Tin Tức Hàng Ngày
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Bài Mới

Nợ: quả bom nổ chậm của Việt Nam

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ Tư, ngày 20 tháng 8 năm 2014

Đối với Việt Nam, vấn nạn nợ nần giúp nhắc nhở rằng nhà nước nên giới hạn ảnh hưởng vào doanh thương.

Việt Nam có thể thấy mình khó đạt được mục tiêu tăng trưởng 5,8 phần trăm trong năm nay nếu nợ xấu tiếp tục kềm hãm nền kinh tế.

Ngân hàng trung ương đã có những động thái để làm giảm tỷ lệ nợ, nhưng cũng phải cần đến các thay đổi về cấu trúc để đảm bảo sức khỏe của nền kinh tế về lâu dài.

"Vấn đề nợ xấu sẽ không thể giải quyết được nếu không có sự công khai và minh bạch trong việc phòng chống tham nhũng và tư bản bè phái," Vũ Đình Ánh,  nhà kinh tế có ảnh hưởng đã nói với tôi.

http://a8.vietbao.vn/images/vn888/hot/v2012/20130313-083502-1-nocong4.10-13177127871-1317712787.jpeg

Tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam đã được dự kiến ở mức 4.84 vào cuối tháng sáu, tiếp tục gia tăng kể từ đầu năm. Và đấy chỉ là những con số chính thức. Dịch vụ Đầu tư của Moody ước tính các khoản nợ xấu ấy chiếm 10-15 phần trăm tổng số nợ -nhiều hơn gấp đôi số dự toán của ngân hàng trung ương.

Không như các số liệu của ngân hàng trung ương, Moody tính cả các khoản cho vay đặc biệt cần lưu ý và tài sản yếu kém vốn nên được xem là nợ xấu. Dù từ năm ngoái, các ngân hàng đã phân loại các khoản vay theo chuẩn mực này, nhưng hạn định đã phải hoãn lại ba lần khi ngân hàng lo lắng rằng một con số tổng cộng bất ngờ cao vọt sẽ gây đổ vỡ các doanh nghiệp; việc thực hiện đầy đủ hiện được định đến quý đầu của năm 2015.

"Việc thiếu dữ liệu này là một vấn đề chính. Không biết thực tế và cấu trúc tỷ lệ nợ xấu, chúng ta không thể hiểu được vấn đề, "ông Ánh nói.

Vấn nạn nợ đã gây thiệt hại cho nền kinh tế khi các ngân hàng buộc phải dành nhiều vốn hơn là phát hành nhiều công nợ. Mặc dù ngân hàng trung ương cắt giảm được lãi suất trong một số trường hợp, mức vay tại Việt Nam chỉ tăng được 3,5 phần trăm ít ỏi trong nửa đầu năm nay.

"Các khoản nợ xấu ở Việt Nam là không đủ lớn để gây khủng hoảng kinh tế nhưng đã ngăn nền kinh tế không thể hồi phục nhanh chóng, "Đinh Tuấn Minh, cựu chuyên gia phân tích kinh tế tại Ngân hàng Quân đội cho biết.

Căn nguyên của vấn đề

Cũng như ở Mỹ và Trung Quốc, vấn nạn nợ của Việt Nam là do phần lớn nguyên nhân từ bong bóng bất động sản vào cuối những năm 2000. Thôi thúc bởi mong muốn thúc đẩy kinh tế của chính phủ, ngân hàng nhà nước đã đưa ra các khoản vay dễ dàng cho các nhà đầu tư và phát triển. Khi kinh tế chao đảo trong năm 2010 và giá nhà đất giảm mạnh, nhiều người đã không trả được nợ.

Đa số những nhà phát triển này là liên kết của các doanh nghiệp nhà nước, vốn ít có kinh nghiệm trong lĩnh vực bất động sản. Từ khi Việt Nam giành được độc lập, chính phủ đã coi doanh nghiệp nhà nước là trụ cột của nền kinh tế, một quan điểm được lặp lại trong hiến pháp cũng như trong các tài liệu quan trọng khác của chính phủ. Đầu những năm 2000, khi đất nước mở cửa ra với thế giới bên ngoài, các doanh nghiệp nhà nước của chính phủ được khuyến khích để mở rộng hoạt động kinh doanh ra bên ngoài khu vực kinh doanh chính của họ trong nỗ lực muốn cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài.

"Đảng và Nhà nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các tập đoàn nhà nước như Sông Đà để vượt qua khó khăn và phát triển hiệu quả hơn", chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã phát biểu như vậy trong một chuyến thăm công ty vào năm 2009.

Một trong những nền tảng của kế hoạch này là công ty vận chuyển Vinashin. Trong bối cảnh ngày càng tăng về vận chuyển của nhu cầu toàn cầu, chính phủ mở rộng phát triển công ty, thuyết phục ngân hàng nhà nước và chính quyền địa phương cung cấp các khoản vay và nguồn nhân lực cho Vinashin.

"Chiến lược của chính phủ là muốn xây dựng công ty này nhanh chóng trở nên một siêu cường vận chuyển bằng cách bơm tiền vào nó. Trong vài năm đầu tiên, chiến lược ấy có hiệu quả “, Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành công ty tư vấn Economica Việt Nam cho biết. "Chúng tôi đã nhận được nhiều đơn đặt hàng từ các nước khác. Đối với chính phủ, thành công bước đầu xác nhận rằng họ đi đúng hướng."

Nhưng khi chính phủ đổ nhiều tiền vào Vinashin, ngày càng rõ là giới quản lý cao cấp của công ty không có kinh nghiệm đảm đương một nguồn lực tài chính lớn như vậy.  Các quyết định đầu tư kém của ban giám đốc điều hành đã gây ra thiệt hại lớn. Trong năm 2010, Vinashin sụp đổ với hơn 4 tỷ nợ, hai năm sau đó, giám đốc điều hành công ty bị bỏ tù vì vi phạm các điều lệ về quản lý kinh tế. Năm sau, 2013, cả cựu chủ tịch và tổng giám đốc công ty quốc doanh Vinalines đều nhận án tử hình vì tội biển thủ $ 474,000 trong các âm mưu chi trả quá mức cho một ụ sửa chữa cũ để bỏ túi hàng triệu đô la.

"Tham nhũng là một phần của sự việc nhưng phần lớn là vì năng lực quản lý", ông Bình nói. "Ta không thể quản lý các công ty lớn bằng sử dụng phong cách quản lý cũ. Họ đã không biết phải làm gì với các nguồn tài nguyên mình có, vì thế, đã đầu tư vào nhiều lĩnh vực: ngân hàng, bất động sản, khách sạn và ngay cả xe taxi".

Năm 2012, chính phủ thông báo rằng doanh nghiệp nhà nước đã dự phần trong 1.5 tỷ "chi tiêu sai trái." Công ty độc quyền Dầu khí Việt Nam chịu trách nhiệm cho khoảng $ 8.5 triệu thua lỗ. Tương tự, chính phủ cho biết, Tập đoàn Sông Đà, thông qua 85 chi nhánh, đã "lạm dụng" hơn 500 triệu trong việc biển thủ và thực hiện các đầu tư kém cỏi, nhiều chi nhánh phải gánh chịu thiệt hại đáng kể trong việc xây dựng các nhà máy xi măng, thép, nhà máy thủy điện và các loại cơ sở hạ tầng.

"Một số lượng lớn khủng khiếp của các vấn đề kinh tế Việt Nam có liên quan với hệ thống chính trị", nhà kinh tế học Anh cho biết. "Giống như Trung Quốc, Việt Nam chưa có thị trường khế ước tài chính (derivatives matket) mà bạn có ở Mỹ và các nước khác. Hậu quả là, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng và khu vực nhà nước, vốn đã có thua lỗ mất mát lớn. Các kết nối với khu vực nhà nước là nguyên nhân chính cho các khoản nợ xấu của Việt Nam."

Doanh nghiệp nhà nước vẫn là khu vực lớn nhất của giới vay mượn và chịu trách nhiệm cho một tỷ lệ rất lớn của nợ xấu trong hệ thống ngân hàng của Việt Nam. Vì vậy, cải cách doanh nghiệp nhà nước là không thể thiếu trong việc giải quyết vấn đề nợ nần.

"Kỷ lục của các hoạt động nghèo nàn và việc mở rộng tài sản không mang lại lợi nhuận của các doanh nghiệp nhà nước thật nản lòng. Ngân hàng Việt Nam sẽ không thể nhìn thấy sự tăng trưởng trở lại của các khoản nợ lành mạnh trừ khi sức khỏe của các doanh nghiệp nhà nước được phục hồi" Gene Fang, phó chủ tịch, chuyên viên cao cấp Moody cho biết.

Giải quyết vấn nạn

Trong năm 2013, Việt Nam đã cố gắng giải quyết vấn đề bằng cách cho ra đời Công ty Quản lý tài sản Việt Nam (VAMC). Theo kế hoạch này, các ngân hàng hoán đổi nợ xấu của mình cho VAMC để lấy trái phiếu đặc biệt mà họ có thể sử dụng nhằm vay vốn ở ngân hàng trung ương. Đến đầu tháng Bảy, VAMC mua được $ 2.4 tỷ nợ xấu.

Tuy nhiên, đây không phải là một giải pháp hoàn chỉnh: trong khi các khoản nợ giúp các ngân hàng cân đối bảng thu chi tài chính, công ty quản lý tài sản vẫn chưa nghĩ ra được cách giải quyết chúng. Có kế hoạch bán các khoản nợ ra cho nhà đầu tư bên ngoài, nhưng rất ít tiến bộ đã thực hiện được ở mặt trận này.

"Số nợ xấu gần giống như hai năm trước, và thái độ của chính phủ và ngân hàng nhà nước cũng đã không hề thay đổi", cựu chuyên gia phân tích Minh cho biết. "Họ nghĩ rằng khi nền kinh tế phục hồi, nợ xấu sẽ qua đi. Chính phủ không muốn chi tiền ra. Việt Nam chỉ đơn giản là không có đủ nguồn vốn"

Một giải pháp là sẽ bán nợ xấu cho các nhà đầu tư nước ngoài. Nguyễn Quốc Hùng, Chủ tịch Hội đồng thành viên VAMC, nói với tờ Banking Times rằng công ty đã nhận được quan tâm từ một số tổ chức và cá nhân nước ngoài. Tuy nhiên, hầu hết các khoản vay đều có tài sản thế chấp là bất động sản và pháp luật Việt Nam lại nghiêm cấm người nước ngoài (hoặc bất cứ ai khác trong ý nghĩa này) không được sở hữu đất đai.

Hơn nữa, VAMC đã mua nợ từ các ngân hàng cao đến 80-90 phần trăm giá trị, nghĩa là nhiều hơn so với mức các nhà đầu tư sẵn lòng mua.

"Họ 'các nhà đầu tư nước ngoài' có xu hướng chào giá thị trường cho các tài sản đó, thấp đến mức 20-30 phần trăm của mệnh giá. VAMC xem các đề nghị này hoàn toàn không thích đáng khi căn cứ vào giá trị các tài sản", ông Andy Ho, Giám đốc đầu tư VinaCapital cho biết. "VAMC chỉ có thể là một công cụ hữu hiệu để giải quyết các khoản nợ xấu khi nó sẵn sàng đưa các khoản nợ ra bán ở mức giá tốt nhất và được thị trường chấp nhận"

Dù có những bàn bạc để thay đổi các quy định, nhưng chính phủ vẫn chưa muốn làm như thế. Theo phó giám đốc Ủy ban Kinh tế Quốc hội, Nguyễn Đức Kiên, cho biết: "Ngay bây giờ, tất cả mọi người dường như sợ phải chịu trách nhiệm cho việc gây thiệt hại cho nhà nước, vì thế không ai dám đưa ra quyết định bán bất kỳ khoản nợ nào ở giá thấp".

