Tin Tức Hàng Ngày
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Bài Mới

Tại sao Cuba – Mỹ quyết định bình thường hóa quan hệ?

Đăng bởi Trung Lập vào Thứ Hai, ngày 22 tháng 12 năm 2014

cuba us migration crop

Cuộc điện thoại giữa Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và Chủ tịch Cuba Raúl Castro, theo sau là cuộc trao đổi một tù nhân Mỹ để đổi lại ba nhân viên tình báo Cuba bị giam giữ tại Mỹ, đánh dấu thời điểm quan trọng nhất trong quan hệ song phương nhiều thập kỷ qua. Không lâu sau đó, Mỹ và Cuba thông báo rằng họ sẽ bắt đầu quá trình khôi phục quan hệ ngoại giao đầy đủ.

Thoạt nhìn, thỏa thuận này có vẻ là một thắng lợi lớn của Cuba với việc Mỹ cuối cùng cũng phải từ bỏ nỗ lực cô lập hòn đảo cộng sản này. Thực tế có phần phức tạp hơn thế.

Thứ nhất, đây không phải là sự kết thúc lệnh cấm vận thương mại của Mỹ vốn chỉ Quốc hội mới có thể dỡ bỏ. Quan hệ giữa hai nước cũng không hoàn toàn bình thường hóa; sẽ có đại sứ quán, nhưng không có đại sứ.

Nhưng chắc chắn thỏa thuận này, do Vatican và Canada làm trung gian, là một bước tiến quan trọng. Người Mỹ không phải gốc Cuba sẽ có thể tới Havana dễ dàng hơn. Các giao dịch ngân hàng giữa hai nước cũng có thể được thực hiện. Một số vấn đề về thương mại sẽ được giải quyết. Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ loại Cuba khỏi danh sách các quốc gia mà nó cáo buộc là hỗ trợ cho khủng bố.

Về phần mình, đúng là Cuba có vẻ phải nhượng bộ rất ít. Ngoài thả tự do một người Mỹ, Alan Gross, Castro còn đồng ý thả 53 tù nhân chính trị, nới lỏng các hạn chế về mạng Internet, và cho phép các quan chức về nhân quyền của Liên Hợp Quốc và các quan sát viên đến từ Hội Chữ thập đỏ Quốc tế vào Cuba. Đây chắc chắn là những nhượng bộ, nhưng không phải lớn lao gì khi xem xét những thứ Cuba có thể đạt được khi nối lại quan hệ ngoại giao sau một nửa thế kỷ bị cô lập.

Thế nhưng Cuba đang gặp khó khăn do một yếu tố quan trọng vốn có lẽ đã thúc đẩy quyết định của Castro: sự sụt giảm gần đây của giá dầu. Một loạt các yếu tố – như mức tăng ngoạn mục trong sản xuất dầu lửa và khí đốt của Mỹ, suy thoái ở châu Âu và Nhật Bản, quyết định giữ công suất khai thác dầu của Ả-rập Xê-út, và suy giảm kinh tế ở Trung Quốc và Ấn Độ – đã dẫn đến nguồn cung dư thừa. Và hai nước bị ảnh hưởng nhiều nhất chính là những quốc gia mà trong lịch sử Cuba từng phụ thuộc vào để giữ nền kinh tế của mình sống sót: Nga và Venezuela.

Trong hai nước, Venezuela và những rắc rối của nó đe dọa nhiều nhất đến sự ổn định của Cuba. Nga đã thôi viện trợ đáng kể cho Cuba kể từ khi Liên Xô sụp đổ. Nhưng Venezuela, dưới thời cố Tổng thống Hugo Chávez, từng là người bảo trợ quan trọng, gửi cho Cuba khoảng 100.000 thùng dầu mỗi ngày, cùng một khoản viện trợ 5-15 tỉ đô la mỗi năm.

Những khoản viện trợ này khó có thể tiếp tục. Quả thật, không phải ngẫu nhiên mà các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Cuba bắt đầu không lâu sau khi Chávez qua đời năm 2013. Chắc chắn rằng nếu không còn trợ cấp từ Venezuela, Cuba sẽ một lần nữa rơi vào suy thoái, như nó đã từng gặp phải sau khi viện trợ từ Nga suy giảm hồi đầu những năm 1990.

Điều này khiến Cuba rất dễ bị tổn thương. Cải cách kinh tế rõ ràng đã không đem lại những hiệu quả như mong muốn. Thu nhập giảm. Thiếu hụt (hàng hóa) trên diện rộng khiến lạm phát tràn lan, với nguy cơ siêu lạm phát ngày một tăng. Tỉ giá giao dịch ngoại tệ trên thị trường chợ đen chỉ cao hơn 3% so với tỉ giá chính thức một chút. Một biến động chính trị lớn đang ngày càng trở nên khả dĩ.

Trong cuốn Back Channel to Cuba: The Hidden History of Negotiations Between Washington and Havana , William LeoGrande và Peter Kornbluh đã mô tả việc Cuba liên tục từ chối đưa ra những nhượng bộ chính trị để đổi lại việc chấm dứt lệnh cấm vận hay bình thường hóa quan hệ ngoại giao như thế nào. Và quả thực, Castro đã không hề đưa ra bất cứ nhượng bộ chính trị nào trong thỏa thuận được công bố gần đây.

Nhưng những tính toán kinh tế gần đây cho thấy sự thay đổi như thế rất có thể sẽ sớm xảy ra. Khi không có một người bảo trợ giàu có và hào phóng, sự phục hồi của nền kinh tế Cuba sẽ phụ thuộc vào việc bình thường hóa hoàn toàn quan hệ ngoại giao với Mỹ, điều chắc chắn không thể xảy ra nếu không có những thay đổi lớn về dân chủ và quyền con người.

Khi lịch sử hiện tại được viết nên, có thể hóa ra không phải việc sử dụng vũ lực hay nỗ lực của các nhà ngoại giao, mà rốt cuộc chính sự can thiệp vô tư của những ông trùm dầu mỏ xa xôi ở Bắc Dakota và Bán đảo Ả-rập đã khiến Cuba của Castro cuối cùng phải mở cửa.

Nguồn: Jorge G. Castañeda, “Why Cuba Turned,” Project Syndicate, 19/12/2014.

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Jorge G. Castañeda là Ngoại trưởng Mexico giai đoạn 2000-2003, sau khi cùng đối thủ ý thức hệ của ông, Tổng thống Vicente Fox, tạo nên chính phủ dân chủ đầu tiên của nước này. Ông hiện là giáo sư ngành Chính trị học và ngành Nghiên cứu Mỹ Latinh và Caribe tại Đại học New York, và là tác giả của cuốn “The Latin American Left After the Cold War” và “Compañero: The Life and Death of Che Guevara.”

(Nghiên Cứu Quốc Tế)


Lại bắt được bồ câu mang ký tự Trung Quốc

BÌNH ĐỊNH 21-12 (NV) .- Dân ở Bình Định vừa bắt được con chim bồ câu có nhiều ký tự in màu đỏ giống như chữ Trung Quốc, chân chim đeo mã số, tương tự như “chim lạ” không biết từ đâu bay đến.

                 Con bồ câu người dân bắt được ngày 20/12/2014 ở Bình Định. (Hình: Đất Việt)

Một số báo cho hay vào trưa 20/12/2014, gia đình ông Phạm Tuyên Tân (31 tuổi) tại thôn Tân Phụng 2, xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ, Bình Định, bắt được một con chim bồ câu nặng khoảng 650 g, sau khi nó tự bay vào nhà.

Nguồn tin nói nhìn bề ngoài, con chim này không khác những con chim bồ câu thường thấy, nhưng khi xòe cánh nó ra thì bên trong cánh chim “có nhiều ký tự in màu đỏ giống như chữ Trung Quốc, chân chim đeo mã số”.

Nói chuyện với ký giả báo Dân trí, ông Tân cho biết, “khi vừa mở cửa thì con chim bồ câu này bay vào nhà”. Ông nói ông đóng cửa để bắt và phát hiện những dấu hiệu lạ.

       Bồ câu có gắn mã số được người dân bắt được hồi tháng 11/2014 tại Nghệ An (Hình: Đất Việt)

Mấy tháng vừa qua, người dân một số khu vực miền Trung bắt được những con chim bồ câu với những ký tự Trung Quốc và mã số mà không ai biết nguồn gốc từ đâu tới. Chim bồ câu thường được huấn luyện trong ngành truyền tin để đưa thư khi các phương cách khác không thực hiện được.

Tháng 11, người dân huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, bắt được một con. Tháng 5 trước đó, dân đảo Lý Sơn bắt được một con.

Ông Hồ Văn Thắm ở xóm 15, xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, ngày 19/11/2014, thấy chim bồ câu lạ xuất hiện phía trước mái nhà đã dùng súng cao su bắn trúng chân và bắt được con chim này.

Xem xét thì thấy nó có vẻ đã già, trọng lượng khoảng 700 gam, móng đã có cựa. Chân bên phải của con chim có một vòng chữ số lạ với dòng chữ CHINA (Trung Quốc), hai bên cánh chim có 5 dòng ký tự lạ.

                        Bồ câu lạ được người dân Lý Sơn bắt hồi Tháng 5/2014. Hình: Đất Việt)

Giữa tháng 5/2014 một ngư dân ở thôn Tây, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) cũng bắt được 2 con chim lông màu xám mịn, mắt tròn đen trông giống loài bồ câu, đậu trên cabin tàu ở khu vực gần đảo Đá Bắc thuộc vùng biển Hoàng Sa, cách đảo Lý Sơn khoảng 150 hải lý.

Cặp chim này cũng có dấu hiệu lạ là trên đôi chân được đeo kiềng vòng bằng nhựa, với nhiều ký tự “lạ”. Phía dưới cánh của cặp chim bồ câu còn có các ký tự “lạ” màu xanh, đỏ. Theo tiến sĩ Sử học Đoàn Ngọc Khôi, Phó giám đốc Bảo tàng Quảng Ngãi cho biết, dưới cánh hai con chim bồ câu này có 4 chữ Hán là:"Chiêu Tài Tấn Bảo". Rõ ràng nơi thả loài chim này xuất phát từ một cơ sở của người Trung Quốc. (TN)

(Người Việt)

Vì sao Hoa Kỳ chọn chỉ cấm vận Cuba?

Kennedy và Chính phủ của ông rất do dự trước tình hình Cuba. Họ luôn tin rằng muốn lật đổ chế độ Cuba Cách mạng bằng một cuộc xâm lược quân sự, sẽ dẫn đến đối đầu Liên Xô. 

Thất bại của “Liên minh vì tiến bộ” 

Không thể mất uy tín thêm nữa, cùng thất bại “Sự kiện Vịnh Con Lợn” (1961), Kennedy cảm thấy cần thay đổi chính sách nhằm ngăn chặn sự phát triển của CNCS ở Mỹ - Latinh. Nước này chủ trì hai Hội nghị Liên Mỹ họp ở Punta Del Este (Uruguay).  

Tại hội nghị lần thứ nhất (8/1961), Hoa Kỳ hứa hẹn hàng năm sẽ có khoản viện trợ Nhà nước khổng lồ là 1 tỷ đôla cho các nước Mỹ - Latinh. Hệ thống viện trợ tập thể này sẽ được đặt tên là “Liên minh vì tiến bộ.” Tuy nhiên, kế hoạch gặp khó khăn.  

Tại Hội nghị lần thứ 2, tháng 1/1962, tân ngoại trưởng Hoa Kỳ Dean Rusk còn đề nghị khai trừ Cuba ra khỏi “Tổ chức các quốc gia châu Mỹ” vì lý do ở Cuba nay đã tồn tại một Chính phủ độc tài và chế độ của Cuba không phù hợp với các thể chế dân chủ của tổ chức.  

Vì hành động này của Hoa Kỳ, Fidel Castro đã kêu gọi toàn thế giới chống lại chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Quan hệ Cuba – Liên Xô được tăng cường về mọi mặt để phần nào giảm bớt khó khăn cho Cuba do bao vây kinh tế của Mỹ. 

Kennedy, Fidel Castro, Nikita Khrushchev, Liên Xô, Hoa Kỳ, Cuba, bình thường hóa quan hệ, cấm vận, vũ khí, hạt nhân, chiến tranh
               Năm 1962, Cuba đồng ý để Liên Xô mang tên lửa tới hòn đảo của mình. Ảnh: Getty

Kennedy và học thuyết Monroe. Vai trò của Liên Xô ngày càng tăng 

Kennedy và Chính phủ của ông rất do dự trước tình hình Cuba. Họ luôn tin rằng muốn lật đổ chế độ Cuba Cách mạng bằng một cuộc xâm lược quân sự, sẽ dẫn đến đối đầu Liên Xô, vì Liên Xô đã cam kết bảo vệ Cuba. Nếu hậu thuẫn lật đổ, thì cũng sẽ dẫn đến kết quả tương tự.

