về việc có thể làm gì để đánh bại chiến lược A2/AD của Trung Quốc ở Thái Bình Dương. Một loạt các giải pháp đã được đề xuất bởi các nhà quân sự và các học giả. Bài viết trên Strategy Bridge cung cấp một cái nhìn tổng quan về tư tưởng “chống A2/AD” và kết thúc bằng một lời gợi ý về ý tưởng hiệu quả nhất.

Cụm tác chiến tàu sân bay Mỹ
Cụm tác chiến tàu sân bay Mỹ
Mỹ nghiền ngẫm “chống A2/AD”

Nhìn chung, những giải pháp mà các nhà chiến lược đề xuất Mỹ tiến hành chiến tranh cường độ cao với Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương có thể phân làm ba loại: Tiêu diệt năng lực chống tiếp cận khu vực A2/AD của Trung Quốc, tạo ra một khu vực chống lại A2/AD, hoặc tiến hành một cuộc phong tỏa tầm xa. Những chiến lược này có phần chồng chéo và những thành tố của cả ba chiến lược này có thể được áp dụng trong một chiến dịch chống Trung Quốc. Các tác giả định nhấn mạnh vào các chính sách xoay quanh một trong ba lựa chọn này.

Phá hủy năng lực chống tiếp cận Trung Quốc

Tư tưởng này nhằm phá hủy năng lực chống tiếp cận khu vực A2/AD Trung Quốc một cách trực tiếp được thể hiện quag khái niệm Trận chiến Không- Biển của Lực lượng hải quân và không quân Mỹ. Trận chiến Không- Biển và các chiến lược tương tự nhằm phá hủy lực lượng thực thi A2/AD của Trung Quốc.

Theo Strategy Bridge, cuộc chiến giành quyền tiếp cận này bao gồm việc phá hủy các tên lửa, các tàu, tàu ngầm và máy bay ngăn chặn các phương tiện khác tiếp cận, đồng thời thực hiện một chiến dịch nhằm vô hiệu hóa hệ thống cảnh báo và liên lạc nhằm tiêu diệt hệ thống tấn công tầm xa. Tư tưởng này cũng đòi hỏi gia tăng khả năng sống sót của các vũ khí hoạt động trong khu vực chống tiếp cận cũng như các hệ thống cảm biến và liên lạc của Mỹ hỗ trợ chiến dịch phức tạp nhằm phá hủy khả năng A2/AD của Trung Quốc.

Tư tưởng tác chiến nhằm phá hủy khả năng A2/AD của Trung Quốc đưa ra những kết quả đầy hứa hẹn rằng nó có thể loại bỏ các nguy cơ, nhưng tính khả thi của chiến lược này vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi. Sẽ vấp phải hàng loạt khó khăn để tấn công xuyên qua khu vực A2/AD nhằm phá hủy bệ phóng tên lửa. Có thể thực hiện với các chiến đấu cơ xuyên thủng vùng A2/AD để đánh thẳng vào mục tiêu. Dẫu vậy, máy bay vẫn ở trong tình thế bất lợi khi tìm kiếm các bệ phóng di động có thể tận dụng địa hình gồ ghề của bề mặt trái đất để che giấu.

Lực lượng không quân còn phải chiến đấu với máy bay của Trung Quốc và hệ thống phòng không của nước này. Để bảo đảm tính khả thi của kế hoạch này, đặc biệt là về lâu dài, cần áp dụng đầu tư và công nghệ mới. Đặc biệt, cần bảo vệ các thiết bị đắt đỏ nhưng dễ bị tổn thương mà Mỹ phụ thuộc trong việc triển khai lực lượng. Quan trọng không kém nữa là khả năng xác định và tấn công tầm xa vào đại lục. Cần lưu ý rằng với sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc, không thể giả định rằng Mỹ có thể chi nhiều tiền hơn Trung Quốc trong cuộc đua vũ khí này.

Tạo ra một khu vực chống A2/AD

Theo Strategy Bridge, một kế hoạch thứ hai là Mỹ và các đồng minh trong khu vực thiết lập một khu vực chống lại A2/AD, ngăn Trung Quốc tiếp cận gần những vùng biển gần mình. Khác biệt chính của kế hoạch này so với kế hoạch trước đó là không tìm cách thâm nhập vào khu vực chống tiếp cận của Trung Quốc bằng vũ lực. Thay vào đó, một vùng chống A2/AD sẽ bác bỏ các lợi thế của khu vực A2/AD của Trung Quốc trong khi gây áp lực kinh tế lên Trung Quốc để chấm dứt xung đột. Tiến sĩ Aaron Friedberg đã đề xuất khái niệm “Từ chối hàng hải” (Maritime Denial) đại diện cho các tư tưởng dạng này.