Về phía các cơ quan chức năng, sự do dự này không chỉ là vì thiệt hại tài chính. Đó là biểu tượng của sự mất kiểm soát.

"Chính phủ nhận ra rằng chỉ có các công ty nước ngoài mới có đủ nguồn lực để mua nợ xấu. Nhưng có một nhóm trong chính phủ không muốn làm điều đó ", Minh nói. "Họ sợ rằng khi chính phủ bán nợ xấu cho các công ty nước ngoài, các khu vực chính của nền kinh tế sẽ bị đặt dưới sự kiểm soát của người nước ngoài."

Điều này sẽ đe dọa đến lợi ích của đất nước. Và việc thay đổi luật sở hữu có nghĩa là cho phép các nhà đầu tư tư nhân được hưởng các quyền tương tự như công ty nhà nước - là điều không thể tưởng tượng được.

"Chúng ta không thể mong đợi chính phủ thay đổi luật đất đai. Vì ngay cả người Việt Nam cũng không được sở hữu đất đai. Tất cả đất đai thuộc về nhà nước", ông Bình nói.

Bước phát triển

Giải quyết nợ xấu là một bước khởi đầu tốt. Ngoài ra còn phải khuyến khích bước phát triển của việc cải cách các doanh nghiệp nhà nước. Một số luật đang được xem xét để buộc các công ty nhà nước phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường và hạn chế việc họ đầu tư vào các khu vực nguy hiểm. Tuy nhiên, chính phủ cũng cần phải giải quyết các vấn đề cơ bản của cả doanh nghiệp nhà nước và khu vực ngân hàng bằng cách gia tăng tính minh bạch và nới lỏng các hạn chế về quyền sở hữu cho người nước ngoài.

Trong năm nay, chính phủ đã tăng cường tốc độ cải cách doanh nghiệp nhà nước cũng như cổ phần hóa (tư nhân hoá).  Các doanh nghiệp nhà nước phi ngân hàng được yêu cầu phải rút vốn ra khỏi các khu vực nguy hiểm như bảo hiểm, chứng khoán và bất động sản vào năm 2015; theo báo cáo của ngân hàng thế giới, gần một phần năm các mục tiêu này đã đạt được vào cuối năm 2013.

Chính phủ cũng đã đặt ra mục tiêu chào mời hơn 400 cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước (SOE IPO) vào năm 2015, mặc dù việc thành công của các biện pháp này vẫn chưa chắc chắn. Trong đợt bán cổ phiếu đầu tiên của năm nay, các doanh nghiệp nhà nước niêm yết - hầu hết trong số đó thuộc về các lĩnh vực mang lại lợi nhuận như bất động sản và công trình công cộng - chỉ bán được ít hơn một phần ba số cổ phiếu có sẵn. Mặt khác, các nhà đầu tư dự kiến sẽ tranh giành cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước có lợi nhuận như Việt Nam Airlines và công ty viễn thông khổng lồ MobiFone khi chúng được niêm yết trong năm nay.

Tuy nhiên, tính minh bạch cũng phải là một yếu tố quan trọng của quá trình cải cách. Hoạt động trong một môi trường không có sự giám sát bên ngoài, các giám đốc điều hành doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện những quyết định đưa đến một lượng nợ nần lớn. Một báo cáo kiểm toán của nhà nước công bố trong năm nay cho thấy các công ty nhà nước đã "lạm dụng trắng trợn các quy định". Dù quy định hiện nay yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước mỗi năm phải phát hành kết quả tài chính trên trực tuyến, nhưng các công bố này vẫn còn thiếu trong cả cách tiếp cận lẫn các thông tin hữu ích.

Sự thiếu minh bạch cũng là một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng, nơi các loại sở hữu chéo và việc cho vay liên ngân hàng vẫn gây ra những rủi ro lớn. Vụ bê bối gần đây nhất trong các ngân hàng lớn là việc bắt giữ ba cựu quan chức Ngân hàng Việt Nam gần đây vì gian lận 311 triệu theo một báo cáo kiểm toán của nhà nước cho thấy một số giới cho vay đã có "các hoạt động đáng ngờ". Nhiều vụ việc trong số này là do sở hữu chéo: có 35 ngân hàng thương mại tư nhân tại Việt Nam, nhưng ông Bình ước tính rằng trong một phần ba trong số này, các bên liên quan (stakeholders) với các lợi quyền khác sở hữu nhiều hơn tỉ lệ mà pháp luật cho phép. Một kinh tế gia khác so các mối quan hệ rối rắm giữa các ngân hàng với nhau như một "bát mì spaghetti".

Tạo ra một khuôn khổ pháp lý mới để nới lỏng các hạn chế quyền sở hữu cho người nước ngoài cũng có thể giải quyết được vấn đề trong cả hai lĩnh vực. Tiến bộ đã đạt được trong lĩnh vực này vào đầu năm nay qua việc nâng cao mức sở hữu nước ngoài trong các ngân hàng, nhưng còn phải thực hiện nhiều hơn, đặc biệt là khi nói đến việc giải quyết nợ xấu. Dù chính phủ sợ sự mất kiểm soát sẽ dẫn đến việc cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào lĩnh vực kinh tế trọng điểm, nhưng các hậu quả kinh tế của việc không làm như vậy có thể còn nguy hiểm hơn. Ông Hồ của công ty VinaCapital chỉ ra rằng sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998, khách hàng nước ngoài đã đóng một vai trò "không thể thiếu" trong việc giải quyết nợ xấu cho các nước có liên quan.

Đối với Việt Nam, vấn đề nợ mang lại một bài học tốn kém nhưng quan trọng là Nhà nước cần hạn chế ảnh hưởng trong lĩnh vực kinh doanh, đặc biệt là khi nói đến việc quyết định cho vay của các tổ chức tín dụng.

"Nếu ai làm việc tại một ngân hàng nhìn vào bảng cân đối tài chính của Vinashin để thẩm định thuần túy thương mại, họ sẽ không cho Vinashin vay tiền", ông Bình nói. "Tuy nhiên, các ngân hàng đã không làm các phép tính. Họ mù quáng chấp hành quyết định của chính phủ để làm cho Vinashin trở một siêu cường trong ngành công nghiệp vận chuyển. Khi Vinashin sụp đổ, chỉ qua đêm các ngân hàng sụp đổ theo".

Elisabeth Rosen - The Diplomat

Lê Quốc Tuấn dịch Việt Ngữ

(FB. Tuan Le)

Ba kịch bản cho tương lai Việt Nam

“…Kịch bản này có thể mô tả một cách sơ lược là: ve vãn Mỹ, để không bị o ép mạnh trong quan hệ với Trung Quốc như trước đây, làm lắng dịu tình hình căng thẳng do dàn khoan gây ra. Được giới lãnh đạo Việt Nam vẫn luôn tự hào như là một « đường lối mềm dẻo, khôn khéo »…”.


sangtronghungdung01

« Có những thời điểm mà lịch sử chạy nhanh hơn bình thường. Tôi thậm chí dám khẳng định rằng có khả năng Việt Nam bước vào giai đoạn chính trị có tính quyết định nhất kể từ sau 1975 ». Đây là nhận định khá lý thú, đáng được quan tâm của Giáo sư Jonathan London, trường Đại học Hồng Công.

Tuy nhiên, tương lai Việt Nam sẽ đi về đâu, vẫn còn là câu hỏi rất khó với bất cứ ai quan tâm, lo lắng cho đất nước này. Nó khó như giải một phương trình gồm nhiều ẩn số. Trong đó, ẩn số quan trọng nhất, khó phán đoán nhất là các tính toán và cân nhắc của giới lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam hiện nay.

Điều đó khẳng định rằng tương lai của đất nước phụ thuộc rất nhiều vào  quyết định của giới lãnh đạo.Cơ hội đã đến, mọi cánh cửa đã mở. Tiếp tục lối mòn xưa hay chuyển hướng đưa đất nước vào con đường phát triển theo văn minh của nhân loại. 

Dựa trên sự phán đoán các tính toán và cân nhắc của giới lãnh đạo, có thể phác thảo ra ba kịch bản chính cho tương lai Việt Nam, như sau:

1.  Trò chơi cân bằng trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc tiếp tục được áp dụng.

Đây là kịch bản dễ xảy ra nhất. Nó dựa trên sự suy luận rằng giữ chế độ là nhu cầu lớn nhất của giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay.

Theo kịch bản này, quan hệ Việt - Trung không còn ở mức « 4 tốt, 16 chữ vàng » nữa, nhưng vẫn giữ ở mức « hai bên cùng có lợi ». Lãnh đạo Việt Nam không đặt vấn để thoát hẳn ra khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc mà lợi dụng mối quan hệ này để củng cố chế độ. Đổi lại Trung Quốc không có thêm sự khiêu khích lộ liễu nào nữa ngoài Biển Đông, hoặc nếu có cũng dựa trên những thỏa thuận ngầm với lãnh đạo Việt Nam và được hai bên giữ kín. Trung Quốc không «làm xấu mặt» Việt Nam thêm nữa, để đổi lấy việc làm ngơ trước các kế hoạch xác định chủ quyền  ở những khu vực Trung Quốc đã chiếm. Đợi một thời gian im ắng, Trung Quốc lại tiếp tục xây phi trường và căn cứ quân sự ở Gạc Ma, xây các ngọn hải đăng tại quần đảo Hoàng Sa.

Hai bên Việt-Trung tiếp tục chủ trương « gác tranh chấp, cùng khai thác ». Việt Nam dựa vào ưu thế của Trung Quốc để gỡ gạc những lợi ích tối đa nhất, trong hành xử với các nước láng giềng tranh chấp. Hai bên tiếp tục giữ tuyên bố « các tranh chấp được giải quyết thông qua các cuộc đàm phán song phương giữ các bên liên quan trực tiếp ». Đề án kiện Trung Quốc ra tòa án trọng tài quốc tế được cất kỹ trong ngăn kéo.

Trong khi đó, những bước xích lại gần nhau giữa Mỹ và Việt Nam chỉ giữ ở mức « đủ để cân bằng với Trung Quốc ». Mỹ được đáp ứng để thỏa mãn là Trung Quốc không hung hăng thêm nữa. Tình hình « nguyên trạng » như trước giàn khoan được cam kết giữ, đủ để hài lòng cả ba bên Mỹ, Trung, Việt. Cả Mỹ và Trung Quốc đều ngầm hiểu « mi không đụng đến lợi ích của ta, thì ta không đụng đến lợi ích của mi » như phương châm đã hình thành từ thời Thượng Hải 1972.

Một số lĩnh vực trong quan hệ Mỹ-Việt có thể tiến bộ nhất định. Nhưng không đạt đến mức Mỹ mong đợi, do Việt Nam không đáp ứng được đầy đủ những  điều kiện mà phía Mỹ đưa ra. Những  tiến bộ được giữ ở mức đủ để Mỹ đừng buông tay. Nhịp điệu « bắt thả » rất nhịp nhàng để đổi lấy việc thực hiện cam kết của Mỹ.

Những tiến bộ về dân chủ và nhân quyền, nếu có thì chỉ là hình thức bề ngoài. Tư tưởng đi theo Mỹ là mất đảng, là mắc mưu « diễn biến hòa bình » ít nhiều vẫn đang còn tồn tại trong giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã vừa tuyên bố tại Bộ Công an: « Dứt khoát không để nhen nhóm hình thành tổ chức chống đối phá hoại đất nước ». Tuyên bố này đi ngược phát biểu dân chủ đầu năm, đã được ngài John Mc Cain « biểu dương » trong chuyến thăm vừa rồi tại Việt Nam.