Do đó, biện pháp chống Cuba của Kennedy mới chỉ dừng ở mức cấm vận hàng hóa vào Cuba, chứ chưa đến mức phong tỏa Cuba, hành động được coi là chiến tranh [1].  

Chính sách của Hoa Kỳ vẫn tiếp tục trung thành với “Học thuyết Monroe” – chống sự can thiệp của nước châu Âu, nay mở rộng thành các nước “không Mỹ” vào nước Mỹ [2]. Quốc hội Hoa Kỳ còn quyết nghị nếu cần sẽ sử dụng vũ lực để ngăn chặn bất cứ hành động xâm lược hoặc lật đổ nào ở Tây bán cầu.  

Báo chí Mỹ liên tục đăng tải những bài viết rất thù địch chống Cuba. Hoa Kỳ thường xuyên cho máy bay U2 bay do thám trên vùng trời Cuba, gọi thêm 150.000 quân dự bị và cho phép những người Cuba lưu vong được gia nhập quân đội Hoa Kỳ, tất cả đều làm căng thẳng thêm tình hình. 

Tình hình ngày càng căng thẳng đẩy Cuba vào tình thế phải tìm kiếm một liên minh khăng khít hơn nữa, nhất là về quân sự. Mùa hè năm 1962, Raoul Castro cùng Che Guevara sang Moscow, yêu cầu “Liên Xô cần có hỗ trợ hơn nữa để bảo vệ Cuba trước sự xâm lược của Đế quốc Mỹ.” Đề nghị này nhận được sự đồng ý của Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô, Nikita Khrushchev.  

Trang thiết bị, khí tài, vũ khí và chuyên gia quân sự Liên Xô bắt đầu có mặt ở Cuba, xây dựng các căn cứ quân sự (tên lửa) ở đây và dẫn dắt chúng ta vào một sự kiện mới: 

Cuộc “Khủng hoảng tên lửa Cuba” 

Ngày 2/9/1962, hai nước đã ra thông cáo chung Liên Xô – Cuba với nội dung “Liên Xô sẽ cung cấp vũ khí và huấn luyện quân sự cho Cuba”, nhưng không hàm ý có vũ khí có thể tấn công Hoa Kỳ.  

Ngày 14/10/1962, một máy bay U2 tiến hành cuộc hành trình bay do thám. Hai ngày sau, tổng thống Kennedy được báo cáo về việc có dàn phóng tên lửa được xây dựng trên đất Cuba. “Hội đồng an ninh quốc gia Hoa Kỳ” đã được nhóm họp và trước mắt họ có các lựa chọn: 

(1) Tấn công Cuba, tiêu diệt các tên lửa Liên Xô triển khai trên lãnh thổ Cuba, đồng nghĩa với chiến tranh.  

(2) Dùng máy bay ném bom tiêu diệt tên lửa Liên Xô – một kế hoạch đầy rủi ro vì có thể nó không đạt được kết quả như mong muốn.  

(3) Tổ chức phong tỏa cục bộ xung quanh Cuba ngăn không cho Liên Xô đưa vũ khí nguyên tử vào Cuba và đồng thời, đưa cho Liên Xô “tối hậu thư” để Liên Xô từ bỏ kế hoạch xây dựng dàn phóng tên lửa mang đầu đạn hạt nhân ở Cuba. 

Về kế hoạch thứ ba này, Hoa Kỳ có đầy đủ năng lực thực hiện và “đá được quả bóng sang sân của Liên Xô”. Nghĩa là quyết định như thế nào, đều phụ thuộc vào phía Liên Xô cả: có tiếp tục cho các tàu chở hàng (có tàu ngầm hộ tống) đi tiếp hay không, hoặc thậm chí “liều” cho Hoa Kỳ khám tàu. Đây là một kế hoạch thụ động, nhưng lại có khả năng thành công lớn.  

Ngày 22/10/1962, tổng thống Hoa Kỳ Kennedy đã đọc một bài diễn văn rất quan trọng trên truyền hình: “Như đã hứa, Chính phủ ta đã giám sát một cách chặt chẽ nhất các hoạt động quân sự của Liên Xô trên đảo Cuba. Tuần qua, đã có các chứng cớ không thể bác bỏ được chứng tỏ một loạt bệ phóng tên lửa tấn công đã được xây dựng trên hòn đảo tù túng đó. Mục đích của căn cứ này chỉ có thể nhằm tạo ra một lực lượng quân sự chống lại Tây bán cầu”.  

“Việc nhanh chóng biến Cuba thành một căn cứ chiến lược quan trọng thông qua sự có mặt của những vũ khí lớn tầm xa và rõ ràng có sức công phá mạnh nhằm hủy diệt hàng loạt là một sự đe dọa trắng trợn đối với hòa bình và an ninh của toàn bộ Châu Mỹ. Quyết định bí mật và bất ngờ đặt vũ khí chiến lược lần đầu tiên ở ngoài lãnh thổ Liên Xô là một sự thay đổi nguyên trạng, cố tình khiêu khích và vô căn cứ mà đất nước chúng ta không thể chấp nhận…”. 

Kennedy trước hết thông báo cho dân chúng Mỹ, sau đó là các đồng minh và trao tối hậu thư cho Chính phủ Liên Xô. Các chứng cớ về tên lửa Liên Xô triển khai ở Cuba được công bố trên toàn thế giới.  

Kennedy, Fidel Castro, Nikita Khrushchev, Liên Xô, Hoa Kỳ, Cuba, bình thường hóa quan hệ, cấm vận, vũ khí, hạt nhân, chiến tranh
Fidel Castro tới Moscow năm 1963 trong vai trò là khách mời của lãnh đạo Liên Xô lúc bấy giờ Nikita Khrushchev. Ảnh: BBC

Liên Xô phản ứng như thế nào?  

Trước đây khi trả lời câu nói của Mao Trạch Đông “đế quốc Mỹ là con hổ giấy”, Tổng bí thư ĐCS Liên Xô, Nikita Khrushchev đã trả lời: “Nhưng mà con hổ giấy ấy nó có răng nguyên tử.” Hơn ai hết, ông ý thức được rất rõ khả năng chiến tranh thế giới lần thứ ba và hậu quả khủng khiếp của nó.   

Nikita đã có trao đổi thư từ trực tiếp với Tổng thống Hoa Kỳ và họ đã tìm được tiếng nói chung. Thỏa thuận của hai siêu cường là Liên Xô sẽ rút các tên lửa đã triển khai ở Cuba dưới sự kiểm soát của các quan sát viên Liên hiệp quốc (LHQ), cam kết sẽ không đưa chúng quay trở lại. Ngược lại, Hoa Kỳ cũng phải cam kết sẽ không dùng vũ lực với Cuba.  

Cho rằng bị đẩy vào tình thế “các nước lớn thảo luận về nước nhỏ không thông qua nước nhỏ,” Fidel Castro phản ứng khá dữ. Ông không đồng ý với thỏa thuận của Khrushchev với Kennedy và đưa ra yêu sách 5 điểm:

1. Chấm dứt phong tỏa kinh tế.

2. Chấm dứt các hoạt động lật đổ bằng quân nhảy dù và bằng tàu vận chuyển vũ khí, chấm dứt các hoạt động gián điệp và phá hoại đối với Cuba.

3. Chấm dứt các cuộc tiến công kẻ cướp bằng máy bay xuất phát từ Hoa Kỳ.

4. Chấm dứt việc cho máy bay xâm phạm không phận Cuba.

5. Hoa Kỳ rút quân khỏi căn cứ hải quân Guantanamo.   

Hoa Kỳ đương nhiên không đồng ý với bản yêu sách này, do đó tình hình lại trở nên bế tắc, gây khó xử cho Liên Xô vì khó khăn đến từ phía đồng minh. Ngày 19/11, Phó chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Anastas Ivanovich Mikoyan tới Cuba. Sau 11 ngày bàn thảo với Fidel, cuối cùng họ đã đạt được sự đồng ý của phía Cuba cho tháo dỡ các dàn tên lửa đã lắp đặt tại Cuba và chở về bằng máy bay, nhưng không chấp thuận cho các quan sát viên LHQ vào giám sát.  

Trước tình hình đó, Hoa Kỳ tuyên bố rút lời hứa không tấn công Cuba và tiến hành giám sát việc Liên Xô rút tên lửa về bằng không quân. Chỉ đến ngày cuối cùng trong chuyến công tác của Mikoyan, Cuba mới đồng ý cho quan sát viên LHQ vào giám sát tại chỗ, nhưng Hoa Kỳ vẫn không đưa lời hứa trước đây quay trở lại, tuy nhiên vẫn có những hành động hàm ý họ sẽ không tấn công Cuba. Hành động này của Cuba đã làm cho quan hệ Cuba – Liên Xô không còn được mỹ mãn như lúc ban đầu.

(Còn tiếp)

Phúc Lai (tổng hợp)

(Tuần Việt Nam)

-----

Tài liệu tham khảo:

“Lịch sử quan hệ ngoại giao từ 1919 đến nay” – Jean Baptiste Duroselle, những người dịch Lưu Đoàn Huynh, Quách Ngọc Bảo; bản xuất bản của Học viện Quan hệ quốc tế (nay là học viện Ngoại giao), 1994. Có tham khảo thêm bản pdf “Histoire diplomatique de 1919 à nos jours” Paris, Dalloz, 1974, 871 trang.

“Quan hệ Cuba – Hoa Kỳ” – BBC bản tiếng Anh (“US-Cuba relations”) 11/10/2012.

----

[1] Phong tỏa là cho tàu chiến ngăn các tàu hàng, thương mại… vào cảng Cuba.

[2] “The Monroe Doctrine” được đưa ra vào năm 1823 bởi tổng thống Hoa Kỳ James Monroe.

Tướng Vịnh: Muốn yên biển Đông, nội bộ phải ổn

“Chúng ta đang có những tranh chấp trên biển Đông, và chúng ta kiên trì giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hoà bình. Muốn giải quyết được những vấn đề đó thì nội bộ đất nước phải ổn định, Nhân dân phải tin vào Đảng, Chính phủ”, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh – Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chia sẻ với VietNamNet.

Hướng đến hoà bình, nhưng không phải hoà bình suông

Thưa Thượng tướng, để bắt đầu câu chuyện này, đầu tiên, tôi muốn được cùng ông hồi tưởng về những thế hệ đầu tiên của QĐND Việt Nam: đó là 34 người lính đã tuyên thệ trong khu rừng Trần Hưng Đạo, thành lập nên đội VNTTGPQ cách đây 70 năm, với xuất phát điểm là 3 tổ vũ trang, khí tài quân sự gần như là con số 0, thế hệ đó đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Sau 70 năm khi đất nước đã hoà bình, định hướng của QĐND Việt Nam có gì thay đổi?

Nguyễn Chí Vịnh, quốc phòng, quân đội, chủ quyền, biển Đông, 22/12
              Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh – Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ảnh: Lê Anh Dũng. 

Người VN ai cũng nhớ đến lời dạy của Bác: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Từ ngày đầu thành lập đến nay, QĐND Việt Nam luôn có nhiệm vụ xuyên suốt là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Ta đã trải qua những cuộc chiến tranh kéo dài qua nhiều thập kỷ, phải trả bằng máu để đạt được mục tiêu tối thượng: Độc lập, tự do.

Hôm nay, dù trong thời bình, nhưng sứ mệnh, nhiệm vụ của QĐND Việt Nam về cơ bản không đổi. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và sự nghiệp Quốc phòng – An ninh còn có những khía cạnh nặng nề hơn: vừa phải bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, ngăn chặn sự xâm hại đến lợi ích quốc gia dân tộc, nhưng cũng phải bảo vệ cho được nền hoà bình, để nhân dân không phải đổ máu, đất nước có thời gian và có cơ hội để phát triển.

Trong thời bình, nếu không quan tâm đến quốc phòng, nếu lơ là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, thì sẽ đến lúc đất nước bị xâm hại. Nếu không chăm lo bảo vệ hoà bình, thì sẽ đến lúc nền hoà bình của đất nước bị uy hiếp.

