Tin Tức Cập Nhật 24/7
HOT VIDEO CHANNEL - TV CHOÁNG🔴 EUPOL công bố bằng chứng khẳng định Tổng BT Trọng là trùm tội phạm tổ chức bắt cóc TXT

Người Buôn Gió - Cuộc ra đi của những kẻ hái khế.


Đất nào sinh ra tôi
Mẹ hiền nào nuôi thân tôi
Miền nào nuôi thân tôi
Mà giờ này tôi xa rồi.

Lần lượt kéo nhau bỏ nước ra đi.
Quê Hương Bỏ Lại là nhạc phẩm mà các ca sĩ hải ngoại di tản theo dạng thuyền nhân sau năm 1975 thường trình bày gây xúc động kiều bào vào thập kỷ 80 của thế kỷ trước.

Nội dung nhạc phẩm trải nỗi lòng của những người tị nạn rời xa quê hương, họ bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn và không hẹn ngày trở lại.

Hơn 30 năm sau, nhiều người trong số họ đã trở về từ Khánh Ly, Chế Linh đến các ca sĩ trẻ hơn như Mạnh Quỳnh, Phi Nhung.

Nhưng làn sóng người Việt rời xứ sở ra đi ngày một nhiều hơn, sự ra đi của họ không bi tráng như những thuyền nhân trước kia, họ ra đi trên những chiếc máy bay với một lịch trình cho cuộc sống trước mắt ở xứ người đã được sắp xếp chu đáo bởi các công ty tư vấn, dịch vụ định cư.

Ngày nay trên đường phố quanh khu Bolsa của Nam Cali, thủ phủ của cộng đồng người Việt tị nạn nhan nhản những tấm biển quảng cáo cho dịch vụ định cư, du học, việc làm. Có rất nhiều gia đình quan chức cộng sản đã tìm đến Hoa Kỳ định cư theo diện đầu tư như gia đình Nguyễn Công Khế. Một nữ tổng biên tập một tờ báo ở Việt Nam là Hồ Thu Hồng với cái tên gọi là Beo Hồng cũng đã có mặt trên đất Mỹ từ lâu, tổng biên tập tờ báo Vietnamnet đình đám một thời là Nguyễn Anh Tuấn cũng như Beo Hồng, gia đình Tuấn hiện đã sinh sống tại Mỹ.

Trước mắt các bạn đã thấy ba tổng biên tập của ba tờ báo lớn Việt Nam, những tờ báo hàng ngày vẫn ca ngợi đảng và chính phủ Việt Nam đem lại tăng trưởng, đem lại hạnh phúc, tự do cho nhân dân, họ đã đưa gia đình đến nơi mà tờ báo của họ từng miệt thị, chửi bới thậm tệ để sinh sống. Những người kế cận họ lại điệp khúc khen chế độ Việt Nam , chửi Mỹ và đánh đấm kiếm tiền đưa gia đình sang Mỹ.

Vô vàn các nghệ sĩ, ca sĩ Việt Nam bằng cách nào đó như kết hôn, hợp đồng lao động đã kiếm cho mình được tấm thẻ xanh trên đất Mỹ.

Bây giờ tôi thường xuyên nhận được tin nhắn hỏi về việc định cư tại châu Âu. Một chủ nhà hàng lớn trong chuyến du lịch đến châu Âu, vốn là người quen cũ, ông ta hẹn tôi uống cà phê và bày tỏ ý định tìm cách định cư tại châu Âu. Dự định của ông là mua nhà bên Hy Lạp với giá khoảng 250 ngàn Euro, chính phủ Hy Lạp đang khủng hoảng về tài chính, họ có chính sách bán nhà và cấp giấy định cư cho những người nước ngoài đến mua nhà. Người mua nhà ở Hy Lạp có giấy tờ đi lại trong khối Schengen tức đi lại trong 27 nước Tây Âu, với giấy tờ này người ta có thể sống và làm việc tại bất kỳ nước nào, miễn có việc làm và nuôi được bản thân không xin trợ cấp.

Rẻ hơn nữa là Latvia, với khoảng 150 nghìn Euro mua nhà bạn có thể sở hữu được tấm giấy phép như vậy.

Còn ở Đức thì giá đắt hơn, một gia đình có thể phải mất đến vài trăm ngàn để làm một dự án kinh doanh, nhà hàng, công ty tạo việc làm để đưa cả một gia đình đi.

Đỗ Liên, đại sứ danh dự Việt Nam ở Châu Phi, chủ hãng bảo hiểm AAA khi xưa nay đang cùng chồng sau sở hữu một nhà hàng lớn ở ngay trung tâm Berlin. Liên cùng chồng sau là Toàn và các con cái đã sống ở đây vài năm, họ vẫn đi đi về về Việt Nam điều hành việc làm ăn ở nhà. Quán của vợ chồng Toàn Liên sau vài năm mở để đưa cả gia đình sang, hiện đã sang bớt cổ phần cho Quán Ngon. Số tiền vợ chồng Toàn Liên chuyển sang đầu tư đến hàng triệu Euro, riêng phần bếp đã vài trăm nghìn. Có đến hàng trăm, đó là con số tôi có thể biết về những người Việt Nam đầu tư sang Châu Âu để kiếm giấy tờ hợp pháp sinh sống ở châu Âu như vậy.

Ở Hung ngày càng nhiều người Việt hơn, với 60 nghìn euro cho gia đình 4 người và thêm khoảng 100 ngàn euro mua nhà, cả gia đình 4 người đã có giấy tờ. Trước đây Hung còn có chính sách nếu ai mua trái phiếu chính phủ khoảng 3-400 trăm ngàn euro gì đó sẽ được cấp thẻ xanh vĩnh viễn, chương trình này chấm dứt rất nhanh bởi người Trung Quốc nhanh chóng ùa đến. Sau ba năm trở lại Hung, trên con phố đi bộ đắt nhất của thủ đô Hung, bên dòng Đa Nuyp thơ mộng. Những con người từ xứ Tô Châu đã tìm đến đây để sống với một môi trường trong sạch, an toàn không ô nhiễm và đầy bạo lực như quê hương họ.

Đại sứ quan Hung ở Việt Nam không đủ người để giải quyết hàng đống hồ sơ xin mua nhà, xin tạm cư của người Việt.

Ở Hung mua nhà không bị hỏi tiền ở đâu ra, miễn là bạn mua nhà hay bất động sản ở Hung thì bạn có cầm valy tiền mặt đều được chấp nhận. Hình như sau bao nhiên năm gì đó bạn mới được bán đi.

Đấy là những người có tiền, những người ít tiền hơn họ chọn cách ra đi bằng đường du lịch sang Nga và trốn đường rừng vào Ba Lan, Lát Vi A rồi sang đến Đức, nơi có cộng đồng đông đảo người Việt đang sinh sống, những đồng bào cùng miền quê với họ sẽ giúp họ tìm việc làm và đợi thời gian tích luỹ số tiền sẽ hợp pháp hoá giấy tờ trên cơ sở điều luật nhân đạo của Đức như kết hôn, nhận bố, nhận con. Rất nhiều cô gái trẻ người Việt mặt non choẹt đẩy xe nôi trên đường phố Berlin. Một phụ nữ Việt Nam vào Đức lậu, có bầu và được một người có giấy tờ Đức nhận là bố đưa trẻ, cô và đứa bé được ở lại Đức và nhà nước chu cấp đầy đủ cho hai mẹ con. Năm sau cô sinh đứa thứ hai, một người đàn ông Việt chưa có giấy tờ nhận là bố đứa trẻ, anh ta sẽ được giấy tờ và trợ cấp. Với cách thức như thế, càng ngày càng nhiều nam nữ thanh niên Việt Nam tìm đến nước Đức qua con đường trốn từ Nga sang. Từ năm ngoái ở Ba Lan có kiểu những người Việt đi du lịch sang Châu Âu, sẽ đến Ba Lan tìm một công ty dịch vụ làm giấy tờ chứng nhận họ có hợp đồng lao động ở Ba Lan, giá chỉ 2 ngàn euro là có một giấy tạm cư 2 năm tại Ba Lan. Đây là những nghèo khổ, ở quê hương họ không có việc làm, không có tương lai. Họ phải vay mượn, cầm cố đất đai cho những đường dây đưa người lậu để mong đến được nước Đức đổi đời.

Canada và Úc là những nước dễ nhập cư nếu như bạn có hợp đồng lao động. Một phụ nữ có hai đứa con nhỏ , chị kiếm được hợp đồng làm chăm sóc người già ở Canada, thế là chị và hai đứa con giờ ở Canada đã 5 năm. Một thằng em tôi quen trên Facebook, mới ngày nào còn la oai oái việc thanh toán tiền thi công của đối tác chậm ở Việt Nam, nay thấy ung dung đưa ảnh đang ăn hải sản bên Úc với con cua to đùng và gật gù khen ngon và rẻ hơn quê hương có mấy ngàn cây số ven biển của mình.

Những người ra đi sau này họ vẫn đi đi về Việt Nam để kiếm tiền bởi những quan hệ quan chức và các mối quan hệ làm ăn của họ vẫn đang hái ra tiền ở Việt Nam.

Một dự án hàng trăm triệu, hàng tỷ USD ở Việt Nam được thực hiện, tiền vốn chính phủ vay của nước ngoài, nhà thầu nước ngoài được phép thi công, các quan chức Việt Nam được nhà thầu lại quả trung bình 15%. Hãy hình dung chỉ cần dự án 100 triệu là có 15 triệu đủ để cả chục gia đình quan chức Việt Nam có tiền may đất đai và giấy tờ định cư ở nước ngoài.

Những dự án đó phá hoại môi trường, gây ô nhiễm không khí, đẩy người dân vào cảnh mất đất và giao thông chật chội, hỗn loạn, khiến người dân Việt Nam luôn chất chứa sự uất ức mà chính họ không hiểu nguyên nhân. Sự uất ức đấy tích tụ và thành những hành động tiêu cực khi gặp việc, có thể họ trộn chất độc hại vào thức ăn để bán kiếm lời để lại mối hoạ ung thư tràn lan, hoặc họ rút dao ra đâm nhau khi có chuyện xích mích , hay đường sá và phương tiện với tỉ thứ trong đầu người dân khiến mạng sống con người có thể chấm dứt trong tích tắc trên đường.

Nhưng những người hái khế ưu tú đã có phương án của họ, ra đi để tránh cho gia đình mình phải chịu chung những mối lo như thế ở Việt Nam, quê hương chỉ là nơi họ hái khế phục vụ gia đình mình.