Về nguyên tắc, chiến lược “Từ chối hàng hải” sẽ tạo ra một “vùng đất không người” ngoài khơi Trung Quốc. Nếu tàu thuyền và máy bay Trung Quốc không thể di chuyển an toàn qua vùng chống A2/AD, những hành động hung hăng của Trung Quốc với những người láng giềng như hạ cánh và duy trì quân lính ở các đảo đang tranh chấp sẽ trở nên khó khăn. Thương mại Trung Quốc di chuyển qua khu vực này cũng sẽ là đối tượng để tạo áp lực nhằm kết thúc xung đột.

Tạo ra một khu vực khắc chế A2/AD có thể sử dụng một loạt các hệ thống vũ khí. Tiến sĩ Friedberg nhấn mạnh vào tiềm năng của tàu ngầm, cả hai loại có người lái và không người lái, để đánh chìm các tàu Trung Quốc xâm nhập vào khu vực chống A2/AD do khả năng tác chiến chống tàu ngầm rất yếu của Trung Quốc. Tiến sĩ Biddle và Oelrich đề cập đến việc sử dụng tên lửa chống tàu tầm xa để tiêu diệt các mục tiêu ở “vùng đất không chủ” cùng với tên lửa chống radar tầm xa để giúp hạn chế phạm vi của khu vực A2/AD của Trung Quốc.

Theo Strategy Bridge, thực hiện các kế hoạch này có thể mang lại nhiều lợi ích. Nền kinh tế Trung Quốc phụ thuộc vào thương mại đường biển, đặc biệt là về năng lượng. Việc vận chuyển sẽ phải vật lộn với nhiều khó khăn để cập cảng Trung Quốc vì phải đi qua “vùng đất không người” ở Tây Thái Bình Dương, điều này sẽ tạo áp lực kinh tế để kết thúc cuộc chiến. Bên cạnh áp lực mang tính ép buộc này, khu vực chống A2/AD sẽ làm mọi lợi thế của vùng A2/AD của Trung Quốc trong việc triển khai lực lượng và áp lực cưỡng bức các nước khác trong vùng bảo vệ.

Nếu Trung Quốc không được hưởng lợi gì từ áp lực cưỡng chế trong khu vực A2/AD, chiến lược của Trung Quốc sẽ không đạt được mục tiêu. Điều này dễ đạt được hơn là phá hủy khả năng của khu vực chống tiếp cận của Trung Quốc vì nó sẽ tấn công vào nhiều mục tiêu hơn trong phạm vi của phần lớn vũ khí Mỹ. Dẫu vậy, chống A2/AD vẫn còn dư địa cho khu vực A2/AD của Trung Quốc khả năng cản trở thương mại trên biển hoặc triển khai lực lượng. Việc mua sắm công nghệ để đảm bảo tính thực thi của kế hoạch trong dài hạn và các chi phí liên quan khác phụ thuộc vào các kiến nghị cụ thể.
[Mỹ lập ] Hải quân Trung Quốc liên tục tập trân trên biển gây căng thẳng khu vực

Strategy Bridge đánh giá, các tên lửa tầm xa, tên lửa chống radar, tên lửa chống hạm, thiết bị không người lái dưới nước, nhiều tàu ngầm được nâng cấp cũng như các cảm biến và hệ thống liên lạc dự phòng sẽ mang lại lợi ích nhưng cũng tiêu tốn khoản chi phí đáng kể. Ngoại trừ các phương tiện không người lái đang được Mỹ đầu tư rất mạnh tay, những công nghệ này sẽ cải thiện đáng kể khả năng sống sót. Những việc mua sắm trên có thể sẽ rẻ hơn mua sắm các hệ thống vũ khí uy lực hơn, yếu tố cần thiết để đảm bảo tính khả thi của chiến lược Trận chiến Không- Biển.

