Tin Tức Hàng Ngày
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Bài Mới

Lãnh đạo Việt Nam đang theo đạo gì?

Đăng bởi Trung Lập vào Thứ Ba, ngày 03 tháng 3 năm 2015


Ngày 28/10 năm 2014, trong chuyến công du Ấn Độ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã viếng thăm Bồ Đề Đạo Tràng. Hình ảnh người đứng đầu Chính phủ ngồi xếp bằng, tay đeo tràng hạt, cung kính chắp tay lạy Phật như một Phật tử thuần thành xuất hiện khắp trên các tờ báo lớn của Việt Nam.

Tuy nhiên, chưa thấy ai đặt vấn đề liệu hành vi trên của ông có mâu thuẫn với việc ông phủ nhận có theo bất kỳ tôn giáo nào trong các bản khai lý lịch của mình.

Cũng vậy, công luận Việt Nam lúc ấy cũng vắng bóng những cuộc tranh cãi về tính hợp lý của những hành vi tôn giáo nơi công cộng của các lãnh đạo quốc gia, điều đôi khi sẽ bị coi là thất sách về chính trị (politically incorrect) ở những nước coi trọng tính thế tục.

Trong một diễn biến khác, ngày 9/11 năm 2014, Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia, một cơ quan trực thuộc Chính phủ, phối hợp với Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức đại lễ cầu siêu cho tất cả nạn nhân tai nạn giao thông trong cả nước. Tham dự đại lễ này với tư cách Phó Chủ tịch Ủy ban ATGT QG, Bộ trưởng Đinh La Thăng phát biểu:

“Với sự gia hộ của mười phương chư Phật, cùng công đức trì niệm của hàng trăm tăng ni, tín đồ Phật tử và gia đình thân quyến tại trai đàn cầu siêu sẽ giúp cho hương linh những người không may bị tử nạn do tai nạn giao thông siêu đăng Phật quốc. Cũng nhờ đạo hạnh của chư Phật, chư tăng ni gia trì cho gia đình các nạn nhân đủ niềm tin, nghị lực nén những đau thương mất mát, sớm vượt qua những khó khăn trước mắt để tiếp tục xây dựng cuộc sống và xã hội ngày thêm an lành, tốt đẹp”. [2]

Thật khó để phân biệt giữa phát biểu của một viên chức chính phủ với một chức sắc tôn giáo trong trường hợp này.

Tuy vậy, cũng như trường hợp Thủ tướng, thời điểm đó công luận Việt Nam không xuất hiện một cuộc tranh luận đáng kể nào về giới hạn can dự của cơ quan hành chính vào các sinh hoạt tôn giáo cũng như vấn đề tính chất trung lập về tôn giáo trong các phát ngôn của viên chức đại diện chính phủ.
Dường như, tính thế tục trong phát ngôn và hành động của chính khách vẫn chưa hoặc không phải là một chủ đề được quan tâm trong dư luận Việt Nam, mặc dù, ở cấp độ hành chính, đã có quy định cấm thờ cúng và thực hành nghi lễ tôn giáo trong cơ quan nhà nước; và, ở cấp độ tư tưởng, nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định trong Hiến pháp rằng họ chọn chủ nghĩa Marx-Lenin, một học thuyết duy vật, làm nền tảng tư tưởng cho mọi hoạt động của nhà nước và xã hội.

Ngược dòng lịch sử


“Đại Sán, tu sĩ Phật giáo người Trung Hoa được nói đến ở các chương trước, vào năm 1695, đã quan sát thấy cung điện của Nguyễn Phúc Chu được trang hoàng với cờ Phật giáo, trướng, cá gỗ và những quả chuông lộn ngược, giống như một ngôi chùa Phật giáo vậy”

Li Tana trong tác phẩm Xứ Đàng Trong đã trích thuật những mô tả của nhà sư Đại Sán để cho thấy trong quá trình lập quốc ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã chọn Phật giáo Đại thừa làm tôn giáo nhà nước (state religion) để khẳng định và củng cố tính chính danh thế quyền của họ bằng một kiểu cách mà O.W. Wolters chỉ ra, ở Đông Nam Á, “địa vị vua có tính cách duy nhất chỉ bởi vì đó là một địa vị có tính cách tôn giáo”.