Và càng nhiều những người ra đi như dạng hái khế ( không phải người nghèo đi trốn lậu ) theo dạng đầu tư như trên, họ để lại đàng sau càng nhiều ô nhiễm môi trường, xã hội loan lạc, bệnh tật ở quê hương Việt Nam.

Người Buôn Gió

(Blog Người Buôn Gió)

TS. Vũ Ngọc Hoàng - Chuyện Đặc khu Kinh tế


Nhà nước của dân phải luôn biết lắng nghe ý kiến của dân, kể cả trước và sau khi thông qua quyết định. Phản biện khoa học và thảo luận bình đẳng là con đường tiếp cận chân lý mà không có gì có thể thay thế trong khoa học xã hội. Trường hợp vừa rồi là cách tốt cần được phát huy đối với nhiều việc khác. Từ xưa đến nay, kể cả lịch sử tất cả các triều đại, khi nào lãnh đạo đất nước thật sự cầu thị lắng nghe dân thì lòng dân tin tưởng và hướng về triều đình, lúc ấy dân tộc có sức mạnh gấp bội để giữ nước và kiến thiết quốc gia. Còn khi nào triều đình quan liêu, xa dân, không biết lắng nghe mà còn đối phó với nhân dân, thì lòng dân ly tán, sức mạnh quốc gia suy yếu, đến lúc nghiêm trọng thì kẻ thù từ bên ngoài lợi dụng cơ hội ấy để tấn công, đất nước không đứng vững trước hiểm nguy và triều đình suy vong, sụp đổ.

Hình minh họa
Đặc khu- thành công và thất bại

Chuyện đặc khu kinh tế đã bàn từ lâu, hàng chục và hàng trăm năm trước, tại nhiều nước trên thế giới và kể cả ở nước ta. Thế giới đã có hàng nghìn đặc khu kinh tế ở hơn một trăm nước. Một số đặc khu thành công, số lớn hơn thì không thành công hoặc thất bại. Họ tổ chức bao gồm 2 loại hình: Loại thứ nhất, có đơn vị hành chính riêng (của một khu). Loại thứ hai, không có đơn vị hành chánh riêng mà chỉ là cho áp dụng cơ chế đặc biệt trên một vùng lãnh thổ nhất định (khác với cả nước ở bên ngoài đặc khu) tại địa điểm cụ thể nào đó. Loại thứ nhất số lượng rất ít nhưng thường mạnh mẽ hơn về cơ chế chính sách và quyền tự chủ, nhiều nơi gần giống như “khu tự trị” về kinh tế; loại thứ hai nhiều hơn, phổ biến hơn.

Ở nước ta hàng trăm năm trước đã từng có các đặc khu kinh tế. Phố Hiến ngày trước cũng là một kiểu đặc khu. Tại Hội An, cách đây khoảng 4 thế kỷ, chúa Nguyễn đã từng tổ chức một đặc khu kinh tế, và đã rất thành công tại đó vào lúc ấy. Với đặc khu kinh tế Hội An, gắn với một thương cảng quốc tế Cửa Đại sầm uất-một trung tâm giao lưu buôn bán của khu vực, nơi đây đã trở thành trung tâm kinh tế của Xứ Đàng Trong. Trung tâm kinh tế này đã đóng góp rất quan trọng về nguồn tài chính và hậu cần cho công cuộc khai khẩn hòa bình khi cư dân Đại Việt tiến dần về phương Nam để mở mang bờ cỏi và nhân đôi nước Việt.

Cách đây hơn 25 năm, giai đoạn đầu của đổi mới, lãnh đạo nước ta đã có chủ trương cho nghiên cứu để xây dựng một vài đặc khu kinh tế. Sau đó, khi triển khai, thì Bộ Chính trị và Chính phủ lúc đó chỉ đạo cho làm trước một khu Kinh tế mở Chu Lai (không gọi đặc khu nữa). Lúc đó được hiểu là chỉ cho cơ chế thoáng mở để thu hút đầu tư phát triển, chứ không lập đơn vị hành chánh riêng theo kiểu gần như “khu tự trị” vì xét thấy không cần thiết phải như thế, do vậy không gọi là đặc khu kinh tế, mà chỉ là khu kinh tế mở. Như vậy, theo cách hiểu phổ biến của thế giới, thì Khu Kinh tế mở Chu Lai cũng là một kiểu đặc khu theo mô hình thứ hai-không có đơn vị hành chánh riêng.

Sau 15 năm thành lập, Khu kinh tế mở này mặc dù đã có một số thành công đáng kể, bắt đầu tạo ra một số ngành công nghiệp và tham gia phát triển du lịch, tạo việc làm trực tiếp cho mấy vạn lao động, trong đó có một bộ phận lao động kỹ thuật có tay nghề cao, góp phần quan trọng nhất để tăng thu ngân sách của tỉnh Quảng Nam lên gấp 150 lần so với 20 năm trước, từ một trong hai tỉnh nghèo nhất cả nước về thu ngân sách, hằng năm trung ương phải thường xuyên trợ cấp hầu hết ngân sách, đã trở thành một trong số các tỉnh tự cân đối được ngân sách và có đóng góp một phần về ngân sách trung ương. Tuy nhiên so với ý định và mục tiêu ban đầu nêu ra thì có thể khẳng định rằng Khu kinh tế mở Chu Lai chưa thành công. Đáng lẽ trước khi bàn về đặc khu kinh tế thì cần tổng kết lại câu chuyện về Khu Kinh tế mở Chu Lai, xem thử thành công và thất bại ở điểm nào, vì sao ngày ấy không làm đặc khu mặc dù trước đó đã có nghị quyết.

Nhà nước của dân phải biết lắng nghe dân

Trong kỳ họp Quốc hội gần đây có bàn dự luật về 3 đặc khu kinh tế theo loại hình thứ nhất-có đơn vị hành chánh riêng (tại Vân Đồn, Phú Quốc và Bắc Vân Phong). Khi biết nội dung của dự luật thì dư luận trong cả nước đã có nhiều ý kiến phản đối. Và khi nghe thông tin về ý kiến của Chính phủ và Quốc hội cho tạm dừng, chưa thông qua trong kỳ họp vừa rồi, để thảo luận kỹ thêm về dự thảo luật đặc khu, cán bộ, nhân dân đã có nhiều ý kiến đánh giá cao thái độ và tinh thần cầu thị đó của lãnh đạo.

Nhà nước của dân phải luôn biết lắng nghe ý kiến của dân, kể cả trước và sau khi thông qua quyết định. Phản biện khoa học và thảo luận bình đẳng là con đường tiếp cận chân lý mà không có gì có thể thay thế trong khoa học xã hội. Trường hợp vừa rồi là cách tốt cần được phát huy đối với nhiều việc khác. Từ xưa đến nay, kể cả lịch sử tất cả các triều đại, khi nào lãnh đạo đất nước thật sự cầu thị lắng nghe dân thì lòng dân tin tưởng và hướng về triều đình, lúc ấy dân tộc có sức mạnh gấp bội để giữ nước và kiến thiết quốc gia. Còn khi nào triều đình quan liêu, xa dân, không biết lắng nghe mà còn đối phó với nhân dân, thì lòng dân ly tán, sức mạnh quốc gia suy yếu, đến lúc nghiêm trọng thì kẻ thù từ bên ngoài lợi dụng cơ hội ấy để tấn công, đất nước không đứng vững trước hiểm nguy và triều đình suy vong, sụp đổ. Việc lãnh đạo thật sự cầu thị, lắng nghe dân là tín hiệu tốt đẹp.

Có người cho rằng nếu cứ đưa ra dự luật mà Quốc hội không thông qua thì mất uy Bộ Chính trị và Chính phủ. Tư duy kiểu ấy chắc chắn là sai. Quan điểm của Đảng là xây dựng nhà nước của dân, (chứ không phải của Đảng); Đảng lãnh đạo bằng thuyết phục, nói rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề, bằng phát huy dân chủ, chứ không phải áp đặt mất dân chủ. Dùng quyền lực để áp đặt không phải là lãnh đạo theo đúng nghĩa khoa học và chân chính của nó. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, một nhà nước của dân, phải đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thực chất chứ không phải hình thức, không phải là khẩu hiệu mị dân.

Đảng mong muốn Quốc hội là một tập thể có trách nhiệm với nhân dân, trung thành với nhân dân, và có năng lực tư duy độc lập, chứ không phải là cơ quan thụ động, hình thức. Một bộ luật được thông qua hay không thông qua là do sự cần thiết, chất lượng chuẩn bị hoặc còn nhiều ý kiến khác nhau, và đó là việc rất bình thường, như lẽ tự nhiên, thể hiện chính kiến của Quốc hội. Uy tín của Chính phủ và Quốc hội trong việc đề ra chủ trương và xây dựng luật chỉ có thể được tăng lên khi nâng cao được chất lượng và hiệu quả của các quyết định và nhất là biết lắng nghe dân, thấy sai thì tiếp thu và sửa chữa một cách nghiêm túc và cầu thị. Xử sự như trường hợp vừa rồi là đúng.

Vừa qua, cán bộ đảng viên và nhân dân, nhất là trí thức Việt Nam trong và ngoài nước, đã có rất nhiều ý kiến đóng góp tích cực và xây dựng, rất đáng hoan nghênh và khuyến khích. Cần phải như thế trong trách nhiệm và tâm huyết đối với quốc gia. Bên cạnh đó cũng có một số ý kiến phê phán nặng nề, suy diễn và quy chụp về động cơ làm đặc khu, cứ như thể chỉ có mình mới biết yêu nước. Trước sự trì trệ trong công việc, những suy nghĩ về đổi mới để phát triển đều cần được khuyến khích và lắng nghe. Những đề xuất đưa ra chắc sẽ có cái đúng và chưa đúng hoặc sai. Nếu cứ suy diễn và quy chụp thì ai còn dám đổi mới. Nào là có động cơ đen tối, bán nước, chệch hướng, chống đối, phản động…Cái bệnh hay quy chụp lẫn nhau là một tội đồ kìm hảm tư duy của dân tộc. Cần phải biết lắng nghe nhau một cách cầu thị và biết tôn trọng những ý kiến khác mình.

Hiện nay chuyện đặc khu không còn nóng hổi và thời sự như thời kỳ 30-40 năm trước, vì tình hình đã khác, đã không như lúc đó. Nhưng nói vậy cũng không có nghĩa là nhất thiết không được xây dựng đặc khu kinh tế. Vẫn có thể xây dựng đặc khu, nhưng nếu cần làm thì phải có cách tiếp cận khác, cách tiếp cận mới, chứ không phải như vừa rồi. Phải bảo đảm chắc chắn về hiệu quả kinh tế-xã hội và quốc phòng-an ninh cho đất nước. Nếu thấy không chắc chắn thì không làm, bởi vì không để làm gì. Bản thân việc xây dựng đặc khu kinh tế là một cách làm, nhằm bảo đảm hiệu quả, chứ không phải là một mục đích tự thân hay một nguyên tắc nhất thiết phải làm cho bằng được hoặc tuyệt đối không được làm.