Phong tỏa tầm xa

Lựa chọn cuối cùng là thực hiện một cuộc phong tỏa mang tính cưỡng chế, một lựa chọn được mô tả chi tiết bởi TX. Hammes. Như đã đề cập, nền kinh tế Trung Quốc phụ thuộc nặng vào thương mại hàng hải, đặc biệt là năng lượng. Một cuộc phong tỏa ở bên ngoài tầm với của khu vực chống tiếp cận A2/AD của Trung Quốc có thể ngăn chặn giao thương với Trung Quốc. Thiệt hại kinh tế từ cuộc phong tỏa này có thể buộc Trung Quốc ngừng bất kỳ hành động xâm lược nào, Strategy Bridge phân tích.

Hải quân Trung Quốc liên tục tập trân trên biển gây căng thẳng khu vực
Lực lượng Mỹ có thể sẽ đóng quân ở đó nhằm ngăn chặn giao thông trên biển gần các eo biển Lombok, Sunda và Malacca để hoàn thành nhiệm vụ này. Để triển khai kế hoạch trên, Mỹ và đồng minh quân sự của mình sẽ phải đủ khả năng để kiểm soát giao thông ở những điểm huyết mạch trong khi vẫn đánh bại các phi vụ của Trung Quốc bên ngoài khu vực A2/AD nhằm nỗ lực tái mở lại những tuyến đường liên lạc trên biển.

Strategy Bridge cho rằng chiến lược phong tỏa tương đối khả thi và đỡ tốn kém hơn hai chiến lược còn lại vì không cần thêm nhiều nguồn lực mới để thực hiện. Chỉ cần ít nguồn lực và trang bị thực thi chiến lược này, một số tàu thuyền cỡ nhỏ để yêu cầu dừng và kiếm tra thương mại liên quan tới Trung Quốc chứ không cần đến hệ thống phức tạp để thực hiện nhiệm vụ này.

Việc mở lại các tuyến thông thương trên biển sẽ đòi hỏi Trung Quốc phải đối đầu với Mỹ bên ngoài khu vực A2/AD, nơi mà Trung Quốc gặp bất lợi nhất. Hạm đội của Mỹ có tàu sân bay chở máy bay trong khi các máy bay chiến đấu dựa trên mặt đất của Trung Quốc sẽ chỉ phát huy tốt nhất ở trong tầm chiến đấu của chúng. Khi đi xa hơn, các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân của Mỹ không ồn như tàu ngầm chạy bằng diesel của Trung Quốc.

Theo Strategy Bridge, việc huấn luyện và kinh nghiệm vượt trội của Hải quân Mỹ cũng sẽ mang lại lợi thế, đặc biệt là ở khoảng cách nằm xa khỏi bờ biển châu Á, nơi mà hải quân Trung Quốc có rất ít kinh nghiệm tác chiến. Mặt khác, cũng rất ít dư địa để Trung Quốc gây áp lực trong khu vực này. Một cuộc phong tỏa sẽ không buộc được Trung Quốc phải từ bỏ quyền kiểm soát hòn đảo đang tranh chấp trong ngắn hạn. Tuy nhiên lại nảy sinh câu hỏi về tính khả thi về chính trị của chiến lược này khi xem xét khía cạnh thương mại với Trung Quốc trong lợi ích kinh tế của các nước khác và khả năng Trung Quốc có thể sẵn sàng gánh chịu cái giá của cuộc phong tỏa tầm xa này.

Một đất nước bị Trung Quốc tấn công có thể ủng hộ chiến dịch phong tỏa và các nước lo lắng về mối đe dọa Trung Quốc trong tương lai cũng có thể hành động như vậy. Những những nước khác, đặc biệt là những nước có quan hệ kinh tế với Trung Quốc có thể sẽ do dự trong việc ủng hộ chiến lược phong tỏa tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể, đặc biệt là nếu không có các hành vi xâm lược cực đoan từ phía Trung Quốc.

Lý tưởng nhất là Mỹ sẽ không bao giờ cần tiến hành một cuộc chiến chống Trung Quốc. Thiệt hại kinh tế sẽ là rất lớn cũng như là thiệt hại về con người. Tuy nhiên, chừng nào Trung Quốc còn tiếp tục những hành vi hung hăng trên Biển Hoa Đông đi ngược lại lợi ích của Mỹ và các đồng minh thì sẽ có lý do để lên kế hoạch đánh bại chiến lược chống tiếp cận khu vực A2/AD của Trung Quốc.