Kịch bản này có thể mô tả một cách sơ lược là: ve vãn Mỹ, để không bị o ép mạnh trong quan hệ với Trung Quốc như trước đây, làm lắng dịu tình hình căng thẳng do dàn khoan gây ra. Được giới lãnh đạo Việt Nam vẫn luôn tự hào như là một « đường lối mềm dẻo, khôn khéo ». Kịch bản này có thể xảy ra từ nay đến Đại hội đảng XII, có thể kéo dài được thêm một vài năm sau đó, trước khi dẫn đến thất bại, đổ vỡ.

2.  « Đường lối mềm dẻo, khôn khéo » bị thất bại. Việt Nam bị kẹt trong xung đột về chủ trương của Mỹ và Trung Quốc. Quan hệ Việt-Trung dần trở nên căng thẳng. Quan hệ Việt-Mỹ được thúc đẩy nhưng không đủ để Mỹ can dự trực tiếp. Có khả năng đụng độ  trên Biển Đông, trong đó Việt Nam được hậu thuẫn bởi vũ khí của Mỹ.

Kịch bản này khả năng ít nhưng vẫn có thể xảy ra. Nó dựa trên suy luận là một nước nhỏ như Việt Nam hiện nay không đủ tài và lực để cùng lúc lèo lái hai cường quốc hòng trục lợi cho riêng mình.

Kịch bản này là hậu quả chính sách « mềm dẻo, khôn khéo », trong khi Mỹ và Trung Quốc đều có tính toán riêng của mình.

Với Trung Quốc, sự kiện đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là một phần của kế hoạch của Trung Quốc vươn ra biển khơi, độc chiếm Biển Đông, hợp pháp hóa đường lưỡi bò và kiểm soát các đường hàng hải huyết mạch.

Trước đó, Trung Quốc đã âm thầm, lặng lẽ, xây dựng các công trình như sân bay, đảo nhân tạo, đặt căn cứ quân sự ở Trường Sa. Trên đất liền, xây dựng các đặc khu kinh tế Vũng Áng - Hà tĩnh, dự án Bô xít Tân Rai và Nhân Cơ - Đắc Nông. Từ đó, hình thành tam giác với đảo Hải Nam và đảo Tam Sa (Hoàng Sa), chia cắt và dễ dàng khống chế Việt Nam khi tình huống xảy ra.

Những hành động mới đây của Việt Nam trong quan hệ với Mỹ làm Trung Quốc rất nóng mắt. Họ tiếp tục tiến hành đồng loạt các  biện pháp vừa hăm dọa, cưỡng ép và bắt chẹt đối với Việt Nam. Họ không muốn Việt Nam ngã quá nhiều với Mỹ để ngăn cản chủ trương trên của họ.

Thời gian tới, họ tiếp tục gây sức ép lên giới lãnh đạo để Việt Nam tiếp tục trấn áp các hoạt động chống Trung Quốc, gây rối làm bất ổn cả về kinh tế lẫn xã hội ở Việt Nam, làm các nhà đầu tư nước ngoài không dám tiếp tục đầu tư, dùng các biện pháp về tài chính và thương mại để khống chế Việt Nam chặt chẽ hơn.

Với Mỹ, các chuyến đi liên tiếp vừa rồi đến Việt Nam của Thượng nghị sĩ John Mc Cain và của Tướng George Martin Dempsey chứng tỏ Mỹ đã cảm thấy quá muộn trong những biện pháp ngăn chặn sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc. Việc các quan chức Mỹ có những phát biểu đầy « khích lệ » cho quan hệ Mỹ- Việt chứng tỏ Mỹ thật sự mong muốn có hậu thuẫn cho Việt Nam là mắt xích yếu nhất, nhưng đồng thời cũng là đối tượng chống lại Trung Quốc hiệu quả nhất, nếu được tăng cường sức mạnh. Một quan chức ngoại giao cấp cao của Mỹ cho biết một trong những yếu tố « thú vị » trong quan hệ Mỹ - Việt là « tâm lý chống Trung Quốc sâu sắc » ở Việt Nam.

Người Mỹ có thể hào phóng nhưng rất thực dụng. Một mặt, họ ra sức ca ngợi và cổ vũ cho một « đối tác chiến lược » trong tương lai của quan hệ Mỹ-Việt, với những cam kết kế hoạch giúp đỡ khá rõ ràng. Nhưng mặt khác họ không quên đưa ra những điều kiện ràng buộc và giới hạn để  thực hiện theo một tiến trình nhất định. Hầu như người Mỹ đã rút ra bài học « No more Vietnam » của cố Tổng thống Richard Nixon. Họ có thể tiêu tốn tiền bạc và vũ khí trong tình huống này, nhưng để đổi lại họ có thể « dùng cộng sản chống lại cộng sản ở Biển Đông ».

Kịch bản hai xảy ra khi Việt Nam bị nằm ở thế, trên thì bị Trung Quốc o ép không thoát ra khỏi được vòng kiểm tỏa, ở dưới thì bị Mỹ thúc ép « có hành động thêm nữa về dân chủ và nhân quyền ». Kịch bản này có thể đi kèm với tình trạng giới lãnh đạo Việt Nam bị chia rẽ một cách sâu sắc bởi hai phe cải cách và bảo thủ, nhưng không bên nào giành thắng thế.

3.  Lãnh đạo Việt Nam buộc phải thay đổi với một kịch bản tương tự như đã diễn ra ở Miến Điện.

Ít có khả năng giới lãnh đạo Việt Nam tự nguyện thay đổi. Kịch bản này có thể xảy ra khi kịch bản đầu thất bại hoặc do một tác động bên ngoài như: sự nổi dậy của nhân dân, vỡ nợ hoặc sụp đổ về kinh tế, một biện pháp trừng phạt của các nước lớn (thí dụ như dự luật chế tài về nhân quyền Ed Royce HR4254).

Đây là kịch bản duy nhất có lợi cho nhân dân và dân tộc Việt Nam.

Kịch bản này cũng dựa trên suy luận rằng, có một nhân vật hoặc một nhóm lãnh đạo, có tư tưởng cải cách, tập hợp đủ lực lượng tạo ra một diễn biến như đã từng xảy ra ở Liên Xô và Đông Âu.

Tóm lại, phán đoán các kịch bản cho tương lai Việt Nam hầu tìm ra được mấu chốt quan trọng nhằm đẩy nhanh quá trình thay đổi, mau chóng đến với đất nước Việt Nam.

Là nhà lãnh đạo thì nhận cho mình trọng trách cao nhất đối với vận mệnh đất nước. Phải có đủ lòng dũng cảm và thành tâm chính trị, lãnh đạo quốc gia phải thực sự vì lợi ích của dân tộc, của đất nước, chứ không thể vì lợi ích của một đảng, một phe nhóm hoặc chỉ vì lợi ích cá nhân.

Là con dân Việt Nam, thì việc đòi hỏi để có được một cuộc sống tự do, ấm no, hanh phúc trong một quốc gia thịnh vượng, không thể chỉ còn là một lời thỉnh cầu mà phải ý thức tự đứng lên giành lấy nó. Xây dựng một xã hội dân sự mà trong đó mọi công dân Việt Nam quan tâm đến các tổ chức lãnh đạo đang điều hành đất  đất nước, hiểu được cơ chế mà nó đang hoạt động, nắm được những biện pháp, chính sách mà các cơ quan này đang tiến hành. Tương lai, vận mệnh của mình nằm trong đó.

Việt Nam đang có cơ hội tốt để hướng tới một tương lai thực sự độc lập, dân chủ và tự do.

Đặng Xương Hùng

Bùi Mai Hạnh - Nhạy cảm chính trị

 
Hình minh họa
Vừa rồi về Việt Nam, bất ngờ được chị bạn (làm công tác văn hóa văn nghệ) nhắc nhở: “Em chẳng nhạy cảm chính trị gì cả!”.

Thực ra “nhạy cảm chính trị Ngơ ngác một lúc, nhớ ra, ngay từ buổi đầu viết báo, mình từng được/bị nhắc như thế. Không chỉ một lần.

Lần thứ nhất cách đây cũng gần hai chục năm. Sau đợt đi thực tế theo chương trình thực tập của Trường Viết văn Nguyễn Du, mình nộp bài cho tờ X. Một tuần căng thẳng hồi hộp chờ đợi trôi qua, mình được bà Tổng biên tập tiếp bằng nụ cười tươi rói và thương cảm: “Đúng là nhà thơ nhà văn các bạn lơ mơ thật. Chẳng nhạy cảm chính trị tí nào!”.


Bài báo viết về nỗi đau chết hụt trong “căn nhà tình nghĩa” của một bà mẹ anh hùng ở Ninh Hòa, vùng đất có nhiều mẹ anh hùng nhất nước. Không nhạy cảm chính trị là sao?

Căn nhà đó có bảy bát hương xếp hàng trên ban thờ lặng ngắt u buồn. Vệt nước lụt vẫn còn thẫm đen đánh dấu trên nửa già cánh cửa gỗ sắp mục. Bức tường nứt đút lọt ngón tay út. Gian bếp lạnh tanh chỏng chơ cái nồi nhỏ… Thỉnh thoảng mẹ mới đến nhà mình để thắp hương cho những người chết trận (chồng và các con trai). Vì mẹ sợ. Ở căn nhà đó, mẹ sợ đủ thứ. Sợ trộm cắp, sợ lụt lội, sợ cái nhà ụp xuống đầu bất cứ lúc nào. Sợ hơn cả là nỗi cô đơn không hàng xóm láng giềng. Mới đấy, lũ lụt tràn qua bất ngờ trong đêm, mẹ suýt chết đuối. May có đứa cháu họ xa sực nhớ đến, chạy ra cõng mẹ về. Từ đó, mẹ về hẳn trong làng ở nhờ nhà người bà con.

Không hề ngần ngại, mẹ thổ lộ nỗi buồn, sự bất bình với chính quyền địa phương khi xây cho mẹ căn nhà không đảm bảo chất lượng vì đã “bị rút ruột một nửa” và nằm chơ vơ giữa cánh đồng hoang vắng. Từ xa, ngôi nhà nom giống mô hình “nhà cô đơn trên sa mạc”. Có lẽ, chức năng của căn nhà là làm nhân chứng cho “sự quan tâm của Đảng và nhà nước” thì đúng hơn là làm “nhà tình nghĩa”, mái ấm cho một bà mẹ anh hùng cô đơn.

Kết luận bài báo, mình nói về cảm giác buồn nôn khi chứng kiến ông quan chức Phòng Thương binh Xã hội, miệng cười hềnh hệch gào thét zô zô, tay thản nhiên thò vào khuấy đá trong vại bia đang sủi bọt ở quán ăn chiêu đãi các tân nhà báo. Chỉ mấy phút trước, trong buổi mít-tinh tưởng nhớ liệt sĩ, những ngón tay chuối mắn này còn vung lên hùng hồn phụ họa cho bài diễn văn “nghèn nghẹn xúc động”…

Tuy nhiên, bài viết nhiều thông tin thực tế và cảm xúc “lai láng” của một đứa thơ thẩn đã không được duyệt chỉ vì nó rất thiếu “nhạy cảm chính trị”.

Lần thứ hai khái niệm “nhạy cảm chính trị” do một sếp nữ giảng giải. Chẳng nhớ là mình đã phạm lỗi gì cụ thể (vì nhiều lỗi quá), chỉ nhớ hôm ấy, ở hành lang cơ quan, mình hút thuốc và sếp cũng… xin một điếu. Đấy là lần duy nhất mình thấy sếp hút thuốc (hình như sếp đang bức xúc gì đó). Sếp chân tình nói: “Này, chị bảo thật, người ta nói ăn cây nào rào cây ấy, nếu em định viết bài chê ngành văn hóa thì em chỉ có cách ra khỏi ngành, rồi muốn viết gì thì viết. Ngành văn hóa tham nhũng giỏi lắm được vài chục triệu, làm sao bằng ngành giao thông tham nhũng hàng chục tỉ hả em. Em cần phải nhạy cảm chính trị hơn chứ đừng có ngây thơ như thế…”.