Đặc khu- nên làm hay không nên làm?

Đặc khu là một khu vực đặc biệt. Xuất phát từ nhiệm vụ đặc biệt và được áp dụng cơ chế đặc biệt. Dự định xây dựng đặc khu để làm gì, nói cách khác, nhiệm vụ đặc biệt ở đây là gì? Phải chăng có 2 mục tiêu chính: Thứ 1, là để thử nghiệm cơ chế, thể chế, chính sách cho việc quản trị một nền kinh tế hiện đại; thứ 2, là để tạo ra đột phá trên thực tế nhằm hình thành một khu phát triển động lực với một số ngành nghề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế nước nhà, có hiệu quả cao về tài chính, và từ đó mà lan tỏa, thúc đẩy cả vùng phát triển theo. Đối với mục tiêu thứ 1 thì chưa thấy rõ trong dự thảo định thử nghiệm cơ chế, thể chế gì? Và để đạt mục tiêu đó thì cách làm là cần đưa ra thảo luận rộng rãi, nhiều lần, để huy động chất xám, nâng cao hàm lượng trí tuệ và từ đó mà tạo ra nhận thức chung về cách quản trị đối với nền kinh tế hiện đại. Bản thân việc thảo luận ấy nếu biết tổ chức tốt thì nó đã tạo ra sản phẩm về nhận thức.

Đối với mục tiêu thứ 2, để tạo ra một khu phát triển thì rất cần làm rõ xem thử khu ấy là khu gì, ưu tiên cho cái gì (ngành nghề gì, sản phẩm gì) ở đó, và chắc chắn không thể ưu tiên tràn lan cho mọi thứ. Trong một đặc khu chỉ nên ưu tiên cho vài thứ ngành nghề quan trọng nhất theo chủ định của ta, có trọng tâm rõ ràng, còn các thứ khác thì phát triển bình thường như bên ngoài đặc khu, theo cơ chế chung như cả nước. Ví dụ du lịch, khách sạn, thương mại, casino, kinh doanh bất động sản, nhà hàng ăn uống, các nhà máy với công nghệ trung bình…thì có thể phát triển bình thường, không cần thiết phải tạo đặc khu. Người ta tạo đặc khu cũng là để rút kinh nghiệm rồi sau này hòa chung với cả nước mà nhân lên sự phát triển, chứ đâu phải để tạo ra một sự tách biệt nào trên lãnh thổ thống nhất. Còn những thứ xét thấy rất quan trọng, ví dụ như một hệ thống công nghiệp công nghệ cao nằm trong chuổi giá trị toàn cầu, hay một trung tâm tài chính quốc tế, một cảng trung chuyển hàng hải hay trung chuyển hàng không quốc tế…hay cái gì đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế VN thì mới cần khuyến khích nhiều, tức là mới thuộc đối tượng ưu tiên theo kiểu đặc khu. Các ưu đãi cần thực hiện theo hướng ưu tiên cái gì (ngành gì) chứ không phải ưu tiên tràn lan cho tất cả những thứ gì có trong địa bàn, không gian của đặc khu đó. Bản thân hình thức đặc khu đã là xuất phát từ tư duy không tràn lan.

Cũng có ý kiến rằng, vì nước ta còn thiếu vốn, làm đặc khu để thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài. Việc đó cũng cần, nhưng chỉ là yêu cầu kết hợp chứ không phải là chính, vì nếu chỉ để thu hút đầu tư thì thực hiện trên cả nước chứ không nhất thiết phải đặc khu, mặt khác, độ mở của nền kinh tế VN đối với đầu tư nước ngoài đã khá lớn, thậm chí có một số mặt cần phải chấn chỉnh lại. Cái quan trọng hơn là phải mở cho nội lực phát triển. Mục tiêu cuối cùng là sự phát triển của chủ nhân đất nước (tức là nhân dân) chứ không phải cho ai khác.

Sau khi lựa chọn hướng phát triển, tức là xác định cụ thể cho rõ nhiệm vụ đặc biệt là gì, căn cứ vào đó để mà chọn địa điểm xây dựng đặc khu, cụ thể hiện nay là căn cứ vào đó mà xem xét lại địa điểm có phù hợp không? Nếu địa điểm không phù hợp với nội dung phát triển thì phải chọn lại địa điểm cho phù hợp.

Đây là công việc phải rất khách quan, khoa học, chứ không phải “đẽo chân” cho vừa giày. Không phải địa điểm quyết định nội dung phát triển đặc khu, mà nội dung cần phát triển sẽ quy định việc chọn địa điểm, vì nó xuất phát từ yêu cầu cốt lõi của nội tại nền kinh tế nước nhà. Theo đó, có thể dễ nhìn thấy là khu vực Vân Phong nhằm để phát triển một cảng trung chuyển hàng hải quốc tế. Nếu có Cảng trung chuyển quốc tế tại Vân Phong thì sẽ rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế của VN, chi phí vận chuyển hàng hải đi quốc tế sẽ giảm, gắn nền sản xuất hàng hóa của nước ta với thị trường thế giới, tạo thêm thế và lực để Việt Nam đồng hành cùng các quốc gia lân cận khác theo tinh thần “cần thiết” cho nhau, “tùy thuộc” lẫn nhau; đồng thời cũng là một kiểu “quốc tế hóa” Biển Đông, huy động sức mạnh tổng hợp của quốc tế để bảo đảm tự do hàng hải ở biển đông gắn với bảo vệ chủ quyền của VN ở khu vực này.

Đối tác chiến lược để làm cảng trung chuyển hàng hải quốc tế có thể tìm chọn của một nước phát triển ở phương tây đã có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực này, nhất là hàng hải vượt đại dương xa. Cũng có ý kiến cho rằng, để phát triển cảng trung chuyển thì cũng không cần đặc khu? Việc này phải luận chứng, nếu không cần đặc khu theo kiểu có đơn vị hành chánh riêng mà chỉ cần cho cơ chế vẫn làm được cảng trung chuyển thì không cần phải làm đặc khu. Mục đích chính ở đây là một cảng trung chuyển quốc tế chứ không phải là một đặc khu. Cũng có ý kiến rằng, lấy đâu ra hàng hóa mà làm cảng trung chuyển quốc tế, trong khi ở gần ta đã có Hồng-Kông, Singapor…?

TS. Vũ Ngọc Hoàng, nguyên Phó Ban Tuyên giáo TƯ
Tôi thì nghĩ khác, việc sản xuất hàng hóa ở nước ta và khu vực gần ta sẽ còn phát triển nhiều chứ không thể chỉ dừng lại như hiện nay mãi; mặt khác, có con đường vận tải nào thuận lợi hơn thì người ta sẽ chọn để đi và nó sẽ tác động kích thích sản xuất hàng hóa nhiều hơn cho khu vực lân cận. Việc nghiên cứu thị trường, tổ chức thị trường thì nhà đầu tư đương nhiên sẽ tính kỹ và cụ thể hơn. Chính phủ chọn hướng đi là trên cơ sở của nhu cầu và lợi thế so sánh về phát triển cảng biển nước sâu ở Vân Phong.

Còn Vân Đồn và Phú Quốc, nếu đúng lợi thế lớn nhất là du lịch và không có lợi thế khác để phát triển nội dung nào quan trọng hơn đối với nền kinh tế nước nhà thì cũng nên xem xét lại vấn đề địa điểm ở đây thử có cần làm đặc khu tại đó hay không? Du lịch thì cứ phát triển mạnh trên cả nước và không cần đặc khu. Còn nơi nào định làm cảng trung chuyển quốc tế hoặc các thứ công nghiệp công nghệ cao thì du lịch không thể đứng chung trong một không gian với các nội dung đó. Đối với công nghệ cao và trung tâm tài chính quốc tế như đã nêu ví dụ ở phần trên, thì nó thường thích hợp hơn với các địa điểm không cách xa các đô thị trung tâm.

Mà công nghệ cao thì đã có một số khu ở cả bắc trung nam, thậm chí đã 20 năm rồi nhưng chưa thành công, trước mắt cần phải xem xét lại cho kỹ về nguyên nhân, cách làm, xem vì sao mà chưa thành công, điều chỉnh và bổ sung giải pháp để bảo đảm cho các khu ấy thành công, đồng thời có thể phát triển thêm các khu công nghiệp công nghệ cao khác mà không cần đặc khu. Riêng đối với trung tâm tài chính quốc tế thì quan trọng nhất là các cơ chế liên quan đến vận hành, đến sự duy chuyển của các dòng tài chính, tiền tệ quốc tế, các loại tiền và công cụ tài chính, hệ thống tài khoản, sự minh bạch về tài chính….(trong dự thảo ít nói chuyện này). Đúng ra phải làm rõ nội dung cần phát triển trước khi chính thức quyết định địa điểm.

Cần chú ý mục tiêu quốc phòng và chủ quyền quản lý lãnh thổ

Người viết bài này chưa được rõ các căn cứ khi lựa chọn địa điểm như các phương án đã nêu ra! Mà nếu cần làm đặc khu thì cũng không nên đưa việc lựa chọn địa điểm cụ thể vào trong luật. Dự luật chỉ cần làm rõ các nguyên tắc, tiêu chí về mục tiêu, yêu cầu, nội dung phát triển và cơ chế chính sách lớn, chế tài xử lý đối với việc làm sai, vi phạm. Còn lựa chọn địa điểm ở đâu thì luận chứng rõ ràng trong từng dự án, và đó là loại dự án cần đưa ra cho quốc hội phê chuẩn sau khi đã lựa chọn kỹ lưỡng đối tác chiến lược. Với vị trí địa chính trị và trong tình hình cụ thể ở khu vực như ta đã biết, việc lựa chọn địa điểm cần đặc biệt chú ý mục tiêu quốc phòng về lâu dài, đề phòng cảnh giác đối với âm mưu thâm hiểm của thế lực muốn tìm cách xâm lăng nước ta.