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn này được mở rộng hơn, đó là bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ sự ổn định chính trị - an ninh xã hội và con đường đi lên CNXH, bảo vệ hoà bình, bảo vệ môi trường thuận lợi để phát triển đất nước và bảo vệ nhân dân. Nhiệm vụ đó không nằm ngoài những lời dạy của Bác Hồ 70 năm trước. Nhưng nó được cụ thể hoá trong giai đoạn thời bình.

Khi chúng ta có một nền quốc phòng mạnh, điều đó sẽ khiến mọi kẻ có ý định xâm phạm lãnh thổ buộc phải tính toán trong từng hành động. Ta phải chứng minh được là ta sẵn sàng và có khả năng đánh thắng nếu bị xâm lược.

Trong xây dựng quân đội hiện nay, chúng ta luôn nói chính sách quốc phòng của Việt Nam là hoà bình và tự vệ. Nghĩa là hướng đến hoà bình, nhưng không phải hoà bình suông. Nếu lợi ích bị xâm hại, chúng ta có quyền tự vệ và phải tự vệ, và chúng ta sẽ dồn hết sức mình để giành thắng lợi, bảo vệ hoà bình.

Suốt 70 năm qua, Quân đội VN luôn phải đối mặt với rất nhiều thế lực xâm lược, thù địch, khiến ta không một phút nào lơ là tinh thần cảnh giác. Trong hoàn cảnh đất nước hoà bình như hiện nay, có nên lo lắng về bản lĩnh của quân đội? Và các ông – những người lính, sẽ làm gì để luôn tự hoàn thiện mình, khi mà không còn những nguy cơ trực diện như trong quá khứ thường trực bên cạnh?

Ta đã từng phải đối mặt với những cường quốc lớn nhất thế giới trong lịch sử. Việc đối mặt với những kẻ thù quá mạnh như thế trong quá khứ đã khiến chúng ta phải tự vượt qua chính mình, tự vươn lên, phải nỗ lực bằng mấy trăm phần trăm sức lực.

Trong thời bình, có thể không có những kẻ thù trực diện như thế nữa, nhưng thách thức và nguy cơ thì luôn tồn tại, có thể là những nguy cơ tiềm ẩn trong một giai đoạn dài và cả những nguy cơ đã bùng phát. Quan trọng là chúng ta phải ngăn chặn sự bùng phát ấy.

Chúng ta cần nhận thức cho đúng, cho đủ những thách thức, nguy cơ đang hoặc sẽ uy hiếp đến nền Quốc phòng – An ninh hay là sự bền vững của đất nước. Chẳng hạn, thách thức về chủ quyền lãnh thổ, thách thức gặp phải trên con đường phát triển đất nước, hay những thách thức phi truyền thống, khi xã hội ngày càng phát triển, hội nhập.

Tuy nhiên, với chức năng của quân đội, thì bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ đầu tiên, và là nhiệm vụ quan trọng nhất. Người lính, dù sống trong thời bình, vẫn luôn phải cảnh giác, để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng đó, vì nếu không có chủ quyền, không có lãnh thổ thì sẽ không có gì khác mà bảo vệ.

Chủ quyền lãnh thổ không những là chủ quyền bờ cõi quốc gia mà còn phải hiểu rộng ra thêm là chủ quyền về sự độc lập và tự chủ của đất nước. Việc giữ được chủ quyền, có được sự độc lập, tự chủ và khả năng tự lựa chọn và quyết định con đường đi của mình luôn là nhiệm vụ tối cao!

Muốn được tôn trọng, trước hết ta phải mạnh

Trong hoàn cảnh hiện tại, khi mà có những quốc gia láng giềng, trở nên lớn mạnh nhanh chóng, đang tìm cách áp đặt luật chơi với Việt Nam theo ý họ, quân đội Việt Nam sẽ phải ứng phó thế nào để thực hiện được chính sách hoà bình và tự vệ mà chúng ta đã lựa chọn?

Việt Nam luôn ủng hộ sự lớn mạnh của các quốc gia, kể cả sự lớn mạnh về kinh tế, chính trị, quốc phòng hay bất cứ lĩnh vực nào. Nhưng chúng ta có hai điều kiện:

Thứ nhất, sự lớn mạnh đó không uy hiếp, không đe doạ an ninh, hoà bình, ổn định của nước khác.

Thứ hai, sự lớn mạnh đó không ảnh hưởng đến hoà bình, ổn định của khu vực và trên thế giới. Cụ thể là, bất cứ quốc gia nào lớn mạnh đến đâu, cũng phải tôn trọng luật pháp quốc tế. Luật pháp quốc tế đặt ra là để ngăn chặn cách hành xử phi lý, dùng sức mạnh uy hiếp các nước khác.

Đồng thời họ phải tôn trọng, bình đẳng trong quan hệ với nước ta. Anh là nước lớn, tôi là nước nhỏ, nhưng anh phải tôn trọng tôi. Tôi với anh bình đẳng trên tư cách quốc gia. Cũng như ta vẫn thực hiện nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng với các quốc gia nhỏ hơn mình. Chỉ khi giải quyết các lợi ích quốc gia của mỗi bên trên cơ sở luật pháp quốc tế và tôn trọng lẫn nhau, các quốc gia mới có một mối quan hệ thực chất, tốt đẹp.

Nguyễn Chí Vịnh, quốc phòng, quân đội, chủ quyền, biển Đông, 22/12
Nước ta vẫn thực hiện nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng với các quốc gia nhỏ hơn mình- Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh.

 Hiện nay, có những động thái của một số quốc gia trong khu vực khiến chúng ta e ngại. Nhận thức được một cách kịp thời những nguy cơ đó và sớm giải quyết nó, bằng những biện pháp hoà bình, là chủ trương nhất quán của Việt Nam. Chúng ta đấu tranh về ngoại giao, đấu tranh về kinh tế, đấu tranh trên cơ sở luật pháp quốc tế và cả đấu tranh bằng các mối quan hệ quốc phòng, đi đến giảm thiểu và ngăn chặn khả năng xảy ra xung đột.

Nhưng với những quốc gia không tôn trọng luật pháp quốc tế, cũng như không thể hiện sự tôn trọng trong mối quan hệ giữa quốc gia với quốc gia, thì chiến lược hoà bình, tự vệ của chúng ta liệu có phải điều chỉnh?

Chúng ta không thể yêu cầu một quốc gia khác “Anh phải tôn trọng tôi đi”! Khi anh muốn người khác tôn trọng anh, anh phải mạnh trước đã.

Mà mạnh trước hết chính là sự ổn định chính trị - kinh tế - xã hội. Một đất nước phải ổn định kinh tế, chính trị, xã hội; một đất nước mà không có những vấn đề nghiêm trọng bên trong nó; một đất nước mà người dân được hưởng cuộc sống tốt đẹp và ngày càng giàu có thì đó sẽ là một đất nước mạnh. Đó cũng là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo sức mạnh quốc phòng – an ninh.

Chúng ta đang có những tranh chấp trên biển Đông, và chúng ta kiên trì giải quyết tranh chấp này bằng phương pháp hoà bình. Muốn giải quyết được những vấn đề đó thì nội bộ đất nước phải ổn định, Nhân dân phải tin vào Đảng, vào Chính phủ. Đó là cơ sở, là điều kiện cần. Còn giải quyết thế nào lại là chuyện khác và là một câu chuyện dài, cần nhiều thời gian và công sức.

Con người còn quan trọng hơn vũ khí

Vậy nếu chỉ nói về sự ổn định trong nội bộ đất nước, theo nhìn nhận của ông, tình hình nội bộ của đất nước ta có đạt được đến sự ổn định mà ông nói tới, để đảm bảo “điều kiện cần” cho sức mạnh của đất nước trong những tranh chấp lãnh thổ?

Phải thẳng thắn với nhau rằng, đất nước ta còn nhiều vấn đề đáng lo ngại như Nghị quyết TW4 đã nêu. Ngoài ra còn rất nhiều vấn đề khác, mà chúng ta sẽ phải cùng nhau giải quyết, tháo gỡ. Nhưng không một quốc gia nào không có những vấn đề trong nội bộ của nó.

Nguyễn Chí Vịnh, quốc phòng, quân đội, chủ quyền, biển Đông, 22/12
"Đừng chỉ nhìn thấy một vài hiện tượng mà đã vội vàng mất lòng tin"- Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh

Chúng ta cần nhìn những vấn đề này với sự khoan dung, bình tĩnh, tỉnh táo và từng bước giải quyết. Đừng chỉ nhìn thấy một vài hiện tượng mà đã vội vàng mất lòng tin.

Tôi đã nghe nhiều ý kiến lo lắng, bức xúc về cuộc đấu tranh của chúng ta trên biển Đông. Với vấn đề biển Đông, không chỉ riêng bạn, riêng tôi, mà tất cả người VN đều lo lắng, sốt ruột. Đó là nỗi lo chính đáng của người yêu nước.

Có thể có những người còn chưa hiểu, còn băn khoăn với cách hành xử của Đảng, Chính phủ trong vấn đề biển Đông. Nhưng ở đây, tôi muốn nói đến tính mục đích và kết quả của cuộc đấu tranh này.

Mục đích tối thượng của chúng ta là giữ gìn, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ bằng biện pháp hoà bình, không để xảy ra xung đột và duy trì quan hệ ổn định với nước láng giềng Trung Quốc. Vậy chúng ta có giữ được thềm lục địa 200 hải lý hay không? Có! Chúng ta có kiểm soát được nó hay không? Có! Chúng ta có giữ được những điểm đảo mà hiện chúng ta đóng quân ở Trường Sa hay không? Có! Và chúng ta có từ bỏ tuyên bố chủ quyền về Trường Sa – Hoàng Sa hay không? Tuyệt đối không!

Thậm chí chúng ta đang kiểm soát tốt hơn vùng thềm lục địa VN. Khu vực Đông Nam Á này đầy cướp biển. Nhưng vùng thềm lục địa Việt Nam lại không có cướp biển. Thậm chí chúng ta còn bắt những nhóm cướp biển từ vùng biển nước ngoài xâm hại vào để giao trả lại cho nước bạn.

Ngư dân của chúng ta vẫn bám ngư trường, các giàn khoan dầu khí đang hoạt động hết sức bình thường, các hoạt động thăm dò, nghiên cứu trên biển vẫn tiếp diễn. Chúng ta được các diễn đàn quốc tế ủng hộ một cách tự nhiên.

Ngoài biển như vậy, còn trong bờ thì sao? Những xung đột trên biển không kéo lùi sự phát triển của đất nước. Vậy sao lại nói chúng ta không kiểm soát được tình hình, khi mà chúng ta vừa giữ được quan hệ ổn định với Trung Quốc mà không hề lùi bước về mặt chủ quyền. Nhưng vẫn phải nói thêm rằng, nếu xảy ra xung đột, chúng ta cũng phải chứng minh được với cả thế giới và cả người láng giềng rằng những xung đột đó không phải do lỗi của chúng ta.

Nếu nhìn vào những kết quả chúng ta đạt được trong vấn đề biển Đông, ta thấy kế sách bảo vệ tổ quốc, phương pháp giải quyết vấn đề của Đảng và Nhà nước ta hoàn toàn hợp lý. Chính sự hợp lý đó tạo cho chúng ta niềm tin là chúng ta sẽ giải quyết được lần lượt từng vấn đề của mình.

Thưa Thượng tướng, trong văn kiện Đại hội XI, lần đầu tiên chúng ta đã nhắc đến chiến lược đối ngoại quốc phòng. Trong bối cảnh địa chính trị mới như thế này, khi thế giới đang có sự phân chia quyền lực quân sự một cách rất phức tạp, Việt Nam sẽ tham gia thế nào vào quá trình phân chia này và làm thế nào để định vị mình trên bản đồ quân sự thế giới?

Những phát triển, biến động của quốc phòng trong khu vực và trên thế giới những năm qua rất đáng chú ý, thậm chí đáng ngại. Điều khiến tôi cảm thấy đáng ngại nhất là cách hành xử của một số nước đang quay về kiểu “ngoại giao pháo hạm”, là “chính trị cường quyền” của mấy chục năm về trước. Bên cạnh đó là dấu hiệu của một cuộc chạy đua vũ trang mới, khi mà có một số nước đang phát triển quốc phòng một cách bất thường. Đây là một xu thế mới xuất hiện và cần được ngăn chặn.

Những nước muốn áp đặt đang mở rộng quan hệ để can dự mạnh hơn vào các khu vực trên thế giới. Những nước còn lại, trong đó có chúng ta thì lại muốn xây dựng những luật chơi, những định chế trong can dự quân sự để đảm bảo công bằng, không xảy ra xung đột và tuân thủ luật pháp quốc tế.