Mình nghe sếp nói và… im lặng. Sếp nói quá chuẩn! Sau đó, mình đã thực hiện đúng lời khuyên của sếp, tình nguyện vĩnh biệt đời công chức, ra khỏi ngành và viết “Lê Vân yêu và sống”, một cuốn sách mình muốn viết. Cuốn sách bị cấm tái bản (theo lệnh miệng) sau một tháng phát hành. Đến giờ, lệnh cấm vẫn còn nguyên hiệu lực, mà chẳng ai cho mình biết lý do tại sao cấm để mình còn “rút kinh nghiệm”. Đoán mò, chắc tại mình kém “nhạy cảm chính trị” chăng?

Lần thứ ba mình được “thụ giáo” bởi một anh chàng dễ thương bên an ninh văn hóa. Khi đó, mình đang say sưa viết một loạt bài điều tra về ông hiệu trưởng một trường đại học tham nhũng, lạm quyền. Vì là chỗ quen biết, chàng đọc thấy bèn chân tình khuyên nhủ: “Em viết làm gì. Ông trưởng bảo đúng ông phó bảo sai. Đố em biết được ai đúng ai sai!!! Cơ chế là thế. Hôm nay đúng ngày mai sai ngày kia lại đúng. Chẳng có ai sai cả. Viết thế chứ viết nữa cũng chả giải quyết được gì!!! Em phải biết trên ông ấy là ai chứ! Em chả nhạy cảm chính trị tí nào”.

Quả thật, bốn số liền đăng bài tố cáo mà “ngài hiệu trưởng khả kính” không thèm ra lời. Thậm chí, không hiểu phù phép thế nào, ông ta lại được ca ngợi hết lời, cũng chính trên tờ báo đó. Thế mới đau chứ!

Nỗi đau này mãi gần chục năm sau mới… lên da non được. Tình cờ một hôm, cà phê vỉa hè, mình đọc được tin ngài hiệu trưởng phù thủy ấy sắp ra tòa. Vì tham nhũng hay gì gì đó, ở một phi vụ khác… Bỗng nhớ lời khuyên chân tình của chàng an ninh văn hóa về “căn bệnh” kém “nhạy cảm chính trị” của mình.

Và còn nhiều lần nữa, mỗi lần được nhắc nhở kém / thiếu “nhạy cảm chính trị”, mình chỉ ừ hữ hoặc im lặng mà không có thuốc nào chữa được. Vái tứ phương, được các “lang vườn” bạn bè kê đơn bắt uống loại thuốc cây nhà lá vườn rất hiệu nghiệm có tên tiếng Tây là “Mackeno” và tên tiếng Việt là “Vô cảm”.

Vô cảm. Ai đó đã dùng chữ này đầu tiên để miêu tả căn bệnh thờ ơ, chán nản, buông xuôi, trơ lì của toàn xã hội, từ dân đen tới cán bộ? Vô cảm trước sự đói nghèo, vô cảm trước áp bức bất công, vô cảm trước cường hào tham nhũng, vô cảm trước tội ác bạo hành, vô cảm khi an ninh quốc gia bị đe dọa, và đặc biệt vô cảm trước sự vô cảm. Cả một xã hội ù lì u mê không cảm xúc yêu ghét.

Giống y hệt lúc tắc đường, là khi gương mặt xã hội được phản ánh rõ nhất.

Đầu tiên cáu vì bỗng nhiên bị chặn đứng (như bị ngâm hồ sơ giấy tờ, bị sách nhiễu vòi vĩnh…). 15 phút đầu bực lắm. Bực ra mặt. Trán nhăn lại cau có, mắt láo liên nhìn quanh tìm lối thoát. 15 phút tiếp theo vẫn đứng im một chỗ, bắt đầu chửi đổng trong bụng. 15 phút nữa trôi đi trong cam chịu, nhẫn nhục. Ai cũng giống hệt mình. Cuối cùng, thêm 15 phút hay lâu hơn nữa cũng vậy. Chẳng còn trông đợi gì nữa… Sau một giờ đồng hồ, thậm chí hai giờ, chôn chân tại chỗ, nắng đổ lửa xuống hay mưa như xối trên đầu, khói xăng xe mù mịt ngộp thở, mọi cảm xúc bực bội, chán nản, lo lắng, đau khổ, oán than, nguyền rủa… lên tới đỉnh điểm rồi bất ngờ rơi về trạng thái trống rỗng.

Dù đã được nhích lên từng tí một thì cũng chẳng còn hơi sức đâu mà mỉm cười. Dù sẽ được giải thoát nhưng lại nhận thức ngay rằng ngày mai vẫn thế, ngày kia vẫn thế, tháng sau vẫn thế, năm sau vẫn thế… Chẳng cáu chẳng chửi thậm chí cũng chẳng mừng. Một lần, sau cú tắc đường gần hai tiếng (đoạn đường dọc sông Kim Ngưu về nhà ở Kim Giang), khi được giải thoát cũng là lúc mình tự nhiên ngã lăn quay vì kiệt sức. Và hoàn toàn tê liệt mọi giác quan. Hoàn toàn vô cảm.

Một thời gian dài, đọc đâu cũng thấy chữ “nhạy cảm”, muốn nói gì viết gì cũng được miễn đừng đụng đến “vùng nhạy cảm’, tức vùng cấm, sợ động chạm, sợ phạm húy… Chữ “nhạy cảm” được dùng nhiều quá, trở nên chai lỳ, báo chí chuyển qua phong trào dùng chữ “vô cảm”, báo hiệu căn bệnh các vùng nhạy cảm bị… vô cảm.

Phải chăng, cái đích cuối cùng của báo chí tiếng Việt là đi từ “nhạy cảm” đến “vô cảm”, một quá trình triệt tiêu mọi cảm xúc một cách hoàn hảo để chữa căn bệnh thiếu / kém “nhạy cảm chính trị”?


  Bùi Mai Hạnh

( Theo Văn Việt )

Từ Hạo Tu phê phán vua An Nam

Với tư cách là một phần của cuộc đàm phán ngoại giao diễn ra sau khi nhà Thanh bị Tây Sơn đánh bại, hoàng đế Thanh Càn Long đồng ý công nhận Quang Trung là An Nam quốc vương (安南国王), nhưng ông vẫn đòi hỏi Quang Trung phải đích thân đến chầu tại cung đình nhà Thanh.


乾隆八旬萬壽慶典圖 1

乾隆八旬萬壽慶典圖 2

乾隆八旬萬壽慶典圖 3

Năm 1790, phái bộ Tây Sơn tới kinh đô triều đình Mãn Thanh, sau đó được đưa đến hành cung Nhiệt Hà (Di Hòa viên) và được tiếp đãi rất mĩ mãn.

Điều gì đã diễn ra ở đó ?

Tôi vẫn thường đọc được rằng nhà Tây Sơn đã cử một người khác cải trang Quang Trung, và lý do để được hoàng đế Càn Long tiếp đãi mĩ mãn là vì ông thực sự nghĩ rằng vua An Nam đã sang chầu. Tôi thấy có vài vấn đề với câu chuyện này.

• Trước hết tôi không tìm được nguồn gốc của tích truyện. Tuy không bảo điều đó là không thật, nhưng tôi vẫn không thể tìm được bất cứ bằng chứng nào cho thấy có người nào đó ở Việt Nam vào thời ấy biết được bất cứ điều gì về tích truyện. Vậy thì câu chuyện ấy bắt đầu được biết đến từ khi nào ? Như thế nào ? Ai đã kể đầu tiên ? Ở đâu ?

• Một vấn đề nữa làm tôi bối rối là khi phái bộ trở về, có một tập thơ [Tinh sai kỷ hành / 星差紀行] của một thành viên phái bộ là Phan Huy Ích đã được công bố. Đây là một sự kiện cực kỳ hiếm hoi, vì những tư liệu kiểu như vậy thường không được công bố. Trong thi tập của mình, Phan Huy Ích rất phởn chí về cách tiếp đón của hoàng đế Càn Long. Và ông không nói bất cứ điều gì về việc Quang Trung “giả”.

星差紀行


Vậy thì điều gì đã diễn ra ở đây ?

Theo tôi có lẽ có thể sự thật thì ai đó đã đóng giả Quang Trung, và điều đó đã được giữ kín đối với người Việt Nam, và khi nhà Thanh đối xử mĩ mãn với phái bộ thì vấn đề này đã được “công khai hóa” thông qua việc công bố thi tập của Phan Huy Ích để cho những thành viên tinh túy của phái bộ chưa ủng hộ nhà Tây Sơn biết rằng Tây Sơn đã được nhà Thanh vừa ý hơn nhiều so với nhà Lê đã từng được hưởng. Nói cách khác, đúng ra thì đây chính là cách “người Nam” chơi xỏ “người Thanh”, và cũng là ví dụ điển hình cho thấy Tây Sơn chơi xỏ người Nam nào không ủng hộ họ. Còn như lễ tân mĩ mãn mà nhà Tây Sơn được hưởng tại Nhiệt Hà liệu có phải chỉ đơn giản là vì hoàng đế Càn Long đã bị “chơi xỏ” khi nghĩ rằng Quang Trung đã sang chầu ?

Tôi đã đọc được một tư liệu của viên trưởng phái bộ Triều Tiên Từ Hạo Tu (徐浩修 / 서호수 / Seo Ho-su, 1736 – 1799) cũng có mặt thời gian đó và đã viết Yên Hành ký (燕行記 /Yeonhanggi). Từ cho rằng thực sự vua An Nam đã đến đó và Từ cực kỳ phê phán hành vi của ông ta. Từ mô tả cung cách ông này khúm núm quỳ trước viên Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An (福康安, 1753 – 1796) của nhà Thanh và cung cách vô sở bất vi (無所不爲 / không còn gì ông ta không làm) để xun xoe nịnh bợ Thanh triều.

Đây là một đoạn rất hấp dẫn, nhưng thật không may là nó vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo. Ngược lại, như tôi cũng đã chỉ rõ, một số người ra sức tẩy xóa các bằng chứng về những gì đã diễn ra trong thời gian đó. Bài ký của Từ Hạo Tu là một văn liệu giá trị mà các sử gia ngày nay, và đặc biệt là các sử gia nghiên cứu tình tiết này nên sử dụng.
燕行記 1
燕行記 2


(Tác giả : Lê Minh Khải ; dịch giả : Hà Hữu Nga)


( Thông Tấn Xã Vàng Anh )

AFR Dân Nguyễn - Những thông điệp vui.

 Dù quân đội Mỹ đã thua trong cuộc chiến VN-một cuộc chiến đã lùi vào quá khứ lâu lắm rồi, nhưng người ta vẫn phải thừa nhận quân đội Mỹ là một đội quân hùng mạnh bậc nhất TG hiện nay. Nó không chỉ hùng mạnh bởi được sinh ra trong một quốc gia giàu có, mà còn là một quân đội văn minh. Quân đội Mỹ không chỉ biết đánh nhau, mà họ còn có vai trò quan trọng trong các hoạt động nhân đạo, với tầm hoạt động bao trùm cả thế giới.