Bản thân đặc khu, sau một thời gian, phải đem lại hiệu quả cao về tài chính cho đất nước, chứ không phải là nơi tiêu hao ngân sách. Các chính sách ưu đãi về thuế nói chung không kém hấp dẫn so với các đặc khu đã có trong khu vực, nhưng không nhất thiết phải vượt trội so với thiên hạ. Cần quan tâm hơn về cải cách hành chánh, cơ chế quản lý thoáng mở, thủ tục không rườm rà, giảm tối đa thời gian làm thủ tục, bảo đảm sự minh bạch, không có phí tiêu cực. Lấy đó làm hướng chính thay cho việc miễn giảm thuế. Sự miễn giảm thuế không nằm ngoài việc hướng đến tạo nguồn thu lớn hơn cho ngân sách. Nói chung, không phải tập trung ngân sách để đầu tư vào đặc khu để xây hạ tầng vượt trội trong điều kiện tài chính mất cân đối như hiện nay.

Khu Thẩm Quyến của Trung Quốc chỉ được đầu tư rất ít từ ngân sách để xây hàng rào, còn hạ tầng thì đặc khu tự cân đối và kêu gọi các nhà đầu tư. Nhưng sau đó một thời gian không lâu thì đặc khu đã có nguồn thu lớn nộp cho ngân sách. Nước ta phải nghĩ theo cách đó chứ không phải tính chuyện dùng nhiều tiền từ ngân sách để đầu tư vào mấy đặc khu gây hụt nguồn cho các nhu cầu khác hoặc lâm nợ. Đặc khu phải hạch toán có hiệu quả, vừa bảo đảm tự cân đối cho công việc phát triển đặc khu, vừa có nguồn để nộp cho ngân sách nhà nước, chứ không thể chi nhiều hơn thu. Đây là yêu cầu khó khăn khi thực hiện, nhưng không thể không làm thế. Nếu đặc khu là chỗ tiêu hao ngân sách quốc gia và không đem lại hiệu quả tài chính thì không cần phải xây dựng đặc khu trong tình hình hiện tại. Nên sử dụng cơ chế là chủ yếu để tạo ra đặc khu, chứ không phải chọn địa điểm để tập trung đầu tư ngân sách.

Thời gian cho thuê đất cần bảo đảm thu hồi vốn cho nhà đầu tư và sẽ gia hạn khi nhà đầu tư có yêu cầu chính đáng trước lúc giấy phép hết hạn. Thời gian cho thuê đất như quy định trong luật pháp hiện hành là được rồi, không cần phải kéo dài thêm. Luật đặc khu của nước Nga chỉ cho thuê đất không quá 20 năm và không cho lập đơn vị hành chánh riêng.

Giữ vững chủ quyền quản lý lãnh thổ (cả chính trị, kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng) là một nguyên tắc không lúc nào được lãng quên. Chính điều này làm cho hình thức đặc khu khác với hình thức tô nhượng mà trước kia một số nước đã từng thực hiện. Theo đó, quyền phán quyết bằng tòa án kinh tế phải do VN đảm nhận thực hiện và theo luật pháp VN. Còn việc các doanh nghiệp VN và doanh nghiệp nước ngoài tự nguyện hợp đồng với nhau chọn cơ quan trọng tài kinh tế nào (kể cả của quốc tế) để xử lý khi có tranh chấp thì có thể được tôn trọng đối với dự án cụ thể ấy. Qua thực tiễn nếu xét thấy luật pháp VN về xử lý tranh chấp kinh tế có điểm nào thiếu hoặc không không tiên tiến, không phù hợp với luật pháp quốc tế thì công việc lập pháp sẽ bổ sung hoặc điều chỉnh.

Để triển khai xây dựng đặc khu, cần lựa chọn kỹ lưỡng chủ đầu tư là những tập đoàn, doanh nghiệp lớn, có kinh nghiệm phát triển lĩnh vực ngành nghề mà ta dự định. Đó là hướng chủ yếu chứ không phải dùng cơ quan nhà nước làm chủ đầu tư để sử dụng ngân sách. Trong tình hình hiện tại, nước ta không đủ ngân sách để xử lý đồng thời nhiều nhiệm vụ quan trọng. Mặt khác, việc đầu tư cho hạ tầng bằng ngân sách nhà nước thường bị lảng phí một tỷ lệ đáng kể, chất lượng công trình cũng dễ có vấn đề và đưa vào sử dụng hiệu quả thường không cao. Như vậy, có thể rút ra cách suy nghĩ là, nhà nước không trực tiếp tạo ra đặc khu kinh tế, mà chính các tập đoàn kinh tế mới là người tạo ra các khu ấy, còn nhà nước thì chỉ tạo điều kiện, nhất là khung pháp lý. Vì vậy, để bảo đảm cho sự thành công của đặc khu, cần thiết phải tìm chọn chủ đầu tư chiến lược song song với quá trình chuẩn bị đề án, chứ không phải lập ra đặc khu và chờ nhà nước cân đối vốn đến đâu thì làm đến đấy.

VN đất hẹp người đông, mặt khác, lại nằm ở vị trí địa lý rất nhạy cảm mà đối phương luôn dòm ngó, mưu tính lâu dài. Vì vậy, vấn đề các cư dân sẽ sinh sống lâu dài ở đây cần được xem xét cẩn trọng. Cư dân hiện tại và lâu dài chủ yếu vẫn phải là người VN. Dân cư đang sinh sống trong đặc khu nên được sắp xếp lại và giúp đỡ đào tạo nghề nghiệp để họ có thể sinh sống lâu dài tại chỗ, chứ không nên chuyển dời tất cả đi nơi khác. Đồng thời cũng có thể mở về cơ chế để các cư dân nước ngoài là những nhà khoa học-công nghệ, nhà văn hóa, nhà tài chính được định cư ở đây nếu họ đến làm việc trong đặc khu và có nguyện vọng ổn định chỗ ở để làm việc. Ngoài ra, đều phải quản lý việc nhập cư một cách chặt chẻ, không thể mất cảnh giác.

TS. Vũ Ngọc Hoàng

Quảng Nam tháng 7.2018

* TS. Vũ Ngọc Hoàng, nguyên Phó Ban Tuyên giáo TƯ vừa gửi cho Blog bài viết này. Một bài viết chủ đề nhạy cảm- Đặc khu kinh tế- với những phân tích thấu đáo về những được mất, thành bại, nên và không nên làm xung quanh chủ đề đặc khu kinh tế.

(Blog Kim Dung)

Đất nước tôi như thế đấy!


Trong sự giao tiếp giữa người và người, sự khác biệt về bề ngoài thường không làm ta mấy khó chịu bằng sự khác biệt về lối sống, tức là văn hóa. Đứng gần một cô gái Ả Rập trùm kín từ đầu đến chân, chắc không khó chịu khi thấy bên cạnh ta một người Tàu vừa khạc nhổ vừa nói cười lớn tiếng như chỗ không người.

Giá thuốc lá của Việt Nam nằm trong số 15 nước thấp nhất thế giới. (Hình: Hoàng Đình Nam/AFP/Getty Images)
Trên trang Danlambao, tác giả Trần Văn Giang vừa dịch một bài báo từ blog của Blossom O’Bradovich, gọi là “Sáu điều kỳ quặc” (quirkly) ở Việt Nam, của một nữ y tá người Mỹ gốc Anh đã du lịch kiểu “Tây Ba Lô” đến đây.

Sáu chuyện đó là: xe cộ bóp còi liên tục; không biết tôn trọng thời gian; thức ăn, thức uống quái đản; không tôn trọng đời tư của người khác; khói thuốc lá; nhìn chằm chằm vào người khác.

Những điều cô viết, không làm chúng tôi ngạc nhiên nhiều, vì từ nơi đó chúng tôi đã sinh ra và lớn lên, lâu ngày tất cả đều trở thành quen thuộc. Nhưng ngày nay ra nước ngoài, người lâu nhất đã bốn, năm mươi năm, kẻ mới cũng năm bảy năm, nghe lại câu chuyện quê nhà, không khỏi mang tâm trạng buồn vui.

Những gì ngày xưa chúng tôi xem đó là chuyện bình thường, thì ngày nay, đối với những người đến từ các quốc gia khác là những điều khác lạ, gây ra những ấn tượng xấu, nói ra, đôi khi làm phật lòng chúng tôi, là những người Việt Nam đang sống xa quê nhà chăng?

O’Bradovich cho rằng, không cần biết kinh nghiệm của du khách sẽ cho những điều xảy ra ở đây là tốt hay xấu; một điều chắc chắn là ở Việt Nam, người ta sẽ không bao giờ cảm thấy buồn chán (bored), như vậy phải chăng tất cả đều mới mẻ, lạ lùng và gây ấn tượng để đời. Quả thật những hoạt cảnh đó, lúc nào cũng vui mắt, nếu không nói phải trố mắt ra nhìn. Nếu vậy thì Việt Nam là nơi đáng để cho cô đi du lịch.

Trước hết, du khách đến Việt Nam lấy làm khó chịu vì chuyện xe cộ vô cớ bóp còi inh ỏi. Đây không phải là chuyện lạ với chúng tôi. Tiếc là O’Bradovich không đến Việt Nam sớm hơn vài chục năm, để thưởng thức món “loa phường” và “nẹt ống bô.” Mặt khác, dù thời gian có thay đổi và ở đâu thì mùi mỡ, mùi xăng dầu, và hầu hết là mùi khai của “văn hóa đái đường” làm chúng tôi đôi khi bất chợt lầm tưởng đó là mùi vị của quê hương.

Đêm đầu tiên xa nhà đến Mỹ là một đêm khó ngủ, sự yên tĩnh làm tôi thao thức nhớ Sài Gòn. Sài Gòn náo nhiệt với muôn nghìn tiếng động ồn ào, nhẹ nhàng lanh lảnh như tiếng rao hàng, ồn ào như tiếng còi xe giờ tan sở, nửa đêm về sáng, tiếng xích lô máy nổ phành phạch, giòn giã dưới đường phố và cả tiếng chân ngựa của chiếc xe thổ mộ vừa vào thành phố buổi ban sáng. Dễ thường không có những tiếng động ấy, Sài Gòn không phải là Sài Gòn hay một Sài Gòn đã chết.

Cũng vì thói quen bóp còi xe, nhiều người Việt lúc đầu sang Mỹ đã bị phản ứng của những anh chàng lái xe đằng trước với ngón tay giữa đưa lên!