Vì thế hoạt động đối ngoại quốc phòng song phương và đa phương của các quốc gia đang diễn ra hết sức nhộn nhịp. Nhiều nước quan điểm rằng muốn xây dựng đối tác chiến lược, đối tác toàn diện mà không có hợp tác quốc phòng – không có lòng tin thì không bao giờ có thể trở thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện.

Với các vấn đề đối ngoại quốc phòng của thế giới và khu vực như vậy, chúng ta phải lựa chọn – hoặc là đứng ngoài cuộc, hoặc là phải cùng tham gia để giành lấy quyền lợi, vị thế chính đáng của chúng ta phải có trong khu vực. Nhưng tham gia như thế nào cũng là một vấn đề quan trọng không kém! Và chúng ta đã lựa chọn một cách đi mà tôi cho là rất đúng đắn. Khi tham gia cuộc chơi này, chúng ta luôn xác định cái gì có lợi cho đất nước thì chúng ta làm. Và cái lợi này cũng phải đóng góp cho hoà bình ổn định của khu vực và thế giới.

Làm thế nào một nước nhỏ như VN có thể đạt được hai mục tiêu đó: quan trọng nhất là anh phải giữ cho bằng được độc lập tự chủ trong quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ quốc tế về quốc phòng nói riêng. Độc lập tự chủ ấy quyết định việc quan hệ ấy có đem lại lợi ích cho đất nước hay không, có phương hại đến nước khác hay không.

Trong những năm qua, dù những can dự quốc phòng trong khu vực, đặc biệt là các nước lớn rất mạnh mẽ, nhưng chúng ta không hề bị cuốn vào cuộc chơi đó. Chúng ta đứng bên cạnh, tự giữ lấy lợi ích quốc gia dân tộc, đóng góp những gì có thể vào hoà bình trong khu vực và thế giới.

Có ý kiến lo ngại rằng, việc Việt Nam không liên minh quân sự với bất cứ quốc gia nào - như đường lối đối ngoại quốc phòng của ta từ trước đến nay - sẽ khiến ta trở nên yếu thế và không có đồng minh nếu đất nước rơi vào hoàn cảnh có những xung đột vũ trang với quốc gia khác?

Chúng ta cần phải hiểu nội hàm của liên minh quân sự thực chất là gì? Liên minh quân sự là liên minh mà bao giờ cũng có đối tượng rất cụ thể, liên minh đó nhất định phải đối phó, phải ngăn chặn hoặc chống lại một ai đấy? Chúng ta không liên minh với bất cứ nước nào để chống lại một nước thứ ba hoặc nhóm nước thứ ba, bất luận là ai.

Chúng ta tin vào hợp tác quốc tế, tin vào việc những nỗ lực đóng góp cho sự ổn định khu vực sẽ giúp chúng ta tranh thủ được sự ủng hộ của dư luận thế giới.

Nhìn vào sự ủng hộ mà chúng ta nhận được từ hai cuộc kháng chiến, rồi ngay cả trong vấn đề biển Đông gần đây, rõ ràng niềm tin đó là hoàn toàn có cơ sở, dù trong thời đại hiện nay, lợi ích quốc gia dân tộc của mỗi nước được đưa lên rất cao. Nếu anh chấp nhận cách hành xử sai trái, phi lý, anh chịu khuất phục trước sức mạnh và gây sức ép đối với một quốc gia nào đó, thì hôm nay là tôi, còn ngày mai có thể sẽ đến lượt anh. Thiện chí của chúng ta sẽ được bạn bè thế giới đồng tình ủng hộ.

Trước áp lực của việc khu vực và thế giới dường như đang bước vào một cuộc chạy đua vũ trang mới, Việt Nam sẽ đưa ra giải pháp nào để phát triển quân đội lớn mạnh, hoàn thành nhiệm vụ Quốc phòng – An ninh trong bối cảnh kinh tế đất nước đang khó khăn như hiện nay?

Một số người khi thấy chúng ta mua tàu ngầm và trang bị thêm những vũ khí hiện đại đã hỏi tôi quân đội ta đã hiện đại hay chưa? Tôi đã trả lời, so với chính chúng ta trước đây thì đó là bước tiến lớn, nhưng so với mặt bằng chung thế giới cũng như so với nhu cầu chung của chúng ta thì còn rất khiêm tốn.

Nhưng chúng ta không dựa vào vũ khí làm yếu tố căn bản để bảo vệ Tổ quốc. Yếu tố mà chúng ta đề cao nhất là con người. Chúng ta tập trung vào sức mạnh toàn dân, với nội hàm là lòng yêu nước và ý thức bảo vệ tổ quốc. Không có yếu tố đó, sẽ không có quân đội nào đánh thắng.

Chúng ta dựa vào việc xây dựng tư tưởng chính trị của CBCS trong toàn quân, bởi một người lính mà không có lý tưởng chính trị sẽ là một người lính tồi. Việc giáo dục CBCS là điều mà Bộ Quốc phòng đặc biệt quan tâm, cần để những CBCS trẻ hiểu đúng, hiểu đủ về tinh thần yêu nước, bảo vệ tổ quốc và tính tất yếu trong sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

Chúng ta cũng không thể quên việc đào tạo CBCS trong thời đại bùng nổ khoa học, CNTT, để họ có trình độ ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, ngang tầm với sự phát triển của xã hội và thế giới; để nhận thức đầy đủ các vấn đề của xã hội xung quanh nhiệm vụ quốc phòng; để sử dụng nhuần nhuyễn các thành quả kỹ thuật của khoa học quân sự khi vũ khí được trang bị mỗi ngày một hiện đại.

Nhiều người vẫn cứ nghĩ rằng quân đội hiện đại là quân đội có vũ khí trang bị hiện đại. Nhưng tôi lại nghĩ con người hiện đại mới quyết định chất lượng của quân đội đó. Khi có chiến tranh, chúng ta có thể mua vũ khí, nhưng nếu lúc đó không có những con người có thể sử dụng được nó thì đó sẽ là vấn đề.

Có bao giờ ông hình dung quân đội sẽ đóng góp thế nào cho việc xây dựng nguồn lực con người cho đất nước, kể cả cho môi trường dân sự trong giai đoạn này?

Đó luôn là chủ trương của QĐND Việt Nam trong suốt quá trình trưởng thành và phát triển.

Trước hết có thể khẳng định rằng, các CBCS trong quân đội vốn đã được đào tạo bồi dưỡng để trở thành người tốt. Họ được dạy về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, để khi rời quân ngũ, họ trở thành những công dân tốt và có đủ khả năng tiếp thu kiến thức mới trong đoạn đời tiếp theo của mình. Họ cũng là những người có ý thức kỷ luật rất tốt khi đã rời khỏi quân đội.

Thế nên vừa rồi khi Quốc hội thông qua Luật Sĩ quan quân đội nhân dân sửa đổi và Luật Nghĩa vụ quân sự, chúng ta cũng cân nhắc rất kỹ về thời gian tại ngũ trong quân đội từ 18 tăng lên 24 tháng, để đảm bảo được những phẩm chất của môi trường quân đội sẽ vẫn được duy trì khi họ rời khỏi quân ngũ.

Chúng ta cũng có một lực lượng dự bị động viên rất lớn, được tổ chức bồi dưỡng về kiến thức chính trị, quân sự, quốc phòng theo định kỳ. Chúng ta còn có lực lượng dân quân tự vệ, những người là nòng cốt để giữ gìn ổn định an ninh của từng địa phương, đảm bảo nền tảng của sự phát triển.

Cái vấn đề của chúng ta là chủ trương thì có, nhưng việc đầu tư vào phát triển nguồn lực thì mỗi nơi một khác. Nếu chúng ta quan tâm đúng mức, đồng bộ… thì sẽ đóng góp rất nhiều. Đó cũng là điều mà tôi trăn trở nhiều năm nay.

Quân đội không thể trở thành gánh nặng cho ngân sách

Dù nói rằng con người là yếu tố quyết định, nhưng không thể phủ nhận vũ khí, khí tài là một phần sức mạnh không thể thiếu của Quốc phòng. Dù muốn dù không, chúng ta không thể không dành những khoản chi tiêu lớn cho nó. Chỉ riêng việc mua 6 tàu ngầm kilo của Nga trong mấy năm qua đã tiêu tốn 2,1 tỷ USD, chưa kể chi phí bảo trì hàng năm và chi phí xây dựng nơi trú ẩn cho đội tàu ngầm này. Việc đầu tư cho quốc phòng liệu có trở thành gánh nặng cho ngân sách quốc gia? Bên cạnh việc mua những thứ tối thiểu cần, thì việc phát triển công nghiệp quốc phòng trong nước có phải là mục tiêu lâu dài của quân đội trong giai đoạn phát triển sắp tới không thưa Thượng tướng?

Hiện đại hoá quân đội là mục tiêu lâu dài và tất yếu, bắt buộc để đáp ứng tình hình mới.

Và như tôi đã nói từ lúc đầu, hiện đại hoá quân đội là hiện đại hoá cả con người, cả trang bị, khoa học, cả nghệ thuật quân sự. Cái mà quân đội Việt Nam đang hướng tới là một lực lượng quân đội tinh gọn, nhưng chất lượng nhân lực cao, đủ sức bảo vệ Tổ quốc.

Quân đội phải mạnh nhưng không để trở thành gánh nặng cho ngân sách đất nước. Những gì chúng ta mua là những thứ tối thiểu cần để xây dựng quân đội, đảm bảo khả năng tự vệ cần thiết.

Từ khá lâu rồi, người Mỹ đã tiến hành tư nhân hoá quốc phòng trong lĩnh vực sản xuất vũ khí, khí tài quân sự. Nó góp phần tăng đáng kể nguồn thu cho công nghiệp nội địa Mỹ nói chung và công nghiệp quốc phòng nói riêng, cũng là một cách giảm bớt gánh nặng ngân sách cho quốc phòng. Liệu chúng ta tính đến hướng đi đó?

Công nghiệp quốc phòng Việt Nam còn rất hạn chế, vì chúng ta là một nước còn nghèo, KHCN chưa phát triển. Nhưng mặt khác, mô hình ở các nước tư bản lại không phù hợp để áp dụng ở VN vì chúng ta không đi buôn vũ khí. Nếu có sản xuất, vũ khí đó cũng chỉ đảm bảo đáp ứng cho mình ta thôi. Nên việc phát triển công nghiệp quốc phòng, tư nhân hoá lĩnh vực này là việc trong tương lai gần chưa khả thi ở Việt Nam.

Nhưng QĐVN cũng có một điểm rất đặc sắc là những bộ phận kinh tế quốc phòng tham gia vào những lĩnh vực lưỡng dụng trong đời sống xã hội. Chúng ta có 23 đoàn kinh tế QP đóng ở những vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Quân đội cũng có những tập đoàn kinh tế rất mạnh vừa có nhiệm vụ đóng góp vào phát triển kinh tế quốc dân, đồng thời thực hiện nhiệm vụ quốc phòng như Tập đoàn Viettel, Tân Cảng Tp.HCM…

Họ thực hiện nghiêm các quy định của luật pháp nhà nước, chịu chung những rủi ro của kinh tế thị trường, không có bất cứ đặc ân hay ngoại lệ nào. Tôi cho rằng tính kỷ luật của quân đội đã giúp họ làm nên thành công. Tất cả những bộ phận kinh tế quốc phòng này khi thời bình họ làm kinh tế, đóng góp cho ngân sách, nhưng vẫn không quên nhiệm vụ của một người lính, sẵn sàng bất cứ lúc nào cho nhiệm vụ thời chiến.

Mọi quốc gia đều hiểu mối liên hệ mật thiết giữa an ninh – quốc phòng với sự ổn định của kinh tế đất nước. Với điều kiện cụ thể của Việt Nam, quốc phòng đã đủ sức trở thành “bảo hiểm” cho sự ổn định, hay chưa?

Nói đúng ra, thì quân đội là đảm bảo sự bền vững của đất nước về mặt vĩ mô, bền vững về chủ quyền, bền vững về hoà bình. Chính sự bền vững ấy giúp đất nước có cơ hội đặt ra những kế hoạch về kinh tế - xã hội phù hợp với sự phát triển của đất nước, không bị động bởi những tác động từ bên ngoài.

Việc bảo vệ môi trường ổn định cho sự phát triển là nhiệm vụ của quân đội. Và nếu không làm được việc đó, nghĩa là quân đội chưa hoàn thành nhiệm vụ. Đến giờ tất cả mọi người đều nói quân đội ta hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Khi xưa, chúng ta huy động toàn dân đánh giặc, toàn quốc kháng chiến. Giả định nếu bây giờ đất nước có biến cố, mà xấu nhất là tình huống chiến tranh, ông hình dung chúng ta sẽ huy động nguồn lực trong điều kiện kinh tế thị trường như thế nào?