Vào thời điểm này, việc nhấn mạnh chiến lược “chống A2/AD” là một cách tiếp cận lý tưởng để chuẩn bị cho cuộc xung đột ở Tây Thái Bình Dương. Không giống sự hủy hoại trực tiếp khả năng A2/AD của Trung Quốc, cách tiếp cận này sẽ không yêu cầu chi phí mới và sẽ khả thi hơn trong dài hạn. Khu vực chống A2/AD sẽ phối hợp với áp lực kinh tế của chiến lược phong tỏa, nhưng nó cũng loại bỏ những lợi thế của Trung Quốc với khu vực A2/AD.

Strategy Bridge nhận định, chiến lược chống A2/AD sẽ tiêu tốn nhiều tiền hơn chiến lược phong tỏa nhưng vẫn khả quan. Nếu lựa chọn một chiến lược chống A2/AD kéo dài, bước tiếp theo sẽ là quyết định tài trợ cho nghiên cứu quân sự nào và mua thiết bị gì cần đầu tư. Mỹ cũng nên hợp tác với các đồng minh trong khu vực trong kế hoạch thực thi. Điều này sẽ cho phép Mỹ chia sẻ gánh nặng an ninh khu vực đồng thời bổ sung thêm năng lực quân sự trong việc thiết lập khu vực chống A2/AD. Do chính phủ Mỹ đã nhấn mạnh vai trò của mình trong quan hệ với châu Á, sự chuẩn bị này cần được đưa lên ưu tiên hàng đầu.

Đặng Phương Thảo

(VietTimes)

Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn nói rằng quân đội Trung Quốc 'sẵn sàng tăng cường hợp tác với Việt Nam trong nhiều lĩnh vực như huấn luyện, phòng thủ biên giới, và các vấn đề an ninh đa phương'.

http://images.vov.vn/cr_w490/uploaded/ubwf4u9rfm/2016_08_30/VOV_BK1_MEUC.jpg

Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn nói rằng quân đội Trung Quốc 'sẵn sàng tăng cường hợp tác với Việt Nam trong nhiều lĩnh vực như huấn luyện, phòng thủ biên giới, và các vấn đề an ninh đa phương'.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam và Trung Quốc hôm nay, 30/8, hội đàm tại Bắc Kinh sau đó ra tuyên bố nói rằng hai nước láng giềng nên “thúc đẩy hợp tác quốc phòng và đóng góp vào hòa bình khu vực”.

Tân Hoa Xã dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn nói với người đồng nhiệm phía Việt Nam, ông Ngô Xuân Lịch, rằng quân đội Trung Quốc “sẵn sàng tăng cường hợp tác với Việt Nam trong nhiều lĩnh vực như huấn luyện, phòng thủ biên giới, và các vấn đề an ninh đa phương”.

Chuyến công du của ông Lịch từ ngày 28 tới ngày 31/8 đánh dấu lần đầu tiên ông tới Trung Quốc trên cương vị Bộ trưởng Quốc phòng.

Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Trường, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Phát triển Quan hệ Quốc tế ở Hà Nội, nhận định với VOA Việt Ngữ rằng chuyến đi này “cho thấy tầm quan trọng của quan hệ quốc phòng Việt Nam và Trung Quốc”.

Ông nói thêm:

“Điều đó không có nghĩa rằng quan hệ với Trung Quốc là ưu tiên cao nhất. Đó là ưu tiên, nhưng mà nó không phải là tất cả. Trong điều kiện Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ra khu vực này, bằng tất cả những biện pháp, kể cả quyền lực ngầm, việc đi thăm Trung Quốc không có nghĩa là làm cho quan hệ quá gần gũi, hay là nó nghiêng về một bên nào. Nó cho thấy là để thích ứng và đối phó với sự thách thức từ Trung Quốc do điều kiện địa chiến lược của mỗi quốc gia”.

Theo hãng tin nhà nước của Trung Quốc, trong cuộc gặp với ông Lịch, phía Trung Quốc bày tỏ hy vọng rằng đôi bên “có thể xử lý phù hợp các khác biệt để đóng góp vào hòa bình và ổn định của khu vực”.

Cả Xinhua và các hãng tin chính thống của Trung Quốc đều không nhắc tới biển Đông trong các bản tin của mình, nhưng tiến sĩ Trường nhận định rằng tranh chấp lãnh hải là “một phần quan trọng” và “không thể thiếu” trong nghị trình làm việc của ông Lịch ở Trung Quốc.