Không một nơi đâu, nhất là những nơi đang có xung đột, người dân luôn cảm thấy yên tâm khi có quân đội Mỹ hiện diện. Và người dân các xứ đó có cảm giác nỗi lo lắng bao trùm khi quân đội văn minh này rút đi… Những khoảng trống mà lính Mỹ để lại khi họ không còn được phép hiện diện tại những xứ sở đó, là bất ổn, là đói nghèo, là nguy cơ phiến quân hoành hành…

 Tuy nhiên, vai trò “quốc tế vô sản” không cho phép họ có mặt lâu dài ở bất cứ “điểm nóng” nào. VN từng được quân đội này hiện diện. Nhưng khi nó buộc phải rút đi bởi một hiệp định được ký kết tại Paris 41 năm về trước, thì vùng đất Nam VN, nơi quân đội Mỹ từng có mặt, đã rơi vào một “khoảng trống”. Khoảng trống muốn nói tới ở đây không phải là những cánh rừng bị rải chất độc khiến cỏ cây không thể mọc. (thực tế là do nạn phá rừng đã cạo trọc những cánh rừng thâm u của Dải Trường Sơn, chứ không phải do chất dioxin.), mà là khoảng trống khiến văn minh thịnh vượng không có cơ hội để sinh sôi nảy nở. Tuy nhiên, cái khoảng trống này do những kẻ khác, những kẻ dành chiến thắng và kiểm soát tạo ra.

Và phải chăng, vì cái khoảng trống đó làm cho người dân xứ sở này ngó về quân đội Mỹ với niềm nuối tiếc, giống như những gì người dân Iraq, Afganistan ngày nay đang phải đối mặt  khi quân đội Anh, Mỹ rút đi… Đặc biệt, khi vấn đề Biển Đông những năm tháng gần đây khiến người ta không nguôi nhớ về quân đội Mỹ- một quân đội từng là đồng minh tin cậy của ít ra là một nửa xứ sở này trong quá khứ xa xôi… Người ta có câu hỏi vương vấn mãi trong đầu, nếu quân đội Mỹ không “thua”, không buộc phải rút khỏi Nam VN năm 1973, thì  người Việt mất gì? Mất gì chưa biết, nhưng chắc chắn VN không bị mất Hoàng Sa về tay Trung Cộng, và cùng với đó, quân lực VNCH cũng đã có thể hùng mạnh như quân đội Hàn Quốc, đủ sức đối mặt trực diện với China khổng lồ, và Hòn ngọc viễn đông chắc không có gì phải hổ thẹn với láng giềng Bankok hay Singapore…

Dù sao những gì đã xảy ra giờ đã thành lịch sử. Nó có thể là những trang sử “hào hùng”, hay “vẻ vang” của một thiểu số nào đó, nhưng chắc chắn nó là trang sử buồn của Dân Tộc. (thậm chí nó cũng không thể là vẻ vang hay hào hùng cho một bộ phận làm nên nó, như người ta cố tình tuyên truyền…).

Nếu bánh xe lịch sử là việc quân đội Mỹ lại một lần nữa hiện diện nơi đây, thì chính đó, bánh xe lịch sử đang quay nhanh, và đem đến cho người ta niềm hy vọng. Nó đang lấp đi khoảng trống mà nó từng để lại mấy mươi năm về trước…Nhận thức là một quá trình; Nhưng quy luật dường như không phụ thuộc vào nhận thức của bất cứ ai, bất cứ thực thể nào. Hôm qua, một bộ phận, hay thậm chí là cả xứ sở này ngỡ rằng, tinh thần quốc tế vô sản” sẽ gắn kết những người “cùng chung chiến hào chống đế quốc” lại với nhau. Họ “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, là “chung một Biển Đông mối tình hữu nghị…”. Nhưng thực tế không phải vậy. Và cho dù hôm nay, một số người, do nhận thức “chỉ đến thế”, hoặc do họ cố tình muốn người khác hiểu thế, thì cái khẩu hiệu 16 chữ vàng, hay bốn tốt, giống như cái mặt nạ của China, đang dần tuột xuống. Mọi thứ đang được phơi bày.

Nếu như việc mất Hoàng Sa vào tay Trung Quốc là nỗi đau buốt nhói cả Dân Tộc, thì mặt khác, nó lại có tác dụng cảnh tỉnh chúng ta về bạn thù. Đó cũng là yếu tố góp phần làm chúng ta nhận chân của nhiều vấn đề quan trọng khác…

Nhìn những bức ảnh tướng Mỹ chào, duyệt đội danh dự một đơn vị hải quân VN vào thời điểm này, đem đến cho rất nhiều người niềm vui. Dù những bộ quân phục mà những người lính VN đang mặc trên người còn là đặc trưng của những bộ đồng phục của quân giải phóng ND TQ, từ màu sắc đến kiểu cách.., nhưng nó cũng gợi lại cho người ta thấy hình ảnh của mối quan hệ đồng minh giữa quân đội Mỹ và quân đội VNCH một thuở. Dù không được thấy  những người lính VN đang giơ tay chào tướng Mỹ mặc những bộ quân phục gọn gàng toát lên vẻ kiêu hùng như người lính VNCH bận trên người khi xưa, nhưng cái chào đó đem đến niềm hy vọng. Niềm hy vọng cho người ta thấy được chúng ta đang dần tìm lại những gì đã đánh mất. Niềm hy vọng là nhiều người sẽ vỡ ra không chỉ về những vấn đề thời sự, thời đại, song còn là những vấn đề rất sâu xa của cuộc sống.

 Aug?19th/2014

AFR Dân Nguyễn
 
 Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả
   
 ( Theo Quê Choa )       

Bậy bạ đầu vào và chuyện công chức bảo kê "xã hội đen"

“Được nhà nước giao để thực hiện một quyền nhất định, lẽ ra anh phải là người cầm cân nảy mực để giữ kỷ cương đất nước, thì anh lại bao che cho một lực lượng để làm bậy, đó là cái rất nguy hại”.

Ủy viên thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc Hội, nguyên Chánh Thanh tra Bộ Nội vụ - ĐBQH Nguyễn Sỹ Cương chia sẻ với phóng viên Báo điện tử Infonet khi đề cập đến những vấn đề nổi cộm từ chuyện thi tuyển đầu vào đến cách hành xử của một bộ phận công chức nhà nước thời gian qua.  

Một Phó Trưởng Ban tổ chức quận ủy Cầu Giấy liên quan đến vụ đâm chết người trong ô tô đang gây chú ý trong dự luận thời gian qua.

Những tiêu cực trong tuyển dụng công chức đã trở thành vấn đề nhức nhối trong dư luận. Hà Nội trước đây đã từng gây xôn xao với câu chuyện chạy công chức không dưới 100 triệu đồng, rồi vừa qua ở Bộ Công thương lại xảy ra câu chuyện tuồn đề cho "con ông cháu cha" trong thi tuyển công chức. Theo ông, những câu chuyện này nói lên điều gì về thực trạng tuyển dụng công chức hiện nay?

Điều này nói lên một thực tiễn mà bấy lâu nay người ta rất bức xúc về cái gọi là “chạy” việc, nhất là trong bối cảnh thiếu công ăn việc làm hiện nay. Đã có bao nhiêu cử nhân tốt nghiệp đang không có công ăn việc làm, mong muốn có được một việc làm, như cảnh phải xếp hàng thi vào Cục Thuế Hà Nội trong mấy ngày qua là rất rõ.

Điều đó chứng tỏ số lượng có nhu cầu về việc làm rất lớn. Trong bối cảnh đó, các cơ quan nhà nước đáng lẽ ra phải thực hiện quy định của pháp luật một cách nghiêm túc trong tuyển dụng, làm sao tuyển được người có trình độ, có năng lực đạo đức vào làm việc. Nhưng anh lại làm những việc trái quy định của pháp luật, tuyển dụng đối tượng toàn người nhà, người thân vào bộ máy nhà nước. Cái đó thể hiện công tác tuyển dụng không còn đúng với bản chất của nó nữa.

Liên quan đến câu chuyện bổ nhiệm, thời gian gầy đâu dư luận cũng đề cập đến câu chuyện "bố bổ nhiệm con". Điều này có phù hợp với quy định của pháp luật không, thưa ông?

Cái đó pháp luật không cấm. Vì có những trường hợp ông bố làm lãnh đạo cơ quan đó, rồi con cái họ thi vào một cách công khai, minh bạch, có đủ trình độ năng lực, tại sao lại không cất nhắc, bổ nhiệm? Cái chính là tập thể lãnh đạo ở đó đánh giá con người về điều kiện tiêu chuẩn, trình độ năng lực ra sao, rồi phải thực hiện theo đúng quy trình thủ tục và cần phải xem việc bổ nhiệm đó có đúng hay không?

Nhưng bấy lâu nay chuyện bổ nhiệm cứ làm một cách bậy bạ, không đúng quy trình bổ nhiệm nên dư luận mới bức xúc. Anh cứ nhăm nhăm cất nhắc, không chỉ là con cái, cháu chắt rồi cả người thân người quen thì không thể chấp nhận được.

Ủy viên thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc Hội, ĐBQH Nguyễn Sỹ Cương
Vậy theo ông cần phải làm gì để hạn chế, xóa bỏ những tiêu cực để có thể tuyển dụng và trọng dụng những người thực sự có năng lực trong bộ máy nhà nước?

Cái này Quốc hội đã thông qua Luật Cán bộ công chức, Chính phủ cũng có những quy định rất cụ thể đến vấn đề tuyển dụng, nhưng rất tiếc là các cơ quan lại không thực hiện việc đó nghiêm mà lại lợi dụng cái sơ hở của pháp luật để làm bậy, thậm chí còn cố tình làm trái các quy định của pháp luật.

Để làm được điều này, một câu trả lời rất dễ là phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật thì mới tuyển được người tài, đáp ứng đúng nhu cầu của bộ máy nhà nước. Nếu cứ làm sai trái quy định của pháp luật như thế, cốt để tuyển được người rồi cầm tiền của người ta thì làm sao mà tuyển được người tử tế vào bộ máy nhà nước? Mà nếu cứ như thế thì bộ máy nhà nước không bao giờ được tăng cường, không thể có được một bộ máy thực sự mạnh mẽ.

Từ chất lượng trong thi tuyển đầu vào dẫn đến chuyện tha hóa đạo đức, lối sống của cán bộ công chức hiện nay không còn là điều hiếm gặp. Điển hình như ở Hà Nội mới đây, một Phó Trưởng Ban tổ chức quận ủy Cầu Giấy liên quan đến cả "xã hội đen" đâm chết người. Ông đánh giá như thế nào về cách hành xử của một cán bộ công chức có vị trí trong bộ máy nhà nước như vậy?

Thực chất đó là một hiện tượng bảo kê cho "xã hội đen" của một bộ phận cán bộ công chức có quyền trong bộ máy nhà nước. Được nhà nước giao để thực hiện một quyền nhất định trong bộ máy nhà nước, lẽ ra anh phải là người cầm cân nảy mực để giữ kỷ cương của đất nước, thì anh lại vì một lý do nào đó, mà phần lớn vì vụ lợi để rồi bao che cho một lực lượng để làm bậy, đó là cái rất nguy hại. Điều này vừa làm mất trật tự xã hội, vừa không đáp ứng được yêu cầu kỷ cương của nhà nước và làm mất niềm tin của người dân vào bộ máy nhà nước.

Việc xử lý những trưởng hợp này như thế nào, để không những đảm bảo sự nghiêm minh của luật pháp mà còn đảm bảo tính răn đe, thưa ông?

Trước đây cũng có nhiều trường hợp như thế, ví dụ như vụ Năm Cam, hay gần đây nhất là vụ Dương Tự Trọng, rồi cho đến giờ là đến Phó Ban tổ chức quận ủy Cầu Giấy.

Đó là những đối tượng cụ thể, khi đã xác định đúng có hành vi bảo kê cho những hành vi bất hợp pháp thì phải xử lý một cách rất nghiêm khắc, với hình thức cao nhất là phải loại những đối tượng đó ra khỏi bộ máy nhà nước. Có như vậy mới có thể giữ được bộ máy nhà nước thực sự trong sạch!

Xin cảm ơn ông!