Chuyện thứ hai là chuyên cô cho rằng người Việt không biết tôn trọng thời gian. Ngày mới sang Mỹ tôi cảm thấy nước Mỹ là một quốc gia chạy theo cái kim đồng hồ. Thời gian đối với thói quen người Việt là không cần thiết. Trần Thiện Thanh có đến “bảy ngày đợi mong” cuối cùng “bóng Anh chẳng thấy!” Một tuần bỏ qua đâu có sao! Với Vũ Hoàng Chương: “Ta đợi em từ ba mươi năm, uổng hoa phong nhụy hoài trăng rằm!” Ba mươi năm trong cuộc đời cũng có là bao! Nếu O’Bradovich biết rằng sự chờ đợi làm nên văn chương, thì thời gian chẳng là cái gì cả! Bởi vậy Việt Nam mới có thành ngữ “giờ cao su,” đám cưới mời khách tham dự lúc 6 giờ chiều thì 8 giờ 30 đêm mới khai mạc. Ngu chi đi đúng giờ! Nếu biết rằng ngay cả máy bay cũng có thể trễ vài tiếng, thì giờ dạy học của cô bị hủy trong phút chót cũng là điều không lấy gì làm lạ.

Còn nói đến thức ăn tức là nói đến văn hóa. Ai đi trách Kampuchea ăn “mắm bò hóc,” trách chi Tàu ăn “tàu hủ thúi,” Đại Hàn ăn “thịt chó,” Peru có món “chuột bạch nướng,” dân Palau, một hòn đảo xa xôi ở giữa Thái Bình Dương với món “súp dơi.” Vậy thì đến Việt Nam thấy thiên hạ ăn chuột, đầu chó nhăn răng treo lủng lẳng đến việc cắt cổ rắn sống lấy máu tươi uống cạn ly, nuốt nguyên quả tim rắn đang phập phồng, hay nhậu với dế, bò cạp, ve và sâu bọ chiên dòn thì xin đừng vội phê phán. Đó là văn hóa, và văn chương bình dân xứ tôi cũng có những câu để đời: “Sống dương gian không ăn miếng dồi chó, chết về âm phủ biết có hay không?” Người Nhật vẫn ăn thịt cá voi, và không thể lấy quan điểm người Ấn để cấm chúng ta ăn thịt bò!

Cứ tìm hiểu, gật đầu như Anthony Bourdain và nếm thử xem sao?

Người Việt quan niệm rằng có hiểu nhau, mới thông cảm thương yêu nhau, bạn bè, tương tri thì không có gì giấu nhau. Ở Mỹ việc bảo vệ chuyện riêng tư của cá nhân là điều quan trọng. Ở Việt Nam, người ta hay nhìn chăm chăm vào màn hình điện thoại của mình khi đang nói chuyện, xộc vào nhà không cần hẹn trước, ít tôn trọng những phút riêng tư của người khác. Có cái mình tưởng là thân mật, hóa ra lại sỗ sàng khi đặt những câu hỏi cho là vì tình thân. Hồi mới sang Mỹ tôi đã được dặn dò là đừng hỏi đến lương tiền, tuổi tác và việc làm, cũng như chi tiết về đời tư của ai hết! Chạy xe ngoài đường, chớ bao giờ nhìn ngang, nhìn ngửa chăm chú vào xe người khác, có ngày ăn đạn. Kỵ nhất là chớ hỏi sao lúc này bạn mình gầy hay mập ra vậy!

Gặp lại ông bạn ngày xưa ngoài phố, giới thiệu bà vợ, cũng đừng thắc mắc sao thấy cái bà ngày xưa đen đen, nói giọng Nam mà bà này thì trắng, trẻ hơn mà nói giọng Bắc. Tôi bị “hố” một lần khi nghe chuyện một người bạn thân bỏ vợ, và đang sống với một người đàn bà khác. Vì chơi thân với cả hai vợ chồng, nên tôi vội vàng hỏi thăm, mới nói gần xa, đã bị bạn cho một bài học nhớ đời: “Đây là xứ Mỹ mà anh!”

Sống và suy nghĩ như cô, thì còn gì gọi là tình nghĩa nữa!

Chuyện cô O’Bradovich chê Việt Nam đầy khói thuốc, theo tôi cũng chẳng sao, nếu so với các loại khói nhà máy ô nhiễm tại đây. Tôi cũng biết tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 40,000 người chết vì các bệnh có liên quan đến thuốc lá, dự báo đến năm 2030, con số này có thể tăng lên tới 70,000 người mỗi năm. Ba triệu người Việt đã chết cho một cuộc chiến tranh vô nghĩa, bây giờ mỗi năm chết thêm chút đỉnh thì có sao?

Đất nước tôi nằm trong số 15 nước có số người hút thuốc lá cao nhất thế giới, về phía nam giới cứ 10 người thì có gần năm người hút thuốc (45.3%). Cũng thưa thêm để cô mừng, giá thuốc lá của Việt Nam nằm trong số 15 nước thấp nhất thế giới. Trong khi mọi bề đều tụt hậu thì thế giới điểm danh Việt Nam là “cường quốc” thuốc lá và bia rượu, âu cũng là một điều an ủi. Ở đất nước tôi, không những chỉ có ông già, trẻ con hút thuốc mà cả Ông Địa, Thần Tài cũng được châm thuốc mỗi ngày, nên chuyện kỹ nghệ thuốc lá ăn nên làm ra ở Việt Nam cũng là chuyện thường thôi!

Trên thế giới để tẩm thuốc lá vào phổi, tim, gan, dạ dày, người ta dùng cách hút, hít, nhai, hết điếu đến tẩu, bây giờ đến thuốc lá điện tử… Việt Nam hút thuốc Lào ngất trời, nếu có trách thì trách nước Lào sao lại trách Việt Nam. Không có thuốc lá sao có thơ? “Nhớ nhà châm điếu thuốc!” Rồi cũng ông Hồ Dzếnh: “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé, để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân, ngó trên tay, thuốc lá cháy lụi dần…..”

Ông Clinton và Obama đến Việt Nam đều võ vẽ một vài câu Kiều, cô O’Bradovich học được điều này chắc sẽ được hoan nghênh!

Điều cuối cùng O’Bradovich trách là người Việt Nam hay nhìn chằm chằm vào người khác. Về chuyện này cô nói đúng, đối với văn hóa Tây phương, “nhìn chằm chằm” người khác được xem là rất thô lỗ (rude); nhưng ở Việt Nam “nhìn chằm chằm” chỉ đơn giản là sự “tò mò,” hoặc vì cô là người khách lạ hay vì cô đẹp. Cô có bao giờ thấy người đi đường nhìn chằm chằm vào anh công an giao thông hay hình “bác Hồ” xó xỉnh nào cũng có hay không? Chán chết!

Không phải bây giờ mà ngày xưa, đi cùng chiều, dù là xe đạp hay xe gắn máy, khi vượt qua người ta cũng ráng quay đầu lại để nhìn mặt một người phụ nữ, ai lại chẳng thích cái đẹp, đó là món quà của Thượng Đế dành cho đàn ông, phải không cô? Nếu có người nhìn cô như khi vào triển lãm, người ta nhìn một tác phẩm điêu khắc, nhiếp ảnh hay hội họa, thì cô phải cho đó là một thái độ “thưởng ngoạn” thay vì cô dùng chữ “chằm chằm!”

Trong bài viết, không nghe cô khen đất nước tôi một tiếng. Bao nhiêu là thiếu nữ xinh đẹp, bao nhiêu là tượng đài, bao nhiêu là cổng chào, bao nhiêu là cờ xí, bông hoa, bao nhiêu công trình của thế kỷ, mà cô chỉ chú ý đến những điều quá vụn vặt.

Duy có một điều, là trong bài viết của cô, đoạn làm tôi thích và hãnh diện về đất nước tôi nhất là đoạn cô kể chuyện anh xe ôm chở cô, thình lình dừng xe ngay giữa đường, tắt máy để tra cứu trên Google mấy chữ “Cô thật xinh đẹp!” tiếng Anh là gì để trưng ra cho cô xem.

Cô đi “bụi” nhiều nơi trên thế giới, gặp những kẻ “nòi tình” Don Juan như đàn ông Ý, Pháp, Tây Ban Nha, cô có thấy thứ đàn ông nào “ga-lăng” với người đẹp như ở Việt Nam không? Mà đó mới chỉ là anh xe ôm tầm thường trong xã hội, còn cỡ “nghệ sĩ” như chúng tôi, sẽ có người làm thơ, vẽ tranh hay viết nhạc để tặng những người đẹp, dù là người đẹp qua đường như cô.

Con người Việt Nam quả là vĩ đại trong một đất nước vĩ đại đó cô!

Huy Phương

(Người Việt)

Châu Đoàn - Tại sao bạn cần quan tâm?


Có một số người nghĩ cứ làm việc của mình cho tốt là được và việc xấu ngoài xã hội sẽ không ảnh hưởng đến mình. Sở dĩ những người ấy nghĩ như vậy là bởi họ còn đang may mắn, nhưng ở đời ít ai dựa vào sự may mắn được mãi.

Hình minh họa
Khi bầu không khí ô nhiễm, ai cũng phải hít vào phổi, khi thực phẩm bẩn, ai cũng ăn vào bụng, khi giao thông lộn xộn ai cũng có thể bị tai nạn, khi mặt bằng văn hoá công chức, quan chức thấp ai cũng có thể bị công an giao thông bắt nạt, khi kinh doanh ai cũng có thể bị gây khó dễ để vòi tiền.

Các bạn chắc hẳn còn nhớ một cậu tên là Đại Dương gì đấy, một người rất hay chửi bới những người đấu tranh dân chủ và hết lòng ca ngợi chính quyền. Một ngày cậu ấy gặp đám tang của một người nhà làm công an, va chạm giao thông và cậu ấy bị đám công an ở đám tang đánh cho lên bờ xuống ruộng.

Một võ sinh của tôi khi đã đeo lon trung tá công an, được công an giao thông chỉ đi vào đường một chiều bởi chắn đường, xuống xe là bị công an của phường sở tại đè nghiến ra đánh, vợ phải thét lên “chồng tao là cấp trên của chúng mày đấy” thì chúng mới buông ra. Sự việc rồi cũng hoà cả làng, lại theo cái kiểu ù xoẹ “anh em với nhau cả ấy mà.”

Nếu cứ sống co mình, cốt cho sự an toàn của gia đình mình mà không dám mở mồm lên án những sự bất công của xã hội thì một ngày những sự lạm quyền, sự bẩn thỉu hèn hạ sẽ gõ cửa nhà bạn.

Sự việc công an thành phố Hồ Chí Minh vào phá đám một buổi sinh hoạt âm nhạc phòng trà, đánh đập ca sỹ và khách đến xem, 6 thằng đàn ông mạt hạng đánh đập một người phụ nữ đã tàn tật bởi đòn thù trước đấy nói lên rằng chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đã chà đạp lên sự yên bình của cuộc sống người dân.

Đành rằng ca sỹ là người hay xuống đường biểu tình và khách mời như Phạm Đoan Trang là một người bất đồng chính kiến nhưng việc nào ra việc nấy. Không thể dùng đấy như một cái cớ để đàn áp mọi lúc, mọi nơi một cách hèn hạ bẩn bựa như thế được.