Nhà nghiên cứu này nói thêm:

“Bộ trưởng Quốc phòng của Việt Nam đi Trung Quốc mà lại không trao đổi về biển Đông thì không phải là Bộ trưởng Quốc phòng của Việt Nam. Tất nhiên ông Bộ trưởng Quốc phòng thì liên quan đến quân sự và quốc phòng, làm thế nào phải để cho quan hệ đó minh bạch và có thể dự đoán được, và có thể kiểm soát được mối quan hệ đó. Quan hệ hai nước là hợp tác, nhưng đồng thời cũng có những khía cạnh đấu tranh”
.

Tân Hoa Xã dẫn lời ông Lịch nói rằng hai nước “nên tăng cường hợp tác quân sự và đưa quan hệ quốc phòng trở thành một thành tố chính trong mối quan hệ song phương”.

Trong khi đó, tính tới 7 giờ 30 tối giờ Hà Nội ngày 30/8, truyền thông Việt Nam vẫn chưa đưa tin về cuộc hội đàm quan trọng giữa Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch và người đồng nhiệm Trung Quốc.

(VOA)

“Chính phủ chỉ có quyền thương lượng, nhận bồi thường phần thiệt hại của nhà nước, còn phần thiệt hại của dân thì dân có quyền tự thương lượng hoặc yêu cầu tòa án giải quyết bằng tranh chấp dân sự đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” - LS. Nguyễn Duy Bình


Chính phủ Việt Nam nói Formosa chịu trách nhiệm về diễn biến cá chết ở miền Trung. Luật sư trợ giúp pháp lý cho ngư dân bị ảnh hưởng bởi vụ cá chết bình luận với BBC rằng công văn hướng dẫn của chính quyền “còn mập mờ” và "dân có quyền đòi bồi thường bằng tranh chấp dân sự".

Hiện tại, chính quyền tỉnh Hà Tĩnh đang tổ chức cho người dân kê khai thiệt hại theo chỉ đạo của chính phủ và công văn hướng dẫn số 6851 của Bộ nông nghiệp.

Một số luật sư tham gia Liên danh Phục vụ Công lý đang có mặt tại Hà Tĩnh để trợ giúp hàng ngàn hộ dân khiếu kiện đòi bồi thường thiệt hại do phía công ty Formosa gây ra.

Hôm 30/8, trả lời BBC, luật sư Nguyễn Duy Bình, Văn phòng luật sư Duy -Trinh (TP Hồ Chí Minh), người tham gia liên danh này, nói: “Các luật sư đang tư vấn giúp người dân hoàn tất thủ tục khiếu kiện và nộp đơn tại Tòa án Nhân dân thị xã Kỳ Anh.”

“Dân kiện ở tòa là đúng quy định, tuy nhiên để được tòa thụ lý là rất khó vì chính phủ đã thương lượng và nhận tiền bồi thường từ Formosa.”
Việc chính phủ tự đứng ra thương lượng, thỏa thuận tổng thể và nhận toàn bộ số tiền bồi thường từ phía Formosa là chưa đúng quy định - Luật sư Nguyễn Duy Bình
“Nhưng chúng tôi tin rằng tòa sẽ phải thụ lý vì pháp luật đã quy định, không ai có thể cướp mât quyền khiếu kiện của người dân.”

‘Chưa có tiếng nói chung’

Luật sư phân tích thêm: “Nội dung công văn còn mập mờ, chưa xác định rõ người dân sẽ được bồi thường hay trợ giúp trong khi tiền mà chính phủ nhận từ phía Formosa là tiền bồi thường.”

Bốn tháng sau sự cố Formosa, ngư dân Hà Tĩnh vẫn chưa thể ra khơi

“Trên nguyên tắc, chính phủ đã nhận tiền bồi thường từ phía gây thiệt hại thì sau đó phải chi trả bồi thường cho dân chứ không phải trợ giúp.”

“Dựa vào các biểu mẫu kê khai xác định thiệt hại, tôi thấy chính quyền chỉ cho phép người dân kê khai tàu, thuyền và số nhân khẩu bị mất việc, mà không có phần kê khai thu nhập bị mất thì kê khai cái gì, chẳng lẽ phía chính quyền tự xác minh thiệt hại?”

“Chính vì vậy, những ngày qua chính quyền và người dân vẫn chưa có tiếng nói chung trong việc kê khai và dân sẽ phải khiếu nại yêu cầu giải quyết những vấn đề bất hợp lý.”