Nguyễn Dũng (thực hiện)

( Infonet )

Hiệu Minh - Chủ nghĩa Xã hội vs Chủ nghĩa Tư bản

Trồng giấc mơ bằng...tiền. Ảnh: Internet
Trồng giấc mơ bằng…tiền. Ảnh: Internet
Robin Hood là người rừng chuyên đi lấy của người giầu chia cho người nghèo. Đó cũng là cách mà CNXH tìm cách chia đều lợi nhuận xã hội cho mọi người nhằm tiến tới công bằng: cơ hội và thành quả.

Đó cũng là ý nghĩ của những người làm nên cuộc cách mạng tháng 8-1945.

Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam đều có “Robin Hood”. Liên Xô cải tạo và xử lý gulag, Trung Quốc cải cách ruộng đất. Việt Nam copy cả hai. Hòa bình vừa xong trên nửa nước đã tiến hành xử địa chủ bóc lột, bắt tù, giết cường hào gian ác. Hợp tác hóa toàn miền Bắc, tưởng rằng, bằng sức mạnh tập thể, rời non lấp biển, CNXH thành công sau 5 năm kế hoạch đầu tiên.

Đáng tiếc thay, tư duy cha chung không ai khóc đã ngự trị cả ngàn năm ở nền văn minh lúa nước sông Hồng, giấc mơ của cụ Lê Nin tại xứ Việt vẫn chỉ là giấc mơ. Robin Hood chưa chắc đã là người hùng như trong truyện cổ tích của người Việt.

Sống dưới chế độ XHCN tại Việt Nam 15 năm liền (1954-1970) từ thuở thiếu niên, sau đó 7 năm tại Ba Lan ở lứa tuổi thanh niên với XHCN nửa cộng sản, nửa quí tộc, nửa tin Liên Xô, nửa kia tin Mỹ, có 6 tháng bên tư bản Anh già cỗi, và 10 năm gần đây khi ở tuổi tri thiên mệnh tại sào huyệt đế quốc và tư bản Mỹ, thế mà tôi không tự tin để nói thế nào là tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, chế độ nào tốt đẹp hơn. Mỗi chủ nghĩa có cái hay riêng.

Gọi điện hỏi tay chuyên gia kinh tế thế giới, hắn giải thích nôm na như sau.

Quốc gia nào có sở hữu Nhà nước nhiều hơn gọi là cộng sản, nơi nào sở hữu tư nhân nhiều hơn được gọi là tư bản. Hai mô hình này mà cãi nhau “ai hơn ai” đến thế kỷ sau chưa chắc đã ngã ngũ.

Nếu nhà máy do công nhân đóng góp tiền, làm chủ tập thể, tự bầu lãnh đạo. Sản xuất hàng hóa, có lợi nhuận cùng hưởng và chia đều, khi thua thiệt tất cả nhà máy cắn răng chia chung nỗi đau thất bát. Họ có một người là Nhà nước theo kiểu “sở hữu toàn dân mà đại diện là nhà nước”. Đây là CNXH.

Cũng nhà máy ấy lại do một số cổ đông lắm tiền, nhiều của, do bán bia hơi, buôn đất, phe phẩy, trúng mánh, rồi đóng góp và thuê công nhân. Có ban quản trị được thuê để giúp chiến lược, sản xuất và bán hàng. Khi có lời, mấy tay cổ đông chia nhau, lời nhiều, chia nhiều. Thua thiệt ngồi ôm nhau khóc hoặc tự tử vì phá sản. Vì đã nhận lương, công nhân “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi” đã cao chạy xa bay. Đó là CNTB.

Có một sự thật là đầu thế kỷ 20, tư bản làm chủ thế giới, nhưng bóc lột thậm tệ, hành xử hoang dã, cá lớn nuốt cá bé, dân chúng nổi dậy đòi sự công bằng. Lúc đó, cụ Mác Lê vẽ ra một chế độ không còn cảnh người bóc lột người, sở hữu toàn dân, công bằng, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, nên cách mạng vô sản thế giới nổ ra khắp nơi. Tư bản bị thất thế, nổi lên là cộng sản với hàng tỷ tín đồ đi theo.

Hỏi về sự khác biệt trong kinh tế của hai chế độ, anh bạn cho đường link google ra cái bảng sau

Economic System – Hệ thống kinh tê

Capitalism – Tư bản CN

Socialism – CNXH

Equity – Công bằng Capitalism is unconcerned about equity. It is argued that inequality is essential to encourage innovation and economic development.
CNTB không quan tâm đến sự công bằng, vì sự không công bằng giúp cho sáng tạo và phát triển.
Socialism is concerned with redistributing resources from the rich to the poor. This is to ensure everyone has both equal opportunities and equal outcomes.
CNXH lại quan tâm đến chia đều tài nguyên, lấy của người giầu chia cho người nghèo. Mọi người cùng có cơ hội và thành quả ngang nhau
Ownership – Sở hữu Private businesses will be owned by private individuals
Sở hữu thuộc về tư nhân
The State will own and control the main means of production. In some models of socialism, ownership would not be by the government but worker cooperatives.
Nhà nước sở hữu và quản lý toàn bộ tiến trình sản xuất. Một vài nơi dựa vào công hữu kiểu hợp tác xã.
Efficiency – Tiện ích, hiệu quả It is argued that the profit incentive encourages firms to be more efficient, cut costs and innovate new products that people want -
Do lợi nhuận nên các công ty trở nên hiệu quả, giảm giá thành và sáng tạo những thứ người tiêu dùng cần.
It is argued that state ownership often leads to inefficiency because workers and managers lack any incentive to cut costs.
Nhà nước sở hữu dễ dẫn đến kém hiệu quả vì công nhân, cán bộ và quản lý không có nhu cầu về sáng tạo và giảm giá thành
Unemployment – Thất nghiệp In capitalist economic systems, the state doesn’t directly provide jobs. Therefore in times of recession, unemployment in capitalist economic systems can rise to very high levels.
Nhà nước không liên quan trực tiếp đến tìm công ăn việc làm. Khi kinh tế suy thoái, luợng người thất nghiệp rất cao.
Employment is often directed by the state. therefore, the state can provide full employment even if workers are not doing anything particularly essential.
Tuyển nhân viên, cán bộ do nhà nước quản lý vì thế nhà nước vẫn cung cấp đủ việc làm, dù việc làm đó chẳng đóng vai trò gì trong phát triển.
Price Controls – Kiểm soát giá cả Prices are determined by market forces. Firms with monopoly power may be able to exploit their position and charge much higher prices.
Giá cả được điều tiết bởi thị trường. Nhưng đôi khi, những công ty độc quyền có thế dùng sức mạnh của mình “cá lớn nuốt cá bé”, và đưa giá cao hơn nhiều vì lợi nhuận là trên hết.
In a state managed economy prices are usually set by the government this can lead to shortages and surpluses.
Trong cơ chế nhà nước quản lý, giá cả do trung ương quyết định vì thế khi thừa thì rất thừa, khi thiếu thì rất thiếu.


Trong cơ chế nhà nước quản lý, giá cả do trung ương quyết định vì thế khi thừa thì rất thừa, khi thiếu thì rất thiếu.

Lợi nhuận thế nào đây? Ảnh: Internet
Lợi nhuận thế nào đây? Ảnh: Internet

Anh bạn nói thêm, nếu CNTB không xấu xa đã không sinh ra CNXH. Nhờ có CNXH mà cánh tư bản sống tốt hơn. Nếu không trái đất vẫn trong đêm dài tăm tối của CNTB. Qua 70-80 năm, CNXH vẫn chưa mạnh như người ta tưởng là vì chưa biết điều chỉnh như các đồng chí bên tư bản. Các chế độ XHCN tha hóa dần sụp đổ, tư bản lại thắng, không như kịch bản mà các bậc tiền bối CM tháng 8 đã nổi lên giành chính quyền.

Nhưng ai mà biết được, sau thế kỷ nữa, nếu tư bản tiếp tục bóc lột người, cộng sản lại nổi lên. Chẳng có gì đảm bảo sự vĩnh cửu của một chế độ. Vì Robin Hood thời nào cũng có.

Trước khi chào tạm biệt, anh dẫn một câu của Winston Churchill “The inherent vice of capitalism is the unequal sharing of blessings; the inherent virtue of socialism is the equal sharing of miseries. – Thói xấu cố hữu của CNTB là sự phân chia may mắn không công bằng; CNXH có nền tảng đạo đức tốt đẹp là công bằng trong chia sẻ sự khốn cùng”

HM. 19-8-2014.

Ảnh đăng trên facebook nhưng sợ nhiều cụ không có “phây”. Các cụ xem cho biết tư bản giãy chết :)

Bờ Nam bãi biển Myrtle. South Carolina. Ảnh: HM
Bờ Nam bãi biển Myrtle. South Carolina. Ảnh: HM

Bờ Bắc. Ảnh: HM
Bờ Bắc. Ảnh: HM

Walkway - lối đi dạo. Ảnh: HM
Walkway – lối đi dạo. Ảnh: HM

Tổng hành dinh Cua Times :) Ảnh: HM
Tổng hành dinh Cua Times :) Ảnh: HM

Tia chớp Atlantic. Ảnh: HM
Tia chớp Atlantic. Ảnh: HM

( Blog Hiệu Minh )

Biển Đông : "Mỹ không nói suông nữa"

Tướng Mỹ Martin E.Dempsey bên cạnh Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ trong chuyến thăm Việt Nam từ 14 đến 17/08/2014.
Tướng Mỹ Martin E.Dempsey bên cạnh Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ trong chuyến thăm Việt Nam từ 14 đến 17/08/2014. http://www.defense.gov
Lần đầu tiên kể từ năm 1971 đến nay, ngày 14/08/2014 vừa qua, nhân vật đứng đầu quân đội Mỹ công du Việt Nam. Trong khuôn khổ một chuyến thăm Việt Nam trong 4 ngày, Tướng Martin E. Dempsey, Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, đã thảo luận với các lãnh đạo Việt Nam về việc tăng cường quan hệ quân sự giữa hai nước vốn trước đây là cựu thù.

Phát biểu trong một cuộc họp báo tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16/08/2014, Tướng Martin Dempsey xác nhận khả năng Mỹ giảm nhẹ cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam, và trong trường hợp đó, ông chủ trương cung cấp các loại thiết bị và vũ khí để Việt Nam tăng cường năng lực binh chủng Hải quân.

Theo tướng Dempsey, Washington có thể bán cho Hà Nội từ tàu tuần tra, các thiết bị tình báo, giám sát và trinh sát, cho đến các phương tiện tìm kiếm và cứu hộ, và thậm chí các loại vũ khí mà hạm đội Việt Nam chưa từng có.

Về vấn đề Biển Đông, Tướng Dempsey dĩ nhiên đã xác định trở lại lập trường từ trước đến nay của Hoa Kỳ là "không đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp lãnh thổ". Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng Mỹ hết sức quan tâm đến cách thức giải quyết các bất đồng mà theo ông không được phép sử dụng vũ lực.

Giải pháp cho Biển Đông phải là đa phương

Cốt lõi của một giải pháp cho vấn đề Biển Đông, theo Tướng Dempsey, là một phương thức giải quyết đa phương, thông qua Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN, chứ không phải là vấn đề "Mỹ có ý định làm gì".

Đối với tướng Dempsey, Mỹ và Việt Nam có lợi ích chung, và Hoa Kỳ đang khuyến khích các đối tác ASEAN và đồng minh trong khu vực phát huy một cách tiếp cận đa phương đối với vấn đề an ninh trên biển.

Về quan hệ quân sự Mỹ-Việt, sau khi nhắc lại rằng Washington có các thỏa thuận quốc phòng lâu dài với các nước trong khu vực, trong đó Philippines và Thái Lan là hai đồng minh có ký hiệp ước với Mỹ, Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ xác định : "Chúng tôi rất quan tâm đến việc trở thành đối tác với một nước Việt Nam hùng mạnh, độc lập và thịnh vượng".