Chắc chắn khi mà đất nước bị uy hiếp, toàn dân sẽ đóng góp cho quân đội trong khả năng của mình. Không chỉ trong thời chiến, ngay cả trong thời bình, đến bây giờ nhân dân vẫn rất chăm lo xây dựng quân đội lớn mạnh, càng ngày càng tiến lên hiện đại. Đơn cử là hầu như không có nước nào trên thế giới mà được dân ủng hộ như ở Việt Nam trong việc mua sắm vũ khí, khí tài. Người dân nước khác muốn Chính phủ mình dùng tiền đó để lo cho an sinh xã hội. Nhưng người Việt Nam thì ngược lại. Dù họ biết, tiền đó là tiền ngân sách, và nếu không dùng vào việc mua sắm vũ khí, nó sẽ dùng để chăm lo cho đời sống của chính họ.

Đã có thời, chúng ta có được lòng tin tuyệt đối của nhân dân. Những câu chuyện về tình quân dân như cá với nước là những câu chuyện đã được kể mãi cho đến giờ. Còn hiện nay, có người nói lòng tin đó đang dần bị mai một khi mà cơ chế của chúng ta đang ngày càng lộ ra nhiều bất cập. Vậy nếu đối mặt với những nguy cơ trong tương lai, người lính phải làm gì để duy trì, giữ gìn được thứ lòng tin kỳ diệu ấy của nhân dân với mình?

Tôi có niềm tin rằng lòng tin của dân với Đảng, với quân đội vẫn giữ nguyên vẹn như những ngày đầu. Nhưng nó thể hiện ở những dạng thức khác nhau, do bối cảnh lịch sử khác nhau.

Những lúc khó khăn nhất, sự gắn kết sẽ thể hiện một cách rõ rệt nhất, sâu sắc nhất. Và lúc đó, phẩm chất của con người nó phát triển mạnh mẽ nhất. Không phải vô cớ mà ta nói thời đại chống Mỹ, thời đại Hồ Chí Minh là đỉnh cao của lịch sử Việt Nam.

Nhưng nói vậy không có nghĩa là không còn khó khăn thì không còn tình nghĩa. Giờ không còn là thời mà chiến sĩ và nhân dân cùng ăn, cùng ở, cùng đánh giặc, sự hiểu biết của người dân với quân đội không còn như xưa, nhưng mỗi người cán bộ chiến sĩ khi được giáo dục rồi đưa vào môi trường công tác và chiến đấu đều đảm bảo rằng tình cảm của người chiến sĩ với nhân dân vẫn không hề thay đổi. Chưa cần nói đến chiến tranh, chỉ khi khó khăn thôi, phẩm chất đó đã được thể hiện rất rõ.

Ngày hôm qua, trong vụ sập hầm thuỷ điện ở Lâm Đồng, những người đào hầm, chui vào giải cứu được công nhân là bộ đội công binh. Năm 2009, Hà Tĩnh gặp bão lũ lớn. Nước từ thượng nguồn ồ ạt đổ về, kéo theo hàng nghìn m3 gỗ khiến công trình Thuỷ điện Hố Hô gặp sự cố không thể mở được cống thoát lũ do bị tắc cống, nguy cơ vỡ đập cận kề, có thể khiến mấy huyện phía dưới sẽ bị xoá trắng. Trước nguy cơ vỡ đập, một đại đội công binh đã lao xuống đập để vớt gỗ, vớt rác, mở được cửa đập, cứu cho hàng vạn người dân không bị mất nhà mất cửa, đe doạ tính mạng.

Tôi đã được chứng kiến những người lính công binh âm thầm làm nhiệm vụ của mình, không quản ngại nguy hiểm đến tính mạng. Những điều đó và còn rất nhiều ví dụ khác nữa khiến tôi tin rằng mối quan hệ quân dân trong thời bình có thể không có nhiều cơ hội để thể hiện một cách rõ ràng. Rồi ngay cả việc tuyên truyền của chúng ta cũng chưa thực đầy đủ để tăng mối gắn kết ấy, nhưng chắc chắn rằng, khi dân cần quân đội, quân đội chưa bao giờ từ chối bất cứ một nhiệm vụ nào, dù khó khăn đến mấy. Kể cả hi sinh.

Giữ gìn lòng tin của nhân dân dành cho quân đội như trong quá khứ, như những gì mà chúng ta đã luôn nói về thế hệ Bộ đội cụ Hồ có phải là mục tiêu của tất cả những người lính QĐND Việt Nam?

Chúng ta có lòng tin mạnh mẽ về phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, nhưng chúng ta không được chủ quan, vì không bao giờ được phép nghĩ rằng dân đã tin thì sẽ tin mãi. Nếu không nhận thức được sự thay đổi của xã hội, yêu cầu mới của thời đại, không luôn luôn tự rèn luyện mình thì việc mất niềm tin sẽ rất dễ xảy ra. Không thoả mãn với mình là điều mà những người lính chúng tôi sẽ phải luôn tự nhắc nhở.

Nhưng tôi tin rằng tuyệt đại đa số quân nhân, ý chí chung của quân đội là bảo vệ tổ quốc, phục vụ nhân dân, giữ gìn niềm tin và tình yêu của người dân với bộ đội cụ Hồ.

Xin cảm ơn Thượng tướng.

Lan Hương (thực hiện)

(Tuần Việt Nam)

Tuấn Khanh - Những bài hát Giáng sinh chưa bao giờ cũ

Kể từ sau khi bài Silent Night ra đời (1818), bài hát được ghi nhận là tác phẩm lâu đời nhất viết cho lễ Giáng sinh, thì đến nay đã có vô số những bài hát được sáng tác dành cho dịp lễ cuối năm này. Mỗi dịp Giáng sinh về, con người ở khắp nơi trên thế giới lại có dịp ngẫu hứng thêm biết bao những giai điệu mới. Thế nhưng lạ thay, vẫn có những bài hát đặc biệt luôn luôn vang lên, lặp lại nhiều lần mà không thấy chán trong trái tim mỗi người. Những bài hát xa xưa mà không bao giờ cũ.

IMG_1274Có những người đã đi qua hàng chục mùa Giáng sinh, nhưng mỗi năm, khi bài Jingle Bells cất lên, mọi thứ trong đời như được nhấn phím f5 trên máy tính, lại tươi mới và xao xuyến như thuở ban đầu. Nhà phê bình âm nhạc Rachel Pomerance Berl, khi viết trên tờ Huffington Post đã đặt ra câu đố rằng “những bài hát nào có sức mạnh hơn cả những bài hát?”, câu trả lời nhanh, đó là nhạc Giáng Sinh. Đôi khi người ta không còn lắng nghe âm nhạc trong mùa Giáng Sinh bằng sự thưởng thức thông thường, không còn phân tích về logic đời sống của bài hát đó nữa, mà chỉ còn bí mật tìm những người đồng điệu với mình trong một khoảnh khắc. Âm nhạc như một thông báo về những ngày rất quen mà trái tim cần đập chậm lại và thêm những nụ cười. Sức quyến rũ kỳ lạ của nhạc Giáng sinh là vậy.

Trong lời giới thiệu mở đầu cho chương trình nhạc Giáng sinh năm ngoái, Jonathan Henley, người cầm trịch của đài phát thanh Road Signs (Mỹ) với giờ âm nhạc có tên WEND trên băng tần 106.5 FM đã nói rằng “chào mừng con người đang bước vào khoảng thời gian của lý lẽ không tồn tại”. Lúc nay, chúng ta chỉ cần lắng nghe âm nhạc như để tự nhắc mình là ai, ý nghĩa của cuộc sống này là gì. Nhiều cuộc điện thoại sau lời giới thiệu đó gọi vào, gửi tặng nhạc đến người thân, tiết lộ cho biết rằng ngoài những người Công Giáo, còn có người Do Thái hay Phật Giáo… Đỉnh điểm của Giáng Sinh là nơi tập hợp mọi niềm tin tinh thần, là lòng nhân ái và chia sẻ, nên con người không biên giới đã cùng gặp nhau nơi đó.

Sẽ chẳng còn ai quan tâm đến việc bài Jingle Bells chưa bao giờ thật sự là một bài nhạc dành cho Giáng sinh cả. Thực tế là bài hát này được nhạc sĩ James Lord Pierpont ở Mấchusetts viết cho dịp lễ Tạ Ơn. Và cũng không ai quan tâm rằng bài Rudolph The Red-Nosed Reindeer (ở Việt Nam vẫn hay dịch là Ông Rudolph mũi đỏ) lại là một bài Giáng Sinh được viết nên bởi một nhạc sĩ Do Thái Giáo, tên là Johnny Marks. Giáng sinh làm nên niềm vui của những người có đạo, nhưng âm nhạc thì nối dài vòng tay làm nên một mùa Giáng sinh an lành cho cả thế giới. Âm nhạc phá bỏ mọi ranh giới tín ngưỡng, gợi lại những giấc mơ đẹp và sẽ không bao giờ cũ trong trái tim con người.

Khác với những thể loại âm nhạc khác, nhạc Giáng sinh có giá trị như một bước nhảy alpha, vượt thời gian trong khoa học vũ trụ. Con người có thể đột ngột chuyển vùng tồn tại của mình, quay trở lại những kỷ niệm vui buồn trong đời mình đã qua khi nghe thấy những giai điệu này. Không có một liều thuốc estacy nào đủ mạnh để tạo được những cảm giác khi ngày cuối năm đến, tiếng chuông nhà thờ và âm nhạc vang lên: con người trở nên mộng mơ hơn trong thực tại, và thanh bình ập đến trong trái tim mình.

Nhạc Giáng sinh gần với người Việt hơn, kể từ khi có một trào lưu Việt hoá dòng nhạc này. Sớm nhất, được biết là hai ca khúc Hang Bê-Lem của nhạc sư Hải Linh và Cao Cung Lên của linh mục Hoài Đức. Cả hai bài này đều được ghi nhận cùng xuất hiện vào năm 1945. Đó cũng là giai đoạn của tân nhạc tiền nội chiến Việt Nam phát triển mạnh mẽ nhất. Trước đó, các bài hát Giáng Sinh phần lớn đều được hát bằng tiếng Latin hay tiếng Pháp nên ít người hát được. Vì vậy việc viết và dịch lời Việt bùng nổ. Đến thập niên 60-70 thì những bài tình ca Việt nhân dịp Giáng Sinh đã xuất hiện rất nhiều. Người ta bắt đầu ngâm nga những bài nhạc Việt có hình ảnh Giáng Sinh, xao xuyến đem vào ký ức thế hệ mình. Trong đó phải kể đến Bài Thánh Ca Buồn của Nguyễn Vũ, Hai Mùa Noel của Đài Phương Trang, Con Quỳ Lạy Chúa Trên Trời của Phạm Duy… So với nhiều nước ở Đông Nam Á, Việt Nam là một quốc gia hết sức giàu có giai điệu và niềm vui trong mùa Giáng Sinh. Thật thú vị khi nhiều nơi đang hát vang lời ca tràn đầy tuyết lạnh, nhưng thực tế thì người ta có thể toát mồ hôi với ngày nhiệt đới.

Trong khi những bài hát mới về Giáng Sinh có thể bị lãng quên nhanh, thì ngược lại những bài hát truyền thống thì luôn được đợi chờ trong trí nhớ. George Michael, một trong những ca sĩ thời hiện đại, hiếm hoi được ghi nhớ với bài Last Christmas trong danh sách những bài hát cùng vang lên trong mùa Giáng Sinh, đã tóm tắt “những bài hát vui tươi nhưng thầm lặng nhắc về hạnh phúc đã mất. Và ngay khi bạn từng khổ đau trong quá khứ, thì giờ đây nhớ lại, đó cũng là một cảm giác hạnh phúc của đời người, mà hạnh phúc thì không bao giờ cũ”.

Tuấn Khanh

(Blog Tuấn Khanh)

Thư ngỏ gởi bà Nguyễn Thụy Nga (tức Nguyễn Thụy Vân, vợ bé ông Lê Duẩn)

VNTB: Chúng tôi nhận được lá thư ngỏ dưới đây do một cách mạng lão thành ở Đà Lạt gửi đến, phản bác bức thư đăng tải công khai gần đây của bà Nguyễn Thụy Nga chỉ trích nặng nề đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôn trọng sự thật khách quan và bảo đảm tính công bằng về các sự kiện lịch sử, BBT VNTB xin đăng nguyên văn lá thư ngỏ của tác giả Hàn Vĩnh Diệp.