Ông Bình cũng cho hay, “theo công văn, mỗi người dân mất việc do ảnh hưởng của thảm họa chỉ được trợ giúp tạm thời 15kg gạo/tháng, trong thời gian 6 tháng; mỗi tàu thuyền được trợ giúp 3.500.000 đồng.”

“Việc chính phủ tự đứng ra thương lượng, thỏa thuận tổng thể và nhận toàn bộ số tiền bồi thường từ phía Formosa là chưa đúng quy định.”

“Chính phủ chỉ có quyền thương lượng, nhận bồi thường phần thiệt hại của nhà nước, còn phần thiệt hại của dân thì dân có quyền tự thương lượng hoặc yêu cầu tòa án giải quyết bằng tranh chấp dân sự đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, luật sư Bình nói với BBC.

Hôm 29/8, Văn phòng Chính phủ Việt Nam thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình tại cuộc họp về tiến độ triển khai công tác xác định, bồi thường thiệt hại cho ngư dân 4 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế.

Thông báo cho biết bốn tỉnh này được lùi thời hạn trình kết quả xác định mức thiệt hại và kinh phí bồi thường hỗ trợ trên địa bàn đến trước ngày 15/9.

Các bộ, ngành sẽ trình Thủ tướng phương án phân bổ kinh phí bồi thường, hỗ trợ trong tuần cuối tháng 9.

(BBC)

Với giá cả hàng hóa giảm và các luận cứ kinh tế không rõ ràng trong các dự án này, dư luận có thể mong đợi một làn sóng vỡ nợ trong những năm tới. Hy vọng từ nền kinh tế bệnh hoạn của Trung Quốc là "bệnh phu châu Á" thời hiện đại sẽ không còn là mối đe dọa như khi họ còn mạnh mẽ.

http://st.galaxypub.vn/staticFile/Subject/2015/08/28/244626/mytrung-bat-tay-giai-quyet-bien-dong-kinh-te_28623911.jpg

Giáo sư Mỹ gốc Hoa Bùi Mẫn Hân từ đại học Claremont McKenna, thành viên cao cấp quỹ German Marshall, Hoa Kỳ ngày 27/8 bình luận trên The National Interest về việc liệu nền kinh tế Trung Quốc sụp đổ có cứu được cả Biển Đông hay không. Ông nhận định, hy vọng từ nền kinh tế bệnh hoạn của Trung Quốc là "bệnh phu châu Á" thời hiện đại sẽ không còn là mối đe dọa như khi họ còn mạnh mẽ.

Cách đây không lâu, nền kinh tế Trung Quốc đã xuất hiện những thách thức cả về lực hấp dẫn lẫn những dự báo. Bất chấp những năm tăng trưởng mất cân bằng, Bắc Kinh đã dựa vào đầu tư để tăng sức mạnh nền kinh tế và duy trì tốc độ tăng trưởng cao.

Sự say sưa trong tăng trưởng tín dụng từ năm 2009 đã mang lại tỉ lệ nợ lên tới gần 300% GDP, một mức độ nguy hiểm đối với một nền kinh tế trên trung bình đã không gây ra một cuộc khủng hoảng tài chính. Bong bóng bất động sản có lẽ là lớn nhất thế giới đã hình thành nhưng mới chỉ bị rò rỉ chứ chưa sụp đổ hoàn toàn.

Tăng trưởng kinh tế tưởng chừng "bất khả chiến bại" này đã khuyến khích Bắc Kinh theo đuổi một chính sách đối ngoại đầy tham vọng nhưng cũng rủi ro nhất trong vài năm qua.

Nhiều thành viên trong giới tinh hoa Trung Quốc đã xem sự suy giảm của Hoa Kỳ và phương Tây là không thể đảo ngược, trong khi sự trỗi dậy của Trung Quốc với họ là không gì cản nổi. Chính sự kiêu căng, ngạo mạn này đã dẫn đến việc Trung Nam Hải theo đuổi các chính sách kinh tế và an ninh mà chắc chắn sẽ chôn di sản của Đặng Tiểu Bình xuống mồ sâu.

Thay vì duy trì cách tiếp cận giấu mình chờ thời, Bắc Kinh đã mở rộng rất nhiều cam kết kinh tế ở nước ngoài và bắt đầu công khai thách thức trật tự an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương mà Mỹ đang có chủ trương xoay trục.