Để hiểu rõ hơn về ý nghĩa chuyến thăm Việt Nam của Tướng Martin Dempsey, RFI đã có bài phỏng vấn nhanh với Giáo sư Ngô Vĩnh Long thuộc trường Đại Học Maine (Hoa Kỳ). Trước hết Giáo sư Long đã xác định tầm mức quan trọng của chuyến thăm Việt Nam của Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ Martin Dempsey, trong bối cảnh Việt Nam bị Trung Quốc chèn ép dữ dội trên Biển Đông.

Ngô Vĩnh Long : Tôi nghĩ cuộc viếng thăm này rất là quan trọng… Việt Nam có lãnh thổ và lãnh hải dài nhất ở Biển Đông. Việt Nam bị tổn hại nhất vì sự bành trướng của Trung Quốc, nhưng lại yếu về vấn đề quân sự cũng như vấn đề chính trị và liên hệ với các nước khác. Thành ra vai trò của Mỹ củng cố quan hệ với Việt Nam rất quan trọng, không những cho Việt Nam mà cho cả khu vực.

Và chính Đại tướng Dempsey, khi ở Việt Nam, cũng đã nói rằng ông hoàn toàn chia sẻ đánh giá là hòa bình và ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, nhất là ở Biển Đông, đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi những đòi hỏi phi lý, có nghĩa là (đòi hỏi) của Trung Quốc.

Và ông nói rằng việc này không những đe dọa Việt Nam và các nước ASEAN mà còn đe dọa đến lợi ích của Mỹ và của các nước khác.

Mối quan tâm của Hoa Kỳ đối với Việt Nam và các nước khác trong khu vực là quan tâm chung, và những quan ngại đã được nêu ra đều có cơ sở, thành ra Mỹ và và giới quân sự Mỹ cần chú ý thêm đến khu vực này (Biển Đông). Tôi thấy đây là một hướng tích cực đối với an ninh chung của khu vực.

RFI: Riêng về phía Mỹ, chuyến thăm Việt Nam của ông Dempsey thể hiện điều gì ?

Ngô Vĩnh Long: Về phía Mỹ, chuyến thăm của ông Dempsey thể hiện việc chính phủ Mỹ - và quân đội Mỹ - thấy rằng việc Trung Quốc bành trướng và sử dụng sức mạnh để đe dọa làm tổn hại đến an ninh khu vực và cũng như là quyền lợi của Mỹ.

(Chuyến thăm) thể hiện vấn đề Mỹ không nói suông nữa. Từ trước đến giờ Mỹ muốn trấn an Trung Quốc, nói ‘suông suông’, rồi nói với Trung Quốc là không nên gây hấn… Nhưng giờ đây là việc Mỹ tăng cường sự hiện diện để cho Trung Quốc biết là không nên làm quá, vì nếu Trung Quốc tiếp tục làm quá, thì Mỹ sẽ có những biện pháp đối với Trung Quốc...

Mỹ sẽ giám sát hiện trạng Biển Đông

Về lâu về dài, Mỹ có thể sẽ cấm vận Trung Quốc, nhưng hiện nay, Mỹ chẳng hạn đã tuyên bố là đang đưa máy bay đi giám sát các hòn đảo ở Trường Sa xem thử coi Trung Quốc có tăng cường hoạt động trong vùng đó hay không.

Rõ ràng là Mỹ nghĩ rằng vì các hành động của Trung Quốc, cho nên Mỹ phải ra tay mạnh hơn, để cho Trung Quốc thấy được dấu hiệu rõ ràng là quyền lợi của Mỹ cũng như quyền lợi của thế giới đang bị xâm phạm.

Đây là việc Hoa Kỳ chưa dám làm trước đây, nhưng bây giờ, sau khi các nước ASEAN nói rằng các hành động khiêu khích gần đây có hại cho hòa bình, ổn định và an ninh, cũng như tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, thì việc này giúp cho Mỹ nói rằng : « À ! Vậy thì chúng tôi sẽ giúp các anh giám sát các hành động này, để cho chúng ta có thể bảo vệ an ninh chung ! »

Do đó tôi thấy rằng bản thông cáo chung ASEAN vừa qua rất tốt cho việc giúp Mỹ tăng cường quan hệ và hoạt động trong khu vực.

RFI: Thông cáo chung ASEAN là « cơ sở pháp lý » để Hoa Kỳ phát triển hoạt động ?

Ngô Vĩnh Long: Vâng. Hoa Kỳ và các nước đồng minh. Hoa kỳ hiện nay cũng lập một quan hệ với Úc, với Nhật, và với Ấn Độ trong việc giám sát an ninh khu vực. Tôi nghĩ đây là cơ sở để tăng cường hoạt động chung.

Mai Vân-Trọng Nghĩa

(RFI)

Bà Bùi Thị Minh Hằng được gặp gia đình

VRNs (20.08.2014) – Sài Gòn – Sáng nay ngày 19.08.2014, bà Bùi Thị Minh Hằng đã được gặp con gái bà là cô Quỳnh Anh tại trại giam An Bình, Tp. Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp. Buổi thăm gặp của hai mẹ con chỉ vỏn vẹn 15 phút. Cô Đặng Thị Quỳnh Anh kể lại cuộc nói chuyện:

“Sáng nay, tôi được gặp mẹ trong vòng khoảng 15 phút. Kèm theo đó là có hai nhân viên của trại giam ngồi bên cạnh. Trong suốt thời gian bắt bà đã qua 4 lần tuyệt thực. Lần thứ nhất là hơn 50 ngày, hai lần sau bà không nhắc tới, và lần thứ 4 bà tuyệt thực được 13 ngày. Vì thế, sức khỏe của bà khá là kém, khi bà đi ra [gặp tôi] phải có hai người dìu ra, nhưng tinh thần của bà rất mạnh mẽ.

Mẹ tôi nói với tôi rằng, sắp tới, nếu xảy ra một phiên tòa bất công thì bà sẽ tuyệt thực cho đến chết, để cho tất cả các nhân viên công quyền nhìn thấy nỗi đau của bà. Bà nhấn mạnh, hy sinh cũng là một cách đấu tranh.

Tôi có cho bà biết là em trai tôi – Trần Bùi Trung đã qua Hoa Kỳ để vận động [trả tự do] cho bà và hai người bạn của bà. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hứa sẽ quan tâm đến phiên tòa này. Sắp tới, em Trung sẽ đi Úc. Hơn 10 Đại sứ Phương tây mong muốn có mặt trong phiên tòa.

Bà gửi lời tri ân cám ơn tất cả mọi người trong cũng như ngoài nước đã quan tâm giúp đỡ và đồng hành với gia đình trong thời gian bà bị bắt vừa qua.”

Ngoài ra, cô Quỳnh Anh cho biết thêm: “Đi qua nhiều trại giam, gặp nhiều cán bộ công an khắp mọi niềm thì bà nhận định công an trại giam An Bình – nơi bà đang bị giam rất có tình người. Bà muốn tôi, sau phiên tòa, cho dù sự việc có xảy ra như thế nào, bà muốn tôi quay trở lại đó để cám ơn một số người vì họ rất tận tâm giúp đỡ bà trong thời gian bà đau yếu vừa qua.”

Từ khi bà Bùi Hằng bị bắt giam từ ngày 11.02 cho đến nay, thì hôm nay là lần đầu tiên bà Bùi Hằng được thăm gặp gia đình bởi vì cán bộ trại giam luôn gây khó khăn cho gia đình.

Biểu tình trước Bộ Công an 18/03/2014 đòi trả tự do cho Bùi Thị Minh Hằng
Theo công văn số 69/2014/HSST-QĐ do thẩm phán Bùi Phước Lộc ký vào ngày 28.07.2014 cho biết, vào lúc 7 giờ 30 ngày 26.08.2014, tại tòa án Nhân dân tỉnh Đồng Tháp sẽ diễn ra phiên tòa sơ thẩm của bà Bùi Hằng, cô Thúy Quỳnh và ông Văn Minh. Cả ba người đều bị truy tố về tội “gây rối trật tự công cộng” theo Khoản 2, Điều 245 BLHS”.

Hội Anh Em Dân Chủ nhận định “đây là một âm mưu chính trị, một vụ án chính trị nhằm đàn áp, bắt giữ và cầm tù nhà hoạt động nhân quyền Bùi Thị Minh Hằng và những người bạn của bà.” Và, khẳng định: “bất kỳ phán quyết nào buộc tội bà Bùi Thị Minh Hằng và những người liên quan đều là vi phạm quyền con người.”

Hội Anh Em Dân Chủ phản đối bản cáo trạng 23/CT-VSK của VKS tỉnh Đồng Tháp ngày 10.07.2014 cho rằng cả ba người có “hành vi gây cản trở giao thông”.

Trước khi phiên tòa diễn ra, một số nhóm và những người bạn của bà có một vài hoạt động hướng về phiên tòa. Trên trang facebook No-U FC cho hay: Ngày 17.08 “No-U FC ra sân lần thứ 118 với một ý nghĩa vô cùng đặc biệt. Ngày 26/8/2014 tới đây, một người bạn, người chị vô cùng thân thiết của No-U FC là chị Bùi Thị Minh Hằng và chị Thuý Quỳnh, anh Văn Minh sẽ bị đưa ra xét xử tại Cao Lãnh, Đồng Tháp xa xôi vì tội danh rất mơ hồ, nguỵ tạo là gây rối trật tự công cộng. Để đồng hành cùng chị Hằng và những người bạn, No-U FC quyết định tổ chức quyên góp để phục vụ chiến dịch đồng hành cùng những người yêu nước trong phiên toà tại Đồng Tháp tới đây. Chúng tôi vô cùng cùng hoan nghênh quý anh chị cô bác gần xa ủng hộ chúng tôi, vì một Việt Nam tự do, dân chủ, giàu mạnh.”

Bùi Thị Minh Hằng với các bè bạn Sài gòn
Hiện nay, anh Trần Bùi Trung – con trai bà Bùi Hằng đang ở Hoa Kỳ, gặp gỡ một số vị Dân biểu và tổ chức Nhân quyền Quốc tế, để vận động trả tự do cho bà Bùi Hằng cùng với hai người bạn cùng vụ án với bà Bùi Hằng là cô Thúy Quỳnh và ông Văn Minh. Sắp tới anh Trần Bùi Trung tiếp tục đến Úc Châu để vận động.

Cô Quỳnh Anh gửi lời cám ơn các tổ chức và các nhân đã yêu mến và quan tâm đến Bà Bùi Hằng và hai người bạn của bà. Cô Quỳnh Anh bày tỏ: “Mẹ tôi nói rằng, tuy mẹ tôi ở trong trại giam nhưng mẹ tôi có thể hình dung ra tất cả các diễn biến ở ngoài này, bởi vì bà được nhiều người đồng hành với bà trong suốt quá trình bà đấu tranh, thì bây giờ mọi người tiếp tục đồng hành cùng với gia đình để đấu tranh và tìm lại công lý cho bà. Tôi muốn gửi lời cám ơn các cá nhân, tập thể và các hội đoàn đã cùng đồng hành với gia đình tôi.”
(Dòng Chúa Cứu Thế VN)

Để hiểu thêm Tố Hữu

Không chỉ có Tố Hữu mà nhiều nhà văn miền Bắc cũng từng khóc Stalin

Trước mắt tôi là sưu tập Văn Nghệ số 40 ra 3-1953. Lúc này cơ quan Hội văn nghệ đang đóng ở rừng Việt Bắc. Nhân cái chết của Stalin, tạp chí của Hội ra một số đặc biệt, không chỉ Tố Hữu mà nhiều tác giả khác có bài liên quan tới sự kiện này.