Sở dĩ chính quyền thành phố Hồ Chí Minh như vậy bởi người dân ở đấy cho phép họ như vậy và nói rộng ra là những bất công trong xã hội này xảy ra là bởi người dân Việt Nam cho phép điều ấy xẩy ra.

Đừng ngạc nhiên khi tôi nói vậy, bởi chính sự im lặng giả vờ câm, giả vờ điếc của các vị là một sự cho phép ngấm ngầm đấy. Đừng làm người“ngôn khoan” một cách đáng khinh bỉ như thế. Ở đây tôi không kêu gọi một điều gì xa xôi to lớn, tôi chỉ đơn giản muốn mọi người lên tiếng tố cáo sự ác độc, bất công, sự vô pháp trong xã hội này.

Chính quyền thì đương nhiên phải bảo vệ quyền lực của họ nhưng bảo vệ theo pháp luật chứ không được phép lạm quyền và hành xử như một lũ côn đồ mọi rợ, đầy chất lưu manh hạ đẳng như vậy.

Tôi buồn bởi đây là môi trường tôi đang sống và đáng buồn hơn nữa là môi trường mà các con tôi đang và sẽ sống lâu dài. Chẳng lẽ tôi cũng lại phải lo cho chúng sống ở nước ngoài? Sống như thế là trốn chạy và khi đã trốn chạy thì làm sao hạnh phúc được.

Nhưng sống ở đây, khi sự vô pháp tràn lan trong chính quyền, khi người bị bắt vào đồn sau một đêm có thể thành thây ma thì liệu có hạnh phúc được không?

Đống rác hôi thối đang nằm thù lù trên đường. Ai đi qua cũng bịt mũi, khạc nhổ và bước qua cho nhanh nhưng nó vẫn luôn ở đấy trừ khi mỗi người cùng góp sức dọn một vài mảnh rác.

Tôi xin các bạn hãy dẹp bở sự “khôn ngoan” đáng khinh bỉ ấy và lên tiếng góp cuộc sống này tốt đẹp hơn.

Châu Đoàn

(FB Châu Đoàn)

Trương Nhân Tuấn - Chừng nào khủng hoảng VN trở nên “toàn diện”?


Nhà nước CSVN cạn kiệt ngân sách, điều này ai cũng thấy.

Hình minh họa
Thông lệ VN là ngân sách dành cho các bộ ngành, nhứt là công an và quân đội, vốn thuộc về “bí mật nhà nước”. Con số công bố bề ngoài “thấy vậy mà không phải vậy”. Một số các bộ như quốc phòng, công an… ngoài ngân sách cố định của nhà nước (trên 20% GDP), còn có “bộ máy” kinh tài riêng, hoạt động song song với các xí nghiệp, tập đoàn quốc doanh, nhằm gây “quĩ riêng” cho các bộ. Vụ sân golf ở sân bay Tân Sơn Nhứt, hay các đại xí nghiệp như Viettel, vốn là các “cơ quan kinh tài” của quân đội. Sân Golf Tân Sơn Nhứt thuộc tài sản “quĩ đất” riêng của quân đội. Trên địa bàn cả nước, “quĩ đất” của quân đội cực kỳ lớn, hầu hết ở các vị trí “đắc địa” hoặc các khu vực “đất vàng”. Đây là “di sản” từ thời kỳ “quân quản” sau 1975.

Phe công an kinh doanh cũng không kém. Bộ này chia ra thành nhiều “cục”, hoạt động độc lập với nhau. Các lãnh vực ăn chơi, du lịch, khách sạn, phòng trà, đĩ điếm… thuộc độc quyền của công an. Vụ cờ bạc trên mạng thực ra cũng là một hình thức kinh tài gây quĩ cho bộ. Vụ này lý ra không bị “khui”, nếu không có vụ tiền lời chạy vào túi cá nhân nhiều hơn vào “quĩ”. Các hoạt động kinh tài của bộ công an, cũng là “di sản” từ thời “đổi mới” từ 1985 về sau.

Vì vậy họ chi thu ngân sách ra sao, họ mua cái gì, bằng nguồn tiền nào không ai biết. Các tướng lãnh cấp cao, ngoài lương còn có “bỗng”, đến từ các quĩ riêng.

Sau khi gia nhập WTO, cũng như sau khi ký kết được các kết ước về kinh tế song phương hay đa phương, VN bị sức ép ngày một nặng của các chủ nợ như Ngân hàng thế giới (WB), Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) và của các nền “kinh tế thị trường”… Các định chế quốc tế cũng như các quốc gia này buộc VN phải tuân thủ “luật chơi” của “kinh tế thị trường”. Vì vậy một số xí nghiệp quốc doanh được giải tư. Tình trạng này cũng tương tự cho các xí nghiệp thuộc quyền quản trị của quân đội và công an.

Vài năm gần đây số thu về dầu khí của VN giảm sút, một mặt do giá dầu thế giới giảm, mặt khác do các mỏ lớn đã đi vào giai đoạn cạn kiệt.

Lại thêm “chiến tranh thương mại” giữa Mỹ và TQ. Hệ quả là bên nào thắng thì VN cũng là “nạn nhân”. Vì vậy nhà nước CSVN phải tính chuyện “giữ đảng từ xa” bằng phương cách cổ điển “tăng thu giảm chi”. Hệ quả ta thấy thuế và phí tăng “đột phát”. Già thành năng lượng của VN cao nhứt thế giới, tính trên mức trung bình thu đầu người. Sau đó “thắt lưng buộc bụng”. Ngân sách dành cho các bộ sụt giảm, việc này đưa tới việc “tinh giảm nhân sự” ở các bộ.

Nổi cộm là việc “tinh gọn” bộ công an. Theo một thống kê gần đây nhân sự bộ này gồm khoảng 600 ngàn người, chiếm 12% ngân sách nhà nước. Ta chưa biết được sau khi “tinh gọn” bộ máy công an sẽ còn được bao nhiêu người?

Ta cũng thấy các kế hoạch “thí điểm” nhằm sáp nhập hai bộ máy “đảng” và “nhà nước” lại với nhau làm một ở một số huyện, tỉnh.

Nhưng việc “chạy đua” với thời gian xem chừng đảng CSVN không đủ sức. Hôm tuần rồi cụ Tổng rầu rĩ nói (ở Đại hội Ngoại giao VN) rằng thế giới có nhiều biến chuyển không lường trước được. Thật vậy, cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và TQ, kết quả phần nhiều nghiêng về Mỹ.

Nhiều người tiên đoán lạc quan rằng do “chiến tranh thương mại”, các xí nghiệp nước ngoài đầu tư vào TQ như Đài loan, Nam Hàn, các nước Châu Âu, Mỹ… sẽ rút máy móc khỏi TQ để chuyển qua VN. Suy luận này hoàn toàn không có căn cứ. VN là mô hình của TQ thu nhỏ. TQ ăn gian với các nền “kinh tế thị trường” ra sao thì VN cũng ăn gian bằng một cách như vậy, với tỉ lệ cao hơn. TQ bị Mỹ trừng phạt vì ăn gian thì VN trước sau gĩ cũng bị trừng phạt. Người ta hy vọng rằng VN “không đáng kể”, Mỹ có thể bỏ qua. Tài phiệt quốc tế họ không mù quáng rút từ TQ sang VN để bị “lãnh búa” lần thứ hai.

Mặt khác là đe dọa khủng hoảng tiền tệ, đưa đến khủng hoảng toàn diện, đã và đang xảy ra ở Thổ. Các nước đang phát triển khu vực Đông Nam Á (gồm cả VN) đều bị đe dọa.

Vì vậy nhà nước CSVN cấp tốc “thắt lưng”. Các việc như nhà nước không xuất ngân khoản cho truyền thông để mua tác quyền truyền hình đá banh ở các giải quốc tế, hoặc cho đại học “tự lo”, là các dấu hiệu khẩn cấp về “bịnh trạng” ngân sách quốc gia.

Vụ ông Vũ Đức Đam mới đây nói về “tự trị đại học”. Nếu ta xem kỹ thì không hề có vấn đề “tự trị” ở các việc soạn thảo chương trình giảng dạy hay các việc tuyển sinh. Tự trị ở đây có nghĩa từ nay đại học tự thu học phí, nhà nước không cấp ngân sách nữa. Nhưng vấn đề là các tổ chức đảng vẫn không giải tán ở nội bộ các trường đại học.

Các vụ xử án gần đây, các nhà hoạt động nhân quyền bị các bản án nặng nề. Thực chất nhà nước CSVN muốn xử thật nặng để “cảnh cáo”. Bởi vì trong tương lai rất gần VN có thể sẽ bị nhiều khủng hoảng cùng lúc.

Về kinh tài, do việc lây lan từ Thổ.

Ngoài ra kinh tế VN lệ thuộc rất lớn vào xuất khẩu, mà việc này tùy thuộc phần lớn vào các xí nghiệp nước ngoài. Khủng hoảng gây ra từ cuộc “chiến tranh thương mại” giữa Mỹ và TQ sắp tới có thể sẽ gia tăng cường độ. Các xí nghiệp TQ có thể “di tản” sang VN để tránh nạn. Lúc đó VN lọt vào tầm nhắm của Mỹ.

Một số các bài viết cấp lãnh đạo VN đã công bố, nội dung so sánh Mỹ và LX trước khi sụp đổ. Các tác giả này tiên đoán Mỹ sẽ đi vào vết xe đổ của LX. Dĩ nhiên các bài viết đại loại như vậy chỉ nhằm “lên tinh thần” các đảng viên đang trong tình trạng hoảng loạn.

Việc này cho ta thấy trong nội bộ đảng CSVN hiện hữu một số không nhỏ thân TQ và Nga, xem Mỹ là “kẻ thù chiến lược”. Vấn đề là LX sụp đổ vì chạy đua quốc phòng. Trong khi Mỹ gia tăng ngân sách quốc phòng là để thúc đẩy kỹ nghệ chiến tranh của Mỹ. Tài phiệt Mỹ có nhiều phe, như phe quốc phòng (Boeing, Lokhed Martin, Northop Grumman…) , phe dầu khí (Rockefeler…), phe “tin học” (Google, MicroSoft, Sysco System…). Mỗi lúc, thấy cần thiết, thì chính sách nhà nước sẽ nghiêng về một phe để củng cố thế lực và giữ quân bình cho các phía. Mục đích là để thúc đẩy “phát triển” kinh tế.