Giáo sư Bùi Mẫn Hân
Về mặt kinh tế, Trung Quốc đã cam kết hơn 100 tỉ USD góp vốn cho Ngân hàng Hạ tầng châu Á (AIIB), Ngân hàng Phát triển mới và Quỹ Con đường Tơ lụa mới, một loạt tổ chức tài chính và các cơ cấu được thiết kế để bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc ở nước ngoài, tích cực cạnh tranh với các định chế tài chính quốc tế hiện có như Ngân hàng Phát triển châu Á và Ngân hàng Thế giới.

Trong thế giới đang phát triển, Trung Quốc cũng đặt cược nhiều vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng lớn. Ở Mỹ Latinh, Trung Quốc đã cho vay gần 120 tỉ USD từ năm 2005. Ở châu Phi, Trung Quốc đầu tư và cho vay ước tính vượt trên 100 tỉ USD.

Đối mặt với một đối thủ được hậu thuẫn của 4 ngàn tỉ USD dự trữ ngoại tệ, tất cả những gì phương Tây có thể làm là lo lắng và công khai phàn nàn về sự phá hủy môi trường cũng như quyền con người mà Trung Quốc gây ra trong các dự án đầu tư ở nước ngoài.

Các bước táo bạo nhất mà Trung Quốc đã thực hiện trong bối cảnh sức mạnh kinh tế rõ ràng và không có bất kỳ nghi ngờ gì đó là cách tiếp cận leo thang bành trướng thực hiện yêu sách lãnh thổ, hàng hải (vô lý, phi pháp) ở Biển Đông.

Trong khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc trước đây đã cố tình gác lại các tranh chấp khó khăn và tiềm ẩn nguy hiểm ở Hoa Đông và Biển Đông, những người kế nhiệm họ hiện nay ở Trung Nam Hải đã có cách tiếp cận đối đầu nhiều hơn với niềm tin (sai lệch) rằng, với sức mạnh phát triển nhanh chóng về kinh tế và quân sự, Trung Quốc không cần phải tôn trọng lợi ích và sự nhạy cảm của Hoa Kỳ cùng đồng minh, đối tác trong khu vực.

Kết quả là chỉ trong 2 năm qua, Trung Quốc đã leo thang gây hấn bằng cách đơn phương tuyên bố áp đặt vùng nhận diện phòng không (ADIZ) gây tranh cãi ở Hoa Đông và bồi lấp, xây dựng, quân sự hóa đảo nhân tạo (bất hợp pháp) trên vùng biển (Bắc Kinh nhảy vào) tranh chấp ở Biển Đông.

Bây giờ động lực của nền kinh tế Trung Quốc cuối cùng cũng dừng lại và điểm yếu của nó đã bộc lộ có thể thấy rõ, câu hỏi rõ ràng đặt ra là liệu Bắc Kinh còn có thể tiếp tục duy trì chính sách đối ngoại diều hâu của mình hay không.

Căn cứ vào những hành vi của Trung Quốc trong quá khứ và những hạn chế cứng hiện tại, có vẻ như nếu có bất kỳ điều gì tích cực xuất hiện trong nền kinh tế Trung Quốc thì đó sẽ là một chính sách ngoại giao bớt hung hãn hơn.

Tập Cận Bình lựa chọn chính sách đối ngoại mang lại những rủi ro lớn, trong khi chủ nghĩa thực dụng và thận trọng lại là cách làm việc của những người tiền nhiệm thời hậu Mao Trạch Đông.

3 người tiền nhiệm của ông Tập Cận Bình là Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào đều nhận thức rất rõ sự chênh lệch về sức mạnh giữa Trung Quốc và phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ. Như vậy họ có những nhượng bộ chính sách đối ngoại đáng kể khi nền kinh tế yếu kém.

Đặng Tiểu Bình đã không để vấn đề Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan ảnh hưởng đến quan hệ thương mại Mỹ - Trung, còn Giang Trạch Dân kiềm chế rất lớn trong vấn đề Đài Loan cuối thập niên 1990 để Hoa Kỳ có thể hỗ trợ Trung Quốc vào WTO.

Nếu tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc trong ngắn hạn đòi hỏi phải xuất khẩu nhiều hơn sang phương Tây, sẽ không thể tưởng tượng nổi rằng Bắc Kinh có thể thành công trong nhiệm vụ này khi tiếp tục chính sách bành trướng mạnh mẽ ở Biển Đông.