 

-------------------------

Hàn Vĩnh Diệp

Đơn kiến nghị của bà gởi các cán bộ lãnh đạo Đảng - Nhà nước - Quốc hội vêề những vấn đề lý lịch Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp; nhưng không biết từ nguồn nào mà được phát tán rộng rãi trên các trang mạng, tư liệu truyền tay v.v… Nhiều công dân là người hưu trí, dân thường, học sinh sinh viên … mà tôi đã được tiếp xúc, trao đổi đều rất bất bình, chê trách bà đã viết những nội dung ấy (dựa trên những lời thầm thì riêng tư của ông Lê Duẩn) nhằm bôi xấu thần tượng Võ Nguyên Giáp trong lòng nhân dân ta và những người có lương tri trên thế giới. Chúng tôi đã đọc vài lần bài viết của bà, xin được có mấy cảm nghĩ.

1. Trước hết, xin lỗi bà, chúng tôi đã dùng từ vợ bé vì trong dân gian gọi vợ bé, vợ lẽ là những người vợ không phải là vợ chính thất; vả lại, trong dư luận thì không biết chồng bà có bao nhiêu người vợ nữa, liệu bà đã phải là vợ hai chưa? (Trong đám tang ông Lê Duẩn, mọi người đều thấy có mấy bà đội mũ tang sau bà chính thất!). Cho nên, cách gọi như vậy chắc cũng không có gì là không phải; mong bà bỏ quá cho.

2. Những nội dung bà đề cập đến trong bài viết đều hoàn toàn không có gì mới (trừ một chi tiết sẽ nói sau). Những luận điệu này đều là của những kẻ xấu bụng, những người ganh ghét với uy danh, tài trí, đức độ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (như Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh, Trần Quỳnh, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn Thanh Bình, Đặng Đình Loan, Nguyễn Bắc Son v.v…) tung ra.

Lợi dụng diễn đàn hội nghị TWĐ 12 khóa 6, họ đã tung ra bản báo cáo tuyệt mật để vu khống trắng trợn và kết tội Đại tướng TTL (báo cáo tuyệt mật này tuy không được BCH TW phê duyệt nhưng họ vẫn cho lưu hành đến cấp Tỉnh ủy và tương đương). Đại tướng TTL và nhiều tướng lĩnh, cán bộ cao cấp đã phản bác tất cả những điều vu khống trên (trong bài viết của bà đã sao chép nguyên văn bài báo cáo tuyệt mật này) và yêu cầu TWĐ điều tra, làm rõ vụ việc, công khai đưa ra trước đại hội VII để đại hội khẳng định đúng, sai; nếu Đại tướng TTL không có những điều vu khống nhơ nhớp đó thì phải truy tội những người đã cố tình đặt điều, lợi dụng quyền lực phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, Nhà nước … Bị đẩy vào thế cùng, họ bịa ra vụ án chính trị “Năm Châu - Sáu Sứ” vu khống Đại tướng TTL và mội số tướng lĩnh, cán bộ cao cấp tội âm mưu lật đổ. Vụ việc đã được Ban chuyên án, đứng đầu là tướng Võ Viết Thanh (Thứ trưởng bộ công an) làm rõ là hoàn toàn bịa đặt, vu khống hèn mạt. Đại hội VII Nguyễn Văn Linh tảng lờ không giải quyết, đùn đẩy cho các đại hội sau. Chính thái độ cố tình vô trách nhiệm của các Đại hội Đảng 7, 8 … và những người đứng đầu Đảng thời bấy giờ đã tạo cơ hội cho bọn có lòng dạ đen tối, nham hiểm trên và tay sai của chúng tiếp tục làm cái việc nhơ bẩn bôi bác thanh danh Đại tướng TTL.

Còn cái chi tiết chúng tôi coi là mới của bà đưa ra trong hàng đống vụ việc vu khống của chúng là lời nói của cậu con út của bà mà bà dùng làm căn cứ để kết tội Đại tướng TTL đã “cướp công”  của chồng bà về mệnh lệnh nổi tiếng “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa” trong chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Một đứa trẻ con chẳng hiểu mô tê ất giáp gì nghe được lõm bõm chuyện người lớn (cứ cho là nó đã được nghe các cụ bàn chuyện!), sau bao nhiêu năm thuật lại, người trí não bình thường ai mà tin được lời nó nói! Một khía cạnh khác, tòa biệt thự ông Lê Duẩn ở đâu nghèo nàn đến nỗi phòng tiếp khách đồng thời là phòng ngủ? Ông Lê Duẩn, một chính trị gia tầm cỡ, sao mất cảnh giác đến mức khi bàn chuyện quốc gia đại sự tuyệt mật lại để người nhà nghe?

Sự kiện này thật ra đã diễn tiến như sau: Sáng ngày 31/3/1975 Bộ chính trị họp mở rộng bàn về đòn chiến lược thứ ba, đòn cuối cùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Đại tướng TTL thay mặt Tổng quân ủy - bộ Tổng tư lệnh báo cáo tình hình và phương hướng, sách lược bước tiếp theo. Đại tướng nhấn mạnh: “Thời cơ lớn đã xuất hiện … Đánh một trận là giành thắng lợi. (…) Phương châm phải bám chắc là Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng.” Sau khi hội nghị thảo luận và nhất trí hoàn toàn báo cáo của Tổng quân ủy, ông Lê Duẩn đã điện cho các chiến trường quyết định của Bộ chính trị. Trong bức điện, ông đặc biệt nhấn mạnh phương châm hành động “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ.” Ngày 07/4/1975 Đại tướng TTL ra mệnh lệnh! “Thần tốc, thần tốc hơn nữa - Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng.” Chỉ thị của Bộ chính trị do ông Lê Duẩn ký và mệnh lệnh chiến đấu do Tổng tư lệnh ký, đó là điều đương nhiên, sao có chuyện tranh giành?

Theo kế hoạch tiến đánh Sàigòn, các cánh quân sẽ đồng loạt nổ súng vào 5 giờ 30 sáng 30/4/1975. Nhưng do diễn biến của tình hình, tướng Lê Trọng Tấn tư lệnh cánh quân phía Đông xin được nổ súng trước, 18 giờ ngày 29/4/1975. Nửa đêm, Đại tướng TTL và cục trưởng cục tác chiến Lê Hữu Đức đến nhà ông Lê Duẩn đề nghị chuẩn y cho cánh quân phía đông nổ súng trước. Ông Lê Duẩn rất tán thành. Theo hồi ký của Đại tướng TTL (và có sự khẳng định đúng của tướng Lê Hữu Đức - Hồi ký), Đại tướng TTL hỏi: “Điện ký tên Anh chứ ?” Ông Lê Duẩn trả lời: “Không! Anh là Tổng tư lệnh, ký tên anh”. Sau đó, ông nói thêm: “ Ký thêm tên tôi cũng được, hoặc nói rõ đã trao đổi với anh Ba và anh Ba nhất trí”. Về cơ quan, Đại tướng TTL điện trả lời ngay cho tướng Lê Trọng Tấn đồng điện cho ông Văn Tiến Dũng. Trên cương vị Tổng tư lệnh chỉ huy toàn bộ cuộc chiến, Đại tướng TTL rất quyết đoán; nhưng với ý thức tôn trọng tổng bí thư, nên đã tranh thủ ý kiến trước khi ra lệnh. Việc làm như vậy là hết sức đáng kính phục, sao bà lại nghe đứa con nít để vu vạ cho Đại tướng TTL “cướp công”.

3. Đọc văn bản này của bà, chúng tôi có cảm nghĩ: hình như người ta viết rồi đưa cho bà ký tên hoặc bà viết theo gợi ý của người ta (!?) Đọc hồi ký của bà (Xuân Ba ghi - thể hiện), chúng tôi thấy cuộc đời tư của bà thật éo le, đáng thương. Thời gian bà được sống gần ông Lê Duẩn (từ 1956 về sau) không nhiều, do sự đố kỵ của các con bà lớn; ông Lê Duẩn không giải quyết được sự xô xát trong gia đình để bảo vệ bà. Vì vậy, tuy hòa bình, có điều kiện sum họp với chồng con, bà vẫn phải sống xa cách chồng con. Ông bà đâu có nhiều thì giờ để trò chuyện riêng tư, để chồng bà tiết lộ những bí mật về quan hệ trong nội bộ Đảng, Nhà nước … nói chung và đối với các cá nhân (như Bác Hồ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Trường Chinh …) nói riêng. Còn tư liệu riêng của ông Lê Duẩn thì chắc các con bà lớn giữ chứ bà làm sao có được?

Giá như, trước khi viết hoặc ký vào văn bản trên, bà đã tham khảo các hồi ký chính trị của các tướng lĩnh như Trần Văn Trà, Hoàng Minh Thảo, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Lê Hữu Đức, …, của Hoàng Tùng, Hoàng Đạo Thúy …, các bài phản bác Trần Quỳnh của Nguyễn Trần Thiết, Trần Nhật Độ, Phạm Chí Dũng… thì chắc bà không cho lưu hành văn bản trên.

4. Bản “đơn kiến nghị” của bà, một lần nữa đã làm suy giảm uy tín của ông Lê Duẩn trong công luận xã hội. Chắc bà còn nhớ, khoảng năm 1984, ông Lê Duẩn đã chỉ đạo, hướng dẫn nhà báo Thép Mới viết ký sự “Thời đánh Mỹ”, (đăng nhiều kỳ trên báo Nhân dân) nhằm tụng ca công lao vĩ đại của ông Lê Duẩn, linh hồn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước! Bài báo đăng được vài kỳ, gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của công luận cả nước; cho nên mới đăng được vài kỳ thì báo Nhân Dân không dám đăng tiếp! Cũng vào thời gian này, ông Lê Duẩn đã vào Sàigòn tổ chức nói chuyện trực tiếp với cán bộ cao cấp chính trị, quân sự các tỉnh phía Nam. Kết quả hoàn toàn ngược lại, nếu trước đây, nhiều người trong số cán bộ này hết sức kính phục, tôn trọng ông Lê Duẩn thì sau buổi nói chuyện ấy lòng tin yêu của họ đối với ông bị sứt mẻ, đổ vỡ.

Xưa nay, không phải chỉ ở nước ta, công luận xã hội không bao giờ chấp nhận chuyện một người đi nói xấu sau lưng người khác, nhất là người ấy đã từng là đồng chí, cộng sự của mình; và không bao giờ đánh giá tốt một người chồng (hoặc vợ) là cán bộ phụ trách hay cán bộ thường đem chuyện riêng bí mật trong nội bộ cơ quan, đơn vị nói với vợ (hoặc chồng, con cái) trong nhà. Ông Lê Duẩn, cho dù có đem chuyện mà ông cho là xấu về Đại tướng TTL và những lãnh tụ, chiến hữu khác nói với bà thì bà nên giữ kín trong lòng chứ không nên phô ra, chỉ làm tổn hại uy tín của ông Lê Duẩn và bà.

Chúng tôi không đi sâu trình bày những chi tiết trong bài viết của bà (kể cả những vấn đề xem ra khá ấu trĩ, ngây thơ về nhận thức như: Nguyên tắc cao nhất của chiến dịch Điện Biên Phủ “đánh chắc thắng” do Bác Hồ và thường vụ TWĐ (tức Bộ chính trị) đề ra với việc thay đổi phương châm tiêu diệt địch từ “đánh nhanh - thắng nhanh” sang “đánh chắc - tiến chắc” và vai trò của cố vấn Trung quốc trong chiến cuộc Điện Biên Phủ; vai trò, vị trí của Bí thư Tổng quân ủy - Tổng tư lệnh trong toàn cuộc chiến Mùa xuân 1975; vai trò ông Văn Tiến Dũng trong chiến dịch ấy v.v…) bởi, đã có quá nhiều tư liệu xác đáng viết về những điều ấy.

Việc Bộ chính trị, TWĐ, Nhà nước, Quốc hội đã quyết định tổ chức quốc tang trọng thể (vượt lên trên sự quy định của Nhà nước) Đại tướng TTL là sự mặc nhiên thừa nhận công tích đặc biệt của Người và hàng vạn vạn người dân đủ cả các tầng lớp đến viếng và tiễn đưa Người; từ ngày Đại tướng TTL mất, hàng ngày có hàng trăm, ngàn người dân cả nước đến viếng mộ Người là sự đánh giá chân xác nhất của ý chí, niềm tin của tuyệt đại bộ quần chúng nhân dân cả nước; là một sự thật lịch sử đúng đắn nhất không ai có thể xuyên tạc, bóp méo.