Về thơ: Chế Lan Viên có Stalin không chết, mở đầu bằng mấy câu
Stalin mất rồi
Đồng chí Stalin đã mất!
Thế giới không cha nặng tiếng thở dài

Ở đoạn dưới:

Mẹ hiền ta ơi
Em bé ta ơi
Đồng chí Stalin không bao giờ chết

…Triệu triệu mẹ già em dại
Đều là súng Stalin để lại
Giữ lấy hòa bình thế giới
Tiếng nổ ca vang dội thấu mặt trời

Trước bài Đời đời nhớ Ông của Tố Hữu là bài Nhớ đồng chí Stalin của Huy Cận. Tiếp đó các bài của Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn.

Xuân Diệu có bài Thương tiếc Đại nguyên soái Stalin:

Nghe tin mất mới thấy lòng quyến luyến
Từ bao lâu yêu Người tận tủy xương
Tiếng khóc đây là tất cả can trường
Thấy Người thật là bát cơm miếng bánh
Người gắn với chúng con trong vận mệnh

Về phần văn xuôi: Phan Khôi có bài Một vị học giả mác-xít thiên tài. Trước khi viết kỹ về cuốn Chủ nghĩa Mác và vấn đề ngôn ngữ, Phan Khôi có đoạn dạo đầu ngắn:

Đối với cái chết của Đại nguyên soái Stalin, vấn đề đề ra trước mắt những người đang sống là: Chúng ta phải học tập Stalin, học tập đạo đức cách mạng và trí tuệ của ông, được cả càng hay, không thì được phần nào cũng hay phần ấy, đó là một đảm bảo vững chắc cho cuộc thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của Chủ nghĩa tân dân chủ.

Lê Đạt thì xuất hiện như một phóng viên, ghi lại không khí một nhà máy trong rừng khi nghe tin Stalin mất. Bài viết khoảng 3.000 chữ này kể chuyện cái chết của Stalin đã gợi lên niềm xúc động to lớn, từ đó đánh thức tinh thần lao động sáng tạo của cả một tập thể công nhân gang thép.

Xin phép mở một dấu ngoặc. Ngoài các bài Liễu, Bài thơ tình ở Hàng Châu, Tế Hanh còn có bài thơ ngắn sau đây, viết trong đợt thăm Trung Quốc 1962. Tôi vẫn thường nhẩm lại mỗi khi nhớ tới đời sống tinh thần của chúng tôi những năm 1965 về trước.

Hồ Nam xe chạy không dừng bước
Dãy núi cao liền dãy núi cao
Quê hương lãnh tụ mây thêu nắng
Thấy mặt trời lên nhớ bác Mao

Tôi muốn thầm nói với Tế Hanh: Anh không việc gì phải xấu hổ cả. Hồi ấy, bao nhiêu người nghĩ thế, chứ đâu phải riêng anh!
Nhà thơ bơ vơ

Trở lại chuyện Tố Hữu. Nếu có ai hỏi tôi thích bài nào của Tố Hữu nhất, tôi sẽ nói rằng đó là cụm mấy bài ông làm hồi đi tù, in trong phần Xiềng xích của tập Từ ấy.

Bài Nhớ đồng

Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
Hiu quạnh bên trong một tiếng hò

Bài Tiếng hát đi đầy

Hỡi những anh đầu đi trước đó
Biết chăng còn lắm bạn đi đầy
 

Từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Tố Hữu là nhà thơ có nhiều sách viết về ông nhất ở Việt Nam

Những bài thơ này có cái giọng mà sau này không bao giờ Tố Hữu có nữa. Nhà thơ bơ vơ trong cảnh đơn độc ở núi rừng. Phải làm thơ, phải lấy thơ để tự khẳng định, thơ cất lên không để cho ai mà trước tiên để cho mình.

Sinh thời, Tố Hữu hay nói, đại ý hãy coi ông là nhà cách mạng, sau đó mới là nhà thơ. Như thế tức là ông cũng đã biết chỗ đứng của mình trong lịch sử.

Có điều không phải luôn luôn người ta làm được đúng như những điều người ta tự xác định. Là một người hết sức nhạy cảm và sẵn có cả chất mệ của quê hương, ông thừa biết nhiều khi dân văn nghệ ca ngợi thơ ông vì ông là quan chức phụ trách người ta, nắm sinh mệnh của người ta. Song nếu đủ sáng suốt để từ chối những lời nịnh bợ thường trực thì ông đã không còn là ông nữa. Lẽ đời là vậy, lúc được được quá cái đáng được, thì lúc mất cũng mất quá cái đáng mất. Nhưng về phần chúng ta, mỗi lần đả động đến ông, tôi nghĩ nên phân biệt đang nói về ông như một quan chức cao cấp hay nói về ông như một nhà thơ.
Ngược điều mình nghĩ

Khoảng năm 1973, Hà Nội có một triển lãm điêu khắc với ngôn ngữ khá hiện đại của Nguyễn Hải và Lê Công Thành. Chính Tố Hữu cũng rất thích - sang Hội nhà văn nghe ngóng về. Nguyễn Khải báo cho tôi biết tin vui đó. Nhưng rồi hóa ra chúng tôi mừng hụt. Mấy vị to hơn tới xem cho là không được. Và người ta lại thấy Tố Hữu cho truyền đi nhận định không thể tìm tòi kiểu ấy, mà hãy trở lại với thứ điêu khắc mô phỏng đời thường, kiểu Trần Văn Lắm! Tức là cũng như chúng ta, Tố Hữu cũng có lúc phải làm ngược điều mình nghĩ.

Trước đó năm 1965, Nguyễn Thành Long bị nạn với bút ký Cái gốc. Bài ký cũng chẳng có chuyện gì đen tối lắm, chỉ tả phụ nữ trong chiến tranh quá nhếch nhác, nên bị Đảng đoàn Hội phụ nữ kêu.Theo chỗ tôi nhớ, lúc đầu Nguyễn Thành Long rất tự tin, vì Tố Hữu đã nhắn xuống tỏ ý bênh, “họ có Đảng đoàn thì mình cũng có Đảng đoàn chứ “( ý nói Đảng đoàn phụ nữ và Đảng đoàn văn nghệ-- hai cấp tương đương nhau ). Thế nhưng bên phụ nữ kiện lên trên và cuối cùng văn nghệ thua.

Những năm chiến tranh, thỉnh thoảng một số anh em viết trẻ chúng tôi cũng được gọi đi nghe Tố Hữu nói chuyện. Có một câu ông nói khiến tôi nhớ nhất và phải nói thực sợ nhất, đó là cái ý ông bảo sang nước ngoài thấy đời sống họ lạnh lùng lắm, về nước thấy đồng bào mình sống với nhau, ấm cúng hơn hẳn.

Ông cũng thường nói là nổi tiếng ở nước ngoài thì dễ, nổi tiếng ở trong nước mới khó. Lại có lần khuyến khích lớp trẻ, ông bảo phải biết đấu tranh cho chân lý, khi cần phải cắn xé(!). May mà bọn tôi đã nghe nhiều về tính đồng bóng của ông, nên chẳng mấy cảm động, nhớ đâu hình như chính Xuân Quỳnh bảo rằng có mà ông cho ghè gẫy răng.

Tố Hữu quản cán bộ cấp dưới thế nào? Nguyễn Khải nhận xét có vẻ như càng những người bất tài và có khuyết điểm ông lại càng thích dùng. Những ông A ông B từng bị Tố Hữu mắng như tát nước vào mặt lại rất vững vàng trong vị trí của mình. Vì ông thừa biết loại đó bảo thế nào họ cũng phải nghe.

Một lần, khoảng những năm trước 1980, tôi ngồi với Nguyễn Khải, Xuân Sách, cùng giở một số báo Tết. Khi ấy Tố Hữu đã đi phụ trách kinh tế, nhưng các số báo tết vẫn có bài của ông.

Nguyễn Khải sát hạch tôi:
-Thằng Nhàn hãy thử bình một câu xem nào.

Tôi lúc đầu cũng chỉ biết nói như mọi người:
-Thế là được một nhà kinh tế mà mất một nhà thơ.

Nguyễn Khải gạt phắt đi:
-Không được.
Trong cơn bí, tôi phụt ra một ý mà trước đó tôi không hề nghĩ:
-Người làm ra những bài thơ như thế này thì chắc làm kinh tế cũng không ra gì!

Bấy giờ Nguyễn Khải mới cười, bảo ra tôi cũng bắt đầu biết rồi đấy.

Vương Trí Nhàn  
Nhà phê bình văn học từ Hà Nội

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Bản dài hơn đã đăng trên Bấm blog của ông.
 
(BBC)

Thủ bút Trần Trọng Kim: Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947


Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện. Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần - Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.

Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.

Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt.

Nội dung như sau :

Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 19471

Ông Hãn2

Hôm ông Phan văn Giáo3 đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài4 xem.

Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có.

Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy5, hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau6 do ông D’argenlieu7 sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được8.

Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây9, không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền10 và Khiêm11, họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1] cũng không hỏi nữa.

Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài12.

Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, néu không tì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu.

Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau. Tôi về đây chỉ gặp Thảo13, Hoè14 và Sâm15. Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia16, mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến17, họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói : Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.

Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:

身 在 南 蕃 無 所 預

心 懐 百 憂 復 千 慮

(Thân tại Nam phiên vô sở dự,

Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.

= Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,

Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)

Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.

Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁 (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.

Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh18 bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:

Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ

Đất khách mơ - màng những thở - than,

Mảng tin bác bị lũ hung tàn.

Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,

Căm giận quân thù đã tím gan.

Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước.

Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân19 gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.

Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu20, xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt21 đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)22

Ông có biết tin ông Bùi Kỷ23 bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả.

Nhà tôi và Chương24 đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì?

Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.

Nay kính thư

Trần Trọng Kim [tr4]
-------------------------
Chú thích :

1. 8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.

2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.

3. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam.

4. Ngài : Chỉ vua Bảo Đại - Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)

5. Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng Tại Lại Thế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng.

6. Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)

7. D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)

8. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167...

9. hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.”

10. ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, ... sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)

11. Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”.

12. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.

13. Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội.

14. Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)

15. Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)

16. Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự "khó tính" của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần "Nam kỳ quốc" và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.

17. Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)

18. ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.

19. Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)

20. Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)

21. “Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.

22. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi.

23. Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)

24. Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd).
_____________
Thư mục tham khảo
1.Lệ thần - Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969
2. Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986
3. Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982
4. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987
5. La Sơn Yên Hồ - Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)

Phụ lục ảnh nguyên bản:

  .
 



 

Nguyễn Đức Toàn
Viện Nghiên cứu Hán Nôm

(Blog Yêu Hán Nôm )

Thông Báo

Hiện nay trang "TTHN" đã bị một vài nhà mạng chặn. Để có thể theo dõi xin bạn đọc dùng trang đệm http://webwarper.net (tốt nhất) để truy cập. Hoặc đơn giản hơn bạn dùng "Cách vượt tường lửa đơn giản bằng các web translators". Bằng cách dùng trang dịch sang tiếng Việt của Google, viết đầy đủ tên miền http://tintuchangngayonline.com vào phần cần dịch, sau đó bấm vào phần dịch hiển thị bên tay phải.

Suy ngẫm

Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân... Dân chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. — Hồ Chí Minh

Lưu ý viết comments!


Chúng tôi hoan nghênh đón nhận và xuất bản những ý kiến khách quan, có tính xây dựng, tôn trọng cộng đồng. Nhưng từ chối hoặc xóa bỏ bất cứ lời bình nào không hợp thuần phong mỹ tục, các ý kiến cực đoan, không tôn trọng người khác.
Cám ơn sự đóng góp và hợp tác của bạn đọc.
 
Support : Creating Website | IT Team | TTD
Copyright © 2011. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Template Created by IT team Published by TTD
Proudly powered by Blogger