Đồng thời, sự suy giảm kinh tế trong nước cũng hạn chế đáng kể năng lực của Bắc Kinh để tài trợ cho các dự án kinh tế khổng lồ và nguy hiểm mà Trung Quốc theo đuổi ở các nước đang phát triển.

Với giá cả hàng hóa giảm và các luận cứ kinh tế không rõ ràng trong các dự án này, dư luận có thể mong đợi một làn sóng vỡ nợ trong những năm tới, nó sẽ làm Bắc Kinh lúng túng và kiểm tra năng lực của Trung Nam Hải có thể tiếp tục "rót tiền vào hang thỏ" đến bao giờ.

Quan trọng hơn, sự tiếp tục suy yếu của nền kinh tế Trung Quốc sẽ đòi hỏi phải bố trí lại nguồn lực tài chính hạn chế của mình để duy trì tăng trưởng trong nước, vì đảng Cộng sản Trung Quốc có giữ được quyền lãnh đạo hay không phụ thuộc vào điều này.

Tập Cận Bình sẽ buộc phải lựa chọn giữa "vinh quang ở bên ngoài" và sự sống còn của chế độ, không có gì nghi ngờ về việc ông sẽ lựa chọn cái nào. Vì vậy hy vọng từ nền kinh tế bệnh hoạn của Trung Quốc là "bệnh phu châu Á" thời hiện đại sẽ không còn là mối đe dọa như khi họ còn mạnh mẽ, giáo sư Bùi Mẫn Hân bình luận.

Hồng Thủy

(GDVN)

Trong bài phát biểu tại Singapore, Chủ tịch nước Trần Đại Quang cảnh báo "tất cả sẽ thua" nếu có xung đột vũ trang ở Biển Đông. Chủ tịch Nước Trần Đại Quang phát biểu rằng: "Nếu chúng ta cho phép bất ổn xảy ra, đặc biệt là trong trường hợp xung đột vũ trang, sẽ không có người thắng hay kẻ thua, mà tất cả đều sẽ thua"

Chủ tịch nước Trần Đại Quang phát biểu tại Đối thoại Singapore. Ảnh: ISEAS
Chủ tịch nước Trần Đại Quang phát biểu tại Đối thoại Singapore. Ảnh: ISEAS

"Nếu chúng ta cho phép bất ổn xảy ra, đặc biệt là trong trường hợp xung đột vũ trang, sẽ không có người thắng hay kẻ thua, mà tất cả đều sẽ thua", AFP dẫn lời Chủ tịch nước hôm nay nói tại chương trình Đối thoại Singapore lần thứ 38 do Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS) tổ chức.

Phát biểu trước các nhà ngoại giao, học giả và sinh viên tại Singapore, Chủ tịch nước cho rằng Biển Đông không chỉ đem lại nhiều lợi ích quan trọng cho các nước trong khu vực mà còn là tuyến đường thiết yếu đối với vận tải hàng hải và hàng không của thế giới.

Tuy nhiên, những diễn biến đáng quan ngại tại đây "tác động tiêu cực đến môi trường an ninh khu vực, đặc biệt là an ninh và an toàn hàng hải, tự do đi lại trên biển và trên không", Chủ tịch nước khẳng định.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với hầu hết diện tích Biển Đông bằng "đường lưỡi bò" tự vẽ ra, chồng lấn lên vùng biển các nước láng giềng. Nước này đã xây dựng đảo nhân tạo, đường băng có khả năng chứa máy bay quân sự cùng nhiều cơ sở khác trên các đá, bãi ngầm ở khu vực. Hoạt động của Trung Quốc cũng vấp phải sự chỉ trích kịch liệt từ nhiều nước, trong đó có Mỹ.

Tòa Trọng tài hôm 12/7 đã ra tuyên bố Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để đòi quyền lịch sử với các nguồn tài nguyên bên trong yêu sách "đường lưỡi bò".

Trong chuyến thăm Singapore từ 28 đến 30/8, Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long khẳng định lập trường chung của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong việc giải quyết các tranh chấp ở khu vực, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn ở Biển Đông.

Hai lãnh đạo cũng nhất trí thúc đẩy giải quyết các tranh chấp ở khu vực này bằng mọi biện pháp hòa bình, cùng các bên thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử (COC).

Trọng Giáp

(VnExpress)
 
Top ↑ Copyright © 2010. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Welcome to Tin Tức Hàng Ngày