Trân trọng kính chào bà.
  
    Hàn Vĩnh Diệp 

Cán bộ hưu trí ở Đà lạt

 (Việt Nam Thời Báo)

Bùi Ngọc Tấn, nhà văn của khoan dung

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 vừa qua đời hôm 16 tháng 12 vừa qua để lại cho người yêu mến văn chương cũng như tư cách của ông một sự thương tiếc không kể hết. 
 
“Chuyện kể năm 2000”
 
Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934. Quê nhà văn ở làng Câu Tử Ngoại, xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Ông bắt đầu viết văn viết báo từ 1954. Năm 1968 Bùi Ngọc Tấn bị tập trung cải tạo 5 năm trong vụ án Xét lại chống đảng. Khi bị bắt giữ, hơn một ngàn trang bản thảo của ông cũng bị tịch thu.

Chuyện Kể năm 2000 viết về một người tù mang tên Tuấn mô tả lại cách mà chính quyền Việt Nam trấn áp trí thức trong đó chính ông là nạn nhân viết lại với tư cách một nhân chứng.

"Chuyện kể năm 2000" được nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành vào tháng Hai năm 2000 thì ngày 16 tháng Ba bộ Văn hóa -Thông tin đã ký quyết định đình chỉ, thu hồi và tiêu hủy.

Nhân vật có tên Nguyễn Văn Tuấn có thể là tác giả mà cũng có thể là của tất cả mọi tù nhân bị bắt, bị cải tạo vì các tội chống nhà nước, gián điệp, phản động…nói chung là không chấp nhận cái nhà nước muôn phần xinh đẹp và dân chủ này. Tuấn mang khuôn mặt của những rách nát tả tơi từ trong tù cho tới khi ra khỏi nhà tù. Anh ta là nghệ sĩ không được ngẩng cổ lên hót như chim mà bị buộc phải cúi đầu ho khan như một gã ho lao. Tuấn cũng là nhà văn nhà báo ngay cả nhà thơ…những ngòi viết không còn được cung cấp mực nên phải dùng máu của mình để viết trên những trang giấy mỏng tang giấu kín trong trại giam để một ngày nào đó cơ may cho chế độ đã đến và chúng phát giác, xé bỏ trấn áp ngòi viết ây bằng chính máu của anh ta.

Chuyện kể năm 2000 với những trang giấy trắng không có chữ mà chỉ có hình ảnh. Hình ảnh hiện lên như bóng ma, như ám ảnh của chế độ đè nặng lên tâm thức Việt Nam. Năm năm trong tù không dài nhưng qua ngòi bút Bùi Ngọc Tấn đã khiến nhân vật thành hình tượng và những hình tượng tưởng không còn là con người ấy vẫn cào cấu không ngừng đòi lại cái “chứng minh làm người” mà chế độ cố tình tịch thu, xé bỏ.
 
Chế độ không muốn cách mạng mặc dù chúng lớn mạnh từ cách mạng. Chế độ không muốn ai trở thành nổi bật hơn nó vì quyền lực không cho phép sự kính trọng hiện hữu trong lòng người dân. Kính trọng phải bị thủ tiêu và sự sợ hãi luôn là kim chỉ nam trong mọi lĩnh vực.

Chuyện kể năm 2000 không biết sợ hãi và vì vậy nó bị cấm in, cấm xuất bản. Nhưng cả thế giới vẫn biết tới nó và ca ngợi và ấp ủ và nghiền ngẫm nó. Nó được dịch nhiều thứ tiếng và được các chủng tộc khác với Việt Nam chia sẻ.

Nó được so sánh với Dostoevsky, với Solzhenitsyn và nhiều cây bút khác viết về nhà tù dưới chế độ cộng sản. Nhưng nếu để ý thì người tù ấy, thân phận ấy không bao giờ được ra khỏi nhà giam vì phía sau cánh cửa trại giam là cuộc sống bế tắc, đàn áp, đè nặng lên mỗi con người, nhất là con người vẫn còn mang số tù trong lý lịch.

Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên nói về nhận xét của ông đối với Chuyện kể năm 2000:

“Thứ nhất đây là một cuốn tiểu thuyết. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn viết tiểu thuyết chứ không phải tự truyện hay hồi ký mặc dầu nhân vật lấy từ chính cuộc đời của anh, 5 năm lao tù của anh nhưng là tiểu thuyết và do vậy kinh nghiệm cá nhân của Bùi Ngọc Tấn cộng với kinh nghiệm bạn tù và những kinh nghiệm quan sát của một nhà văn trong đời sống xã hội nó hun đúc lên thành hình tượng, thành nhân vật và do đó sức khái quát nó lớn hơn. Sức thuyết phục, tác động nó mạnh hơn.

Trong đám ma của ông hôm nay rất nhiều bạn bè văn chương cũng khẳng định như thế, đây là một tác phẩm có thể nói là một bước ngoặc của văn học Việt Nam. Một tác phẩm sẽ sống lâu và còn giúp cho mọi người đọc nó nhận biết thực tại đời sống xã hội Việt Nam trong 50 năm  của nửa cuối thế kỷ 20.

Điều quan trọng nữa là tâm thế của Bùi Ngọc Tấn trong tác phẩm này cũng như các tác phẩm khác của anh từ khi anh trở lại văn đàn là một sự nhân hậu ấm áp. Nếu đã trải qua những năm tháng trong nhà tù khắc nghiệt như vậy mà có giọng hằn học, cay độc thì cũng là lẽ tất nhiên nhưng không, ông đã chọn nói về những sự thật đó, nói về những nỗi đau của con người, về những vấn đề xã hội nhân sinh bằng một giọng văn nhân hậu, ấm áp mà đọc vào khiến người ta xúc động và càng thấy sự chân thực toát lên và nhờ đó sự thật của đời sống của văn chương nó đạt được hiệu quả. 
 
Thành công bởi sự trải nghiệm đau khổ
 
Nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức đọc Chuyện kể năm 2000 với một góc nhìn khác mà theo ông tiểu thuyết vẫn chưa đạt tới đỉnh cao mà đáng ra nó phải có:

buingoctan
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn
“Chuyện kể năm 2000 là sự thành công bởi sự trải nghiệm đau khổ mà trong đó có rất nhiều dư vị đắng cay của bất công. Sự trải nghiệm của trường đời. Học vấn của các nhà văn của chúng ta nó ít nhưng như anh Bùi Ngọc Tấn anh ấy có trường đời và như vậy anh ấy đã bức phá hơn rất nhiều nhà văn bình thường. Anh Bùi Ngọc Tấn bằng trải nghiệm đau khổ và bất công về công lý trong chính hoàn cảnh của anh ấy không được hưởng ánh sáng công lý khi bị đem xử. Anh đã lầm lũi sống như thế và khi ra tù anh có khả năng viết cao hơn nữa bằng cái nguyên liệu mà anh đã kiếm trong quá trình sống. Anh ấy đã hoàn toàn vượt lên cái sàn chung của hội nhà văn Việt Nam. Văn học Việt Nam chúng ta có cây có rừng mà không có cây lớn, chỉ sàn sàn giống nhau thì anh Bùi Ngọc Tấn vượt trội lên. Nhưng mà để vượt lên tầng cao của bầu trời văn học có triết học, công lý hay thần học như trong Anh em nhà Karamazov câu hỏi có Chúa hay không thì anh Bùi Ngọc Tấn cũng chưa vươn tới tầm cao ấy. Cũng giống như một loạt các nhà văn nổi tiếng của Việt Nam cũng chưa vươn tới bầu trời đấy

Tôi muốn nói tới tinh thần công lý mà anh ấy bị oan uổng và anh ấy trải qua trong những đầm đìa khổ sở, tù đày thì việc của ảnh là hoàn toàn tự sự. Mặc dù anh ấy nhìn thâm thúy nhưng vẫn trong nhà tù nó ở khác thân thể anh ấy. Theo tôi anh không nhân cái việc thiếu công lý của anh ấy ra toàn xã hội.”

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, với tính điềm đạm cố hữu, trong một lần trả lời phỏng vấn của chúng tôi ông cho biết:

“Câu chuyện nó báo hiệu cái tình trạng mất dân chủ, tình trạng đàn áp, tình trạng bất công với những người lương thiện kiểu như tôi. Quyển đó nó chỉ nói một cái tiền đề về tình trạng mất dân chủ, tình trạng ức hiếp quần chúng hoặc ở dạng này dạng khác.
Chuyện kể năm 2000 là sự thành công bởi sự trải nghiệm đau khổ mà trong đó có rất nhiều dư vị đắng cay của bất công. Sự trải nghiệm của trường đời. Học vấn của các nhà văn của chúng ta nó ít nhưng như anh Bùi Ngọc Tấn anh ấy có trường đời.  -Nguyễn Hoàng Đức
Tôi cho rằng trong tiểu thuyết của tôi tôi đã đề cập những vấn đề cơ bản để hiểu được cái trật tự xã hội này. Trong văn chương cái chủ yếu thân phận con người nó khác với báo chí. Cũng như thân phận của cô Kiều Nguyễn Du đã nói một gốc gác như thế để cho bây giờ chúng ta thương cảm gốc gác của nàng.

Tôi tiếc mình già rồi, bệnh tật lại lạc hậu nữa. Vài năm nay tôi không đi đâu cả cho nên nhiều lúc cũng nổi nóng giá mà thế này giá mà thế kia...thế hệ chúng tôi vốn còn cái gì thì viết cái đó thôi.

Chuyện kể năm 2000 tuy sáng giá và nổi tiếng nhưng những người biết và cận kề hay có dịp đến với tác giả của nó sẽ ngạc nhiên hơn vì tính cách của ông, một tính cách nhân hậu, bao dung và thuyết phục người khác bằng trái tim của ông. Nữ diễn viên điện ảnh, đạo diễn sân khấu Kim Chi cho biết sự yêu mến của bà đối với nhà văn Bùi Ngọc Tấn:

Chuyện kể năm 2000 anh đã mở mắt cho nhiều người nhìn thấy biết sự thật. Với giọng văn tưng tửng, không chửi rủa mà anh cứ kể và người đọc cứ cảm nhận. Tôi đọc đi đọc lại Chuyện kể năm 2000 hai ba lần.

Mới giây phút đầu tiên tôi làm quen vợ chồng anh nhưng mà có cảm giác thân thiết tự bao giờ, rất là lạ. Tôi không nghĩ là năm nay anh lại ra đi cho nên đối với tôi là một hụt hẫng mất mát. Chúng ta mất một con người rất tâm huyết, tài năng một người dành cả quãng đời còn lại cho công cuộc đòi dân chủ. Cả anh cả chị đều hiền lành, dịu dàng chân tình và ấm áp. Trong ánh nhìn mình đã thấy thân thiện rồi.

Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên cùng một chia sẻ:

Kể từ khi tôi quen biết và trở nên thân thiết như một người em một người bạn vong niên thì tôi thấy anh Tấn một nhà văn hết sức nhân hậu, nồng hậu, ấm áp biết hài hước mặc dù luôn luôn đau đáu về cuộc sống, văn chương.

Anh thường ngồi với nhau mà nói về điều đó mà người ta không thấy anh dùng giọng cha chú, bề trên hay gì cả. Rất nhiều người trẻ cả độc giả lẫn người viết trẻ đều cảm nhận ở anh Bùi Ngọc Tấn một sự hòa đồng, bình đẳng và tin cậy ngay khi được gặp anh. Tin cậy trên trang viết và tin cậy trong cuộc sống.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã nằm xuống nhưng tình cảm bạn đọc dành cho Chuyện kể năm 2000 và bạn văn đối với riêng ông vẫn nằm trang trọng trong tim họ. Nếu gọi ông là nhà văn lớn trong hoàn cảnh hiện nay chắc không đến nỗi quá lời. Ông lớn ở tài văn đã đành mà còn ở tư cách một kẻ sĩ nữa.
Mặc Lâm, biên tập viên RFA 
2014-12-20

Campuchia đồng ý cho 13 người Thượng được nộp đơn xin tỵ nạn

Liên Hiệp Quốc đang đàm phán đưa người Thượng về thủ đô Phnom Penh để nộp hồ sơ xin tỵ nạn ngày 20/12/2014. (Photo Quốc Việt, RFA)
Liên Hiệp Quốc đang đàm phán đưa người Thượng về thủ đô Phnom Penh để nộp hồ sơ xin tỵ nạn ngày 20/12/2014. (Photo Quốc Việt, RFA)
Sau nhiều lần từ chối không cho các quan chức chuyên trách về tỵ nạn và nhân quyền của Liên Hiệp Quốc tại Campuchia tiếp cận những người Thượng Tây Nguyên đang ẩn náu trong rừng, nay chính phủ xứ chùa Tháp đã đồng ý cho 13 người Thượng trốn khỏi Việt Nam lên thủ đô Phnom Penh để nộp đơn xin tỵ nạn.