Dầu thế nào ta cũng phải thấy rằng sắp tới VN có thể sẽ lâm vào nhiều cuộc khủng hoảng đến đồng loạt, như khủng hoảng tài chánh, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng do đe dọa nợ quốc dân (nợ công). Các khủng hoảng này đưa tới VN “vỡ nợ”, nhưng việc này không hề làm cho đảng CSVN sụp đổ. Ngoại trừ phe chống đối ở VN có chuẩn bị, thấy được thời cơ trước mắt.

Trương Nhân Tuấn

(FB Trương Nhân Tuấn)

Hoàng Hải Vân - VTV làm ô nhục quốc thể, Bộ TT&TT và Ban Tuyên giáo chẳng lẽ vô can?


Mạng xã hội đang chửi bới lãnh đạo Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) bằng những lời lẽ vô cùng thậm tệ khi Đài này từ chối mua bản quyền truyền hình Á vận hội 2018 (ASIAD 18) để cho hàng chục triệu người dân Việt Nam bất đắc dĩ phải vào xem lậu các kênh tường thuật không hợp pháp các trận đấu, trong đó có lực lượng vận động viên hùng hậu của Việt Nam tham gia. Báo chí cũng chỉ trích nhưng với lời lẽ nhẹ hơn. Đáng tiếc là bản thân tôi hoàn toàn ủng hộ sự chửi bới thậm tệ đó.

Hình minh họa
Trong sự kiện này, nước ta là nước duy nhất ở châu Á người dân phải xem các trận thi đấu của vận động viên thân yêu của đất nước mình bằng con đường bất hợp pháp. Dù viện dẫn bất kỳ lý do gì thì lãnh đạo VTV cũng vô trách nhiệm. Đẩy hàng chục triệu người Việt Nam tham gia vào hoạt động trộm cắp bản quyền không phải là sai lầm khuyết điểm thông thường chỉ chịu đôi ba câu chửi rủa là đủ. Đó là nỗi ô nhục quốc thể. Càng nhục nhã hơn khi các nhà lãnh đạo nước ta đang say sưa với những lời hay ý đẹp về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Nghe nói VTV cứ khệnh khạng trong việc mua bản quyền, cuối cùng bị “hét giá” lên khoảng 4 hay 5 triệu đô la gì đó, nên từ chối không mua. Số tiền đó tuy là lớn, nhưng để phục vụ cho toàn dân thì thật quá bé nhỏ. Mới chỉ làm 13 km đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông, cơ quan nhà nước đã vung tay nhẹ như không phê duyệt đội vốn tới hơn 300 triệu đô la chỉ vì lỡ đưa đầu vào cái thòng lọng chỉ định thầu của chủ nợ Trung Quốc và sự yếu kém trong quản lý. Những cái vung tay nhẹ như không tương tự tiêu tốn của đất nước hàng tỷ đô la nhưng chẳng quan chức nào thấy tiếc, còn bỏ ra chỉ mấy triệu đô la để phục vụ nhu cầu chính đáng của nhân dân thì tính toán như người buôn thúng bán mẹt (xin lỗi bà con buôn thúng bán mẹt về sự so sánh thất lễ này, vì tầm nhìn của bà con còn xa hơn VTV).

Bỏ tiền ra mua bản quyền đâu phải mất trắng, VTV có thể thu lại bằng quảng cáo, thu quảng cáo không đủ và nếu vì khoản tiền này mà VTV thua lỗ thì đã có ngân sách bù vào, thậm chí nếu ngân sách không bù được thì có thể tăng phí hoặc tăng một khoản thuế nào đó cho đủ số tiền thiếu hụt, người dân vẫn vui vẻ chấp nhận.

Quản lý nhà nước về truyền thông nước ta thuộc loại chặt chẽ nhất thế giới, có lẽ chỉ đứng sau Triều Tiên, Cu Ba và Trung Quốc, do Bộ TT&TT chịu trách nhiệm. Nền báo chí cách mạng nước ta mà VTV là cơ quan chủ lực, cũng được định hướng chặt chẽ nhất thế giới, thông qua Ban Tuyên giáo Trung ương. Dưới sự lãnh đạo và quản lý song kiếm hợp bích đó, đến con kiến cũng khó mà bò sai đường.

Bộ TT&TT thừa biết trong sự kiện thể thao lớn nhất châu Á này nếu VTV không mua bản quyền truyền hình thì người dân sẽ phải tìm cách xem lậu. Ban Tuyên giáo Trung ương, nơi có các chuyên gia lão luyện về truyền thông, chắc chắn cũng phải hiểu điều đó. Chỉ cần một động tác can thiệp từ Bộ hoặc từ Ban thì nỗi nhục quốc thể không xảy ra, nhưng đã không hề có một sự can thiệp “thiện lành” nào như vậy.

Để cho Đài truyền hình quốc gia “tự diễn biến, tự chuyển hóa” thành kẻ buôn thúng bán mẹt đẩy hàng chục triệu người dân tiếp tay cho hoạt động trộm cắp bản quyền làm nhục quốc thể, Bộ TT&TT và Ban Tuyên giáo Trung ương chẳng lẽ lại vô can? Một lần nữa xin lỗi về sự thất lễ đối với bà con buôn thúng bán mẹt!

Hoàng Hải Vân

(FB Hoàng Hải Vân)

Nguyễn Đăng Quang - Vì sao đảng cứ im lặng mãi, không dám lên tiếng


Hội nghị Thành Đô (3-4/9/1990) và các thỏa thuận ký kết giữa lãnh đạo 2 Đảng và Nhà nước Việt Nam – Trung Quốc đến nay đã đúng 38 năm, song vẫn là một bí mật lạnh lùng! Không chỉ nhân dân thế giới mà ngay cả người dân Việt Nam cũng như người dân Trung Quốc đều bị lãnh đạo của họ dấu tiệt, không hé lộ một lời về những gì họ đã thỏa thuận với nhau tại Hội nghị này cách đây 38 năm về trước!

Giang Trạch Dân và Lý Bằng hồ hởi chào đón các lãnh đạo ĐCSVN chiều 3/9/1990. Nguồn: Internet
Cách đây hơn 4 năm, ngày 28/7/2014, 61 đảng viên tâm huyết của ĐCSVN đã ký “Thư ngỏ gửi BCH Trung ương và toàn thể đảng viên ĐCSVN” (gọi tắt là “Thư ngỏ 61”). “Thư ngỏ 61” đưa kiến nghị ĐCSVN cần thực hiện 2 yêu cầu cấp thiết và trọng yếu của đất nước:

Một: “ĐCSVN cần thay đổi cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng CNXH, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa.”

Hai: “Là người chủ đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như Thỏa thuận Thành Đô 1990, các thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và trên Vịnh Bắc bộ, những thỏa thuận về kinh tế v.v…”

Trong 61 đảng viên ký Thư ngỏ này có 1 quân nhân kỳ cựu, 1 “anh bộ đội cụ Hồ” đích thực, đó là Thiếu tướng Lê Duy Mật (1927-2015), cựu Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu II, cựu Chỉ huy trưởng Mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang (1979-1984). Tướng Lê Duy Mật là người rất cương trực, tính khí khẳng khái, là một vị tướng can trường trận mạc, trải khắp các chiến trường A,B,C,K qua 3 cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và Tầu xâm lược! Một chi tiết không phải ai cũng biết, 1 tuần trước khi đấy, ngày 20/7/2014, ông đã gửi TBT Nguyễn Phú Trọng, BCT và BBT một Tâm thư với nội dung rất mạnh mẽ và quyết liệt, đó là yêu cầu Đảng phải công khai hóa Thỏa hiệp Thành Đô, đồng thời phải cho Tổng kết cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược.

Đặc biệt, trong Tâm thư trên, tướng Lê Duy Mật đã trích dẫn nguyên văn một Điều khoản trong Thỏa hiệp Thành Đô do Tân Hoa xã và Hoàn Cầu Thời báo của Trung Quốc tiết lộ: “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng CNCS, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa 2 nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa 2 Đảng và nhân dân 2 nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp trong quá khứ. Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung Quốc đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam 30 năm (1990-2020) để ĐCSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Hoa.” (hêt trích)

Ông nêu nghi vấn việc này có hay không, thực hư ra sao, Đảng phải làm rõ! Và rồi ông yêu cầu BCT và BBT phải công bố các văn bản đã thỏa thuận ký kết giữa 2 Đảng trong Hội nghị Thành Đô cho toàn Đảng, toàn dân biết để chứng minh hư thực. Nếu Thỏa hiệp Thành Đô là đúng như Tân Hoa xã và Hoàn cầu Thời báo của Trung Quốc đưa tin, thì rõ ràng đấy là bản thỏa hiệp rất nguy hiểm cho đất nước, chẳng khác nào là phản bội Tổ quốc! Tiếp ngay sau đấy, ông kiến nghị Trung ương xem xét ra tuyên bố phản bác bản Thỏa hiệp đó, chấn chỉnh lại tổ chức, kỷ luật những người đã ký và cả những người thực hiện sau này!

Tôi quen biết Tướng Lê Duy Mật trong những dịp bàn thảo và ký “Thư ngỏ 61”. Tất cả 61 đảng viên ký tên đều nhất trí cao về nội dung, câu chữ và đặc biệt là về 2 vấn đề trọng yếu và cấp thiết của đất nước. Riêng tướng Lê Duy Mật và một vài anh muốn “Thư ngỏ 61” đề cập thêm Điều khoản mà Tân Hoa xã và Hoàn cầu Thời báo đã tiết lộ, nhưng khi cân nhắc, ý kiến trên không được chấp thuận, đa số cho rằng cần phải rất thận trọng, để theo dõi thêm, chưa khẳng định vội. Sau này mỗi khi gặp nhau, tướng Mật nói vui, bảo tôi là “Ồ đây rồi, ông bạn hăng hái nhất chặn tớ đây rồi!”.

Khi gửi Tâm thư và ký vào “Thư ngỏ 61”, tướng Mật ở tuổi 87, sức khỏe đã yếu. Không lâu sau ông phải vào Quân y viện 108 điều trị bệnh hiểm nghèo. Mỗi lần vào thăm ông, tôi nhận thấy, dù đang nằm trên giường bệnh, nhưng ông luôn đau đáu, trăn trở với hiện tình đất nước, nhất là về mối nghi ngờ của ông đối với Hội nghị Thành Đô. Ông hỏi tôi lý do vì sao không đồng tình với ông về Điều khoản mà ông gọi là “bán nước”, tôi đáp: “Thưa anh, tất cả bọn họ đều u mê về ý thức hệ, họ sẵn sàng đặt quyền lợi của họ lên trên lợi ích quốc gia. Song có lẽ họ chưa ngu muội đến mức có thể bán rẻ Tổ quốc!”. Tôi phân tích thêm: “Vả lại, kẻ thù của ta, chắc anh không xa lạ và còn biết rõ hơn em, chúng là bậc thày trong các quỷ kế gây chia rẽ, ly dán và phân hóa nội bộ ta! Do vậy chúng ta cần hết sức tỉnh táo, thận trọng và cảnh giác để khỏi xa vào mưu đồ xấu xa, hiểm độc của chúng!”. Ông im lặng, tay vỗ nhẹ vào vai tôi, không rõ ông đồng tình hay phản đối? Thế rồi hơn một tháng sau, ngày 20/10/2015, tôi lặng người khi nghe tin ông mất, mang sang thế giới bên kia mối nghi ngờ lớn nhất mà ông chưa được Đảng giải đáp!