Việc chính phủ Phnom Penh buộc lòng chấp thuận cho Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) và Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (OHCHR) đưa 13 người Thượng Tây Nguyên về thủ đô Phnom Penh, sau khi nhóm người này đã tiếp xúc được với quan chức của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc và Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc vào sáng ngày 20/12.

Một số người tị nạn thuộc các sắc tộc thiểu số trốn trong rừng Rattanakiri đã ra gặp cơ quan trợ giúp người tị nạn của LHQ ở Campuchia ngày 20 tháng 12, năm 2014
Một số người tị nạn thuộc các sắc tộc thiểu số trốn trong rừng Rattanakiri đã ra gặp cơ quan trợ giúp người tị nạn của LHQ ở Campuchia ngày 20 tháng 12, năm 2014
Nhóm người thượng vượt biên trốn trong rừng

Nhóm người Thượng nói trên đã đào thoát từ tỉnh Gia Lai của Việt Nam sang trốn trong rừng thuộc tỉnh Ratanakiri giáp biên giới của Việt Nam hơn 7 tuần qua.

Trước đó, các quan chức của Liên Hiệp Quốc đã liên tục thất bại trong việc hợp tác với chính quyền tỉnh Ratanakiri để tìm cách tiếp cận và giúp đỡ nhóm này mặc dù có quan chức từ Bộ Nội vụ Campuchia tham gia. Phía Liên Hiệp Quốc tỏ ra quan tâm về số phận của người Thượng Tây Nguyên vì họ tin rằng những người này bị chính quyền Việt Nam sách nhiễu và đàn áp tôn giáo, đồng thời đang phải trốn tránh gần hai tháng trong rừng; do đó, LHQ phải lén lút tìm cách tiếp xúc với họ.

Vào sáng ngày 20/12, một nhóm người Thượng gồm 8 người đã mạo hiểm ra khỏi rừng rậm để gặp Liên Hiệp Quốc, và yêu cầu cơ quan quốc tế này can thiệp.
Đó là một quá trình khó khăn và lâu dài để tiếp cận những người Thượng do trước đó cảnh sát đã chặn đường chúng tôi không cho gặp người Thượng. Tuy nhiên, cuối cùng chính quyền địa phương đã quyết định hợp tác và bàn giao thêm 5 người Thượng cho chúng tôi để họ cùng xin tỵ nạn - Bà Wan-Hea Lee
Cùng lúc, chính quyền địa phương có ý định buộc trục xuất nhóm này về Việt Nam do phía Campuchia cho rằng họ vượt biên trái phép. Nhưng sau khi làm việc với Liên Hiệp Quốc cả tiếng đồng hồ, chính quyền địa phương đồng ý cho phép Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc và Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đưa nhóm người này lên thủ đô Phnom Penh vì họ muốn xin tỵ nạn.

Song, chính quyền địa phương cũng cho phép phía Liên Hiệp Quốc và cảnh sát của Bộ Nội vụ vào trong rừng để tìm những người Thượng còn lại nhưng cơ quan địa phương từ chối vào rừng cùng họ.

Trong lúc Liên Hiệp Quốc và cảnh sát của Bộ Nội vụ vào sâu trong rừng, cảnh sát tỉnh Ratanakiri cũng bao vây một khu rừng tại một khu vực khác cách đó không xa để truy lùng những người Thượng còn lại. Vào khoảng 6 giờ chiều ngày 20/12, cảnh sát địa phượng đã bắt được 5 người Thượng nhưng cuối cùng đã trao cho Liên Hiệp Quốc để cùng đưa họ lên thủ đô Phnom Penh.

Bà Wan-Hea Lee, Người đứng đầu Văn phòng Cao Ủy Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc (OHCHR) tại Campuchia, là người dẫn đầu đoàn LHQ đến tìm người Thượng, nói với phóng viên Quốc Việt của Đài Á Châu Tự Do rằng 13 người Thượng Tây Nguyên được nhóm công tác của Liên Hiệp Quốc đưa đến thủ đô Phnom Penh vào ngày 21/12. Tất cả 13 người này sẽ nộp hồ sơ xin tỵ nạn cùng một lúc ở Phnom Penh.

Bà Wan-Hea Lee: “Đó là một quá trình khó khăn và lâu dài để tiếp cận những người Thượng do trước đó cảnh sát đã chặn đường chúng tôi không cho gặp người Thượng. Tuy nhiên, cuối cùng chính quyền địa phương đã quyết định hợp tác và bàn giao thêm 5 người Thượng cho chúng tôi để họ cùng xin tỵ nạn.

Công tác tìm kiếm người Thượng của LHQ và Bộ Nội vụ vì mục đích đưa người này đến xin tỵ nạn tại Bộ Nội vụ Campuchia, phụ trách xem xét hồ sơ xin tỵ nạn. Do đó, chúng tôi tin rằng Bộ Nội vụ sẽ tạo đủ điều kiện cho họ là những người xin tỵ nạn.”

Bị kỳ thị sắc tộc và đán áp tôn giáo

Theo những người Thượng vừa ra khỏi rừng rậm, chính quyền Việt Nam vẫn tiếp tục đàn áp giáo dân người dân tộc bản địa vùng Tây Nguyên. Những người lên tiếng đòi quyền tự do tôn giáo và quyền sở hữu đất đai thường bị công an theo dõi, sách nhiễu.
Chúng tôi yêu cầu Quốc tế giúp Tin Lành Đêga cho có tự do. Đi nhóm, hoặc ngày Noel phải cho Tin Lành Đêga tự do, không có ai bắt bớ, không có ai đánh đập, không có ai theo dõi ai hết. Theo Đạo là tốt đẹp cho con người thôi, không có gì xấu cả - Một người Thượng
Một người Thượng vừa chạy ra khỏi rừng gặp Liên Hiệp Quốc xin không nêu tên, nói với phóng viên Quốc Việt: “Chúng tôi yêu cầu Quốc tế giúp Tin Lành Đêga cho có tự do. Đi nhóm, hoặc ngày Noel phải cho Tin Lành Đêga tự do, không có ai bắt bớ, không có ai đánh đập, không có ai theo dõi ai hết. Theo Đạo là tốt đẹp cho con người thôi, không có gì xấu cả.”

Trước đây, quan hệ giữa Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc, Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc và chính phủ Campuchia bị xấu đi rất nhiều do phía Phnom Penh nói Liên Hiệp Quốc tìm cách đơn phương giải quyết vấn đề người Thượng Tây Nguyên chạy trốn sang xứ chùa Tháp xin tỵ nạn.

Campuchia cũng nhiều lần nói Cao ủy Tỵ nạn của LHQ đã cho nhân viên lén lút hoạt động trong vùng biên giới, nhằm tập hợp những người Thượng từ Việt Nam trốn sang Campuchia mà không có sự hợp tác của Bộ Ngoại giao Campuchia.

Ông Koy Kuong, phát ngôn nhân của Bộ Ngoại giao và Hợp tác Quốc tế Campuchia phê phán các quan chức của Liên Hiệp Quốc tại Campuchia liên quan hoạt động truy tìm người tỵ nạn tùy tiện, không hợp tác với Bộ Ngoại giao. Theo ông, Biên bản ghi nhớ giữa Campuchia và Cao ủy Nhân quyền của LHQ tại Campuchia không được nói LHQ phải tự mình đi tìm người tỵ nạn ở trong rừng.

Ông Koy Kuong nói: “Chúng tôi muốn nói Liên Hiệp Quốc xuống làm việc, tìm người tỵ nạn, họ không được thông báo hay cung cấp thông tin chính thức đến Bộ Ngoại giao. Bây giờ họ tìm thấy, chúng tôi cũng không có ý kiến gì. Cứ thực hiện theo pháp luật.”

...Chúng tôi không biết vì lý do gì mà Việt Nam không cho chúng tôi đi theo Đạo Đêga. Chúng tôi đi nhóm là bị bắt, đánh đập, đi chơi nhà anh em cũng không cho luôn...Liên Hiệp Quốc chở đi chỗ nào cũng được, quan trọng là đừng chở về Việt Nam. Vì chúng tôi sợ Việt Nam, công an Việt Nam đánh đậpMột người Thượng khác

Còn Đại tướng Khieu Sopheak, người phát ngôn của Bộ Nội vụ Campuchia cho biết Liên Hiệp Quốc đã vi phạm chủ quyền của Campuchia.

Ông Khieu Sopheak nhấn mạnh với RFA rằng nếu 13 người chạy trốn từ Việt Nam là người Thượng đến xin tỵ nạn thì Bộ Nội vụ sẽ xem xét.

Ông nói thêm: “Nếu họ là người Thượng, là những người đến cầu xin tỵ nạn thì chúng tôi có thể chấp nhận. Nhưng nếu họ là người nhập cư bất hợp pháp, Campuchia đã có luật quản lý người xuất nhập cảnh trái phép cho nên họ vượt biên đường nào thì phải ra đường đó.”

Trong khi đó, một người Thượng khác khẳng định với RFA sau khi tiếp cận được Liên Hiệp Quốc rằng họ bị công an Việt Nam trấn áp vì lý do tín ngưỡng. Họ chạy sang Campuchia để xin tỵ nạn: “Chúng tôi không biết vì lý do gì mà Việt Nam không cho chúng tôi đi theo Đạo Đêga. Chúng tôi đi nhóm là bị bắt, đánh đập, đi chơi nhà anh em cũng không cho luôn.

Chúng tôi đến đây không phải là có người kêu, người rủ chúng tôi đến. Chúng tôi yêu cầu Quốc tế, xin Quốc tế giúp đỡ chúng tôi. Liên Hiệp Quốc chở đi chỗ nào cũng được, quan trọng là đừng chở về Việt Nam. Vì chúng tôi sợ Việt Nam, công an Việt Nam đánh đập…”

Người Thượng Tây Nguyên được thế giới biết đến sau cuộc nổi loạn chống chính sách đàn áp tôn giáo, tịch thu đất đai truyền thống của họ bởi chính quyền Cộng sản Việt Nam hồi năm 2001.

Kể từ năm 2001, hàng ngàn người Thượng từ Việt Nam đã chạy trốn khỏi sự đàn áp của chính quyền Việt Nam. Đến Campuchia, hầu hết họ đều được công nhận là người tỵ nạn và tái định cư sang Hoa Kỳ, Thụy Điển, Phần Lan, và Canada, do Campuchia đã ký kết Công ước về người tỵ nạn năm 1951.

Nhưng sau khi có một Nghị định phụ được chính quyền Campuchia thông qua vào năm 2009 trao quyền cho Bộ Nội vụ Campuchia, chứ không phải Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc ban hành quyết định cuối cùng về tình trạng tỵ nạn của những người chạy trốn từ Việt Nam. Thỏa thuận này đã tạo kều kiện cho Bộ Nội vụ Campuchia xét duyệt hồ sơ xin tỵ nạn, và cơ hội phải hồi cư về Việt Nam tăng lên nhiều hơn.

Quốc Việt

(RFA)

Thông Báo

Hiện nay trang "TTHN" đã bị một vài nhà mạng chặn. Để có thể theo dõi xin bạn đọc Bấm vào trang đệm http://webwarper.net (tốt nhất) điền tên miền vào ô trống, bấm GO để truy cập.

Suy ngẫm

”Nhà báo là một người ưa cằn nhằn, một kẻ thích chỉ trích, một nơi cho những lời khuyên, một quyền lực tối cao, một người thầy của dân tộc. Bốn tòa báo đối nghịch còn đáng sợ hơn cả ngàn lưỡi lê.”Napoleon Bonaparte

Lưu ý viết comments!


Chúng tôi hoan nghênh đón nhận và xuất bản những ý kiến khách quan, có tính xây dựng, tôn trọng cộng đồng. Nhưng từ chối hoặc xóa bỏ bất cứ lời bình nào không hợp thuần phong mỹ tục, các ý kiến cực đoan, không tôn trọng người khác.
Cám ơn sự đóng góp và hợp tác của bạn đọc.

Chung tay làm báo (Xin bấm vào để xem)

 
Support : Creating Website | IT Team | TTD
Copyright © 2011. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Template Created by IT team Published by TTD
Proudly powered by Blogger