Nỗi u buồn và vẻ mặt trầm tư của tướng Lê Duy Mật trước ngày ra đi. Ảnh: Phạm Viết Đào
“Tâm thư” của tướng Mật và “Thư ngỏ 61” của các đảng viên gửi ĐCSVN đã hơn 4 năm rồi mà chẳng có ai trả lời họ cả. Tính đến nay, ngoài tướng Lê Duy Mật, có 4 người khác ký “Thư ngỏ 61” đã ra đi mãi mãi cùng ông! Không rõ Đảng muốn đợi những đảng viên ký “Thư ngỏ 61” ra đi bớt rồi mới trả lời hay là Đảng đợi 2 năm nữa, đúng ngày 4/9/2020, mới chính thức công bố cho toàn dân biết? Những điều họ kiến nghị, hoặc những vấn đề họ yêu cầu đều nằm trong quy định những quyền đảng viên được biết và bổn phận Đảng phải làm (Điều 3 Điều lệ Đảng và Điều 4 Hiến pháp). Hơn nữa, câu hỏi mà tướng Mật yêu cầu Đảng làm rõ đâu có phải là của “thế lực thù địch” bịa đặt ra, mà đây là sự tiết lộ của “các đồng chí 4 tốt” của Đảng! Sự việc ở đây thật đơn giản: Nếu CÓ thì bảo là CÓ. Nếu KHÔNG thì bảo là KHÔNG, uẩn khúc ghê gớm gì đâu mà Đảng không dám trả lời?

Trong bài viết ngày 3/8/2014 với nhan đề: “Phải công bố các thỏa thuận ở Thành Đô cho nhân dân biết”, người viết bài này kiến nghị: “Xung quanh Hội nghị thượng đỉnh và các thỏa thuận mà Việt Nam đã ký với Trung Quốc ở Thành Đô, có nhiều phân tích, đánh giá, nhận định và thông tin trái chiều, thậm chí cả những đồn thổi nguy hiểm, bất lợi về mặt dư luận… làm người dân hoang mang, bán tín bán nghi, không biết đâu là hư, đâu là thực! Mọi hiện tượng trên sẽ chấm dứt một khi Đảng và Nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối quan hệ VN – TQ, đặc biệt là các thỏa thuận mà lãnh đạo ta đã ký với Trung Quốc ở Thành Đô”.

Nhà thơ thế sự nổi tiếng Thái Bá Tân mới đây post lên FB của mình bài thơ “Đề nghị Đảng giải thích”, nói về việc tướng Lê Duy Mật gửi Tâm thư chất vẩn Đảng mà không được trả lời. Xin mạn phép trích dẫn 4 khổ trong bài thơ nói trên để chia xẻ cùng bạn đọc:

“Thiếu tướng Lê Duy Mật,

Không phải người hồ đồ,

Vừa tiết lộ một ý

Trong Thỏa hiệp Thành Đô.

“Rằng vì lợi ích đảng,

Đảng ta đã tự mình

Xin làm Khu tự trị

Của chính quyền Bắc Kinh.

“Không thể nào tin nổi.

Nhưng nếu đúng, thì đây

Là tội ác cực lớn,

Loại ngựa xéo, voi dày!

“Tôi là con dân Việt,

Có quyền biết thật hư.

Yêu cầu Đảng giải thích,

Không một phút chần chừ !

Vâng, thưa nhà thơ Thái Bá Tân, nói rõ thật hư, công khai, minh bạch, không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ của Đảng cầm quyền đối với 4 triệu đảng viên của mình và 90 triệu con dân đất Việt! Nếu cứ lặng thinh, từ chối trách nhiệm thì Đảng không xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội như đã ghi trong Điều 4 Hiến pháp 2013!

Nguyễn Đăng Quang

(Tiếng Dân)

‘Tàu cứu nạn’ ở Trường Sa: Vỏ bọc của Trung Quốc?


Bắc Kinh đã lần đầu tiên đặt vĩnh viễn một tàu nghiên cứu và cứu nạn ở Biển Đông, và bước đi gây quan ngại các quốc gia khác cũng tuyên bố chủ quyền ở vùng biển tranh chấp này bị coi là một “vỏ bọc” của Trung Quốc.

Tàu và trực thăng Trung Quốc tham gia "cứu hộ" ở Biển Đông.
Bộ Giao thông Trung Quốc mới đây đã đưa con tàu mà Tân Hoa Xã nói là có thể chống đỡ sóng cao tới 6 mét tới Trường Sa. Con tàu có tên Cứu hộ Biển Nam 115 còn có bãi đáp trực thăng.

Quan chức của Bộ này được trích lời nói rằng Trung Quốc sẽ “liên tục cải thiện khả năng sẵn sàng làm nhiệm vụ cứu nạn hàng hải ở Biển Đông theo các thỏa thuận quốc tế”.

Các chuyên gia nhận định với VOA rằng Trung Quốc có thể đã triển khai tàu và quảng bá hình ảnh tốt đẹp về nước mình quanh nỗ lực cứu nạn, sau khi khiến nhiều quốc gia láng giềng tức giận vì các hoạt động quân sự hóa ở vùng biển tranh chấp với nhiều nước, trong đó có Việt Nam.

Ông Jonathan Spangler, Giám đốc Cơ quan nghiên cứu Biển Đông ở Đài Bắc, Đài Loan, nhận định với VOA: “Toàn bộ chuyện rầm rộ thông báo một hoạt động mang tính nhân đạo như vậy nhằm để che đậy việc quân sự hóa rõ ràng và tẩy não bằng một vỏ bọc thân thiện”.

Những năm gần đây, Trung Quốc đã cấp tập xây cất các đảo nhân tạo trên Biển Đông, và Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị từng tuyên bố rằng Bắc Kinh làm vậy để “tự vệ” trước “áp lực từ Hoa Kỳ”.

“Trung Quốc có thể tìm cách để làm dịu sức nóng từ các hành động quân sự bằng cách công bố các hoạt động cứu nạn, nhưng tôi không nghĩ rằng nó sẽ giúp thay đổi nhận thức”, ông Euan Graham, Giám đốc An ninh Quốc tế tại Viện Chính sách Quốc tế Lowy ở Sydney, nhận định với VOA.

"Nó giống như đang có một cuộc chiến PR [quan hệ công chúng], nhưng tôi nghĩ rằng khả năng giành chiến thắng của Trung Quốc trong cuộc chiến về quan hệ công chúng này kém hơn vài năm trước vì tôi nghĩ rằng yếu tố quân sự [ở Biển Đông] ngày càng trở nên lộ rõ, khó có thể che giấu”.

Ông Graham nói rằng các tàu và máy bay quân sự Trung Quốc đã được triển khai ra Biển Đông trước cả tàu cứu nạn.

Các nhà phân tích tin rằng Bắc Kinh có thể đang hy vọng sẽ đuổi kịp chính phủ các nước khác bằng việc đưa tàu cứu hộ ra vùng biển tranh chấp.

Đài Loan, đối thủ chính trị của Trung Quốc, đã thực hiện công tác nghiên cứu và cứu hộ tại Thái Bình mà Việt Nam gọi là Ba Bình, hòn đảo lớn nhất ở Trường Sa.

Một quan chức tuần duyên Đài Loan nói hồi năm 2015 rằng cơ quan của ông đã cứu các ngư dân không phải là Đài Loan khỏi các cơn bão ở Trường Sa.

Năm ngoái, các binh sĩ Australia đã tham gia một cuộc diễn tập cứu hộ với lực lượng Philippines ở một vịnh gần Biển Đông.

Bà Maria Ela Atienza, giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Philippines Diliman, cho rằng các nhà lập pháp Philippines có thể coi tàu cứu hộ của Trung Quốc với một thái độ “ngờ vực”.

Trong khi đó, độc giả VOA tiếng Việt nhận định rằng đây có thể là “trò tung hỏa mù”.

Bạn đọc Nguyễn Long viết: “Nó là tàu cứu hộ cho ngư dân Trung Quốc nhưng có thể là ‘tàu lạ’ sẵn sàng đâm chìm tàu ngư dân Việt Nam”.

Dù không đề cập tới việc triển khai tàu cứu hộ tới Biển Đông, trong một tuyên bố hôm 10/8, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã nêu phản ứng của phía Hà Nội về việc Trung Quốc “tổ chức các hoạt động kỷ niệm 6 năm thành lập cái gọi là ‘thành phố Tam Sa’ như lắp đặt và đưa vào sử dụng phao đèn quan trắc sóng biển ở Phú Lâm, quần đảo Hoàng Sa hay Đại học Trung Sơn Trung Quốc thực hiện một loạt các khảo sát khoa học tổng hợp ở quần đảo Hoàng Sa…”

“Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế. Các hành động nêu trên của Trung Quốc không chỉ xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà còn đi ngược lại Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, không phù hợp với nhận thức chung quan trọng của Lãnh đạo cấp cao hai nước về việc kiểm soát tốt bất đồng trên biển cũng như xu thế phát triển tốt đẹp của quan hệ hai nước, trái với tinh thần và nội dung của Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), không có lợi cho tiến trình đàm phán giữa ASEAN và Trung Quốc về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) cũng như việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở Biển Đông và khu vực”, bà Hằng nói.

Nữ phát ngôn viên cho biết rằng “Việt Nam kiên quyết phản đối, yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay các hoạt động nêu trên, tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thực hiện nghiêm túc Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng như Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), không có hành động làm phức tạp tình hình; đóng góp thiết thực và tích cực vào phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc vì hòa bình, ổn định và hợp tác ở Biển Đông và khu vực”.

Bà Hằng cũng cho hay rằng “đại diện Bộ Ngoại giao đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam giao thiệp về vấn đề này”. Hiện chưa thấy phản ứng của Trung Quốc về các phản đối của Hà Nội.

(VOA)
 

Website và blog tiêu biểu

Top ↑ Copyright © 2008. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Back To Top ↑