Đây là một hiện tượng thú vị, song các chúa Nguyễn ở Đàng Trong không phải là thế lực chính trị đầu tiên hoặc duy nhất trong lịch sử Việt Nam xác lập Phật giáo làm tôn giáo nhà nước nhằm củng cố tính chính danh vương quyền.

Các triều đại Lý – Trần cũng thể hiện xu hướng này đậm nét, với đặc trưng là sự phổ biến của hiện tượng các nhà sư tham chính, nắm giữ các vị trí cao cấp trong triều đình (chẳng hạn, các Quốc sư cho vua Lý đa phần là các bậc tăng sư), cũng như hiện tượng xuất gia của các vị vua khi đang ở đỉnh cao quyền lực, đặc biệt có những vị như Phật Hoàng Trần Nhân Tông còn là tổ của một tông phái thiền.

Tuy vậy, lịch sử Việt Nam cũng ghi nhận những trào lưu phê phán mô hình nhà nước Phật giáo, đặc biệt là trong các giai đoạn thắng thế của Nho gia khi nó được các lực lượng nắm quyền lựa chọn làm hệ tư tưởng thống nhất của quốc gia.

Lê Thánh Tông (1442-1497) trong một bài văn sách thi Đình đã đưa ra nhận định không mấy tốt đẹp về các tôn giáo thịnh hành bấy giờ – một biểu hiện cho thấy sức ảnh hưởng của Phật giáo như là một quốc giáo khuynh loát đời sống chính trị quốc gia đã không còn nữa dưới thời Hậu Lê:

“Giáo lý của đạo Phật, đạo Lão hết thẩy đều mê đời, lừa dân, che lấp nhân nghĩa, cái hại của nó không thể kể hết, mà lòng người lại rất tin, mê”.

Từ những nhận định đó, Lê Thánh Tông đã lệnh cho các phủ, lộ không xây thêm chùa, quán mới. Bên cạnh đó, thời Hồng Đức cũng chứng kiến sự biến mất của giới tăng quan, mà thay vào đó khoa cử đóng vai trò chủ chốt trong việc tuyển lựa người tài ra làm quan.

Có quan điểm cho rằng những biểu hiện này phản ánh quá trình thế tục hóa ở chỗ các tôn giáo đã mất hoặc giảm dần thẩm quyền của nó (thông qua giáo hội và chức sắc) đối với hoạt động quản trị quốc gia, và phần nào đó, đối với xã hội.

                                            Lịch sử Việt Nam từng có lúc 'phế Phật lập Nho'

Tuy vậy, một số khác lại cho rằng hiện tượng “phế Phật, lập Nho” của triều Hậu Lê, hoặc sau này là triều Minh Mạng, chưa thể được coi là biểu hiện của quá trình thế tục hóa, mà đơn thuần chỉ là việc thay đổi tôn giáo được chọn làm quốc giáo. Sự khác biệt quan điểm này liên đới trực tiếp với những tranh luận rằng Nho giáo có nên được coi là một tôn giáo hay đơn thuần chỉ là một hệ thống triết lý và đạo đức về đối nhân xử thế và trị nước.

Thế tục hóa là hiện đại hóa

Giữa thế kỷ 19, trong khi ở Việt Nam, Minh Mạng và sau đó là Thiệu Trị đang mải mê thi hành những chính sách hà khắc về tôn giáo như cấm đạo, sát đạo để bảo vệ giềng mối Nho gia thì ở nước Anh, nhà văn George Jacob Holyoake (1846) đã lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ chủ nghĩa thế tục (secularism) như “là một kiểu quan điểm chỉ quan tâm tới những vấn đề có thể được kiểm tra bằng kinh nghiệm trong cuộc đời này”.

Có nguồn gốc từ sự nổi lên của Cách mạng Khoa học và Kỷ nguyên Khai minh và đi liền là sự suy thoái về tầm ảnh hưởng của tôn giáo nói chung và Giáo hội La Mã nói riêng ở châu Âu, tiến trình thế tục hóa (secularization) đã diễn ra sâu rộng trên khắp các mặt của đời sống chính trị xã hội và trở thành một biểu hiện đặc sắc của tiến trình lý tính hóa (rationalization) và hiện đại hóa (modernization), làm thay đổi bộ mặt Tây phương thời bấy giờ.

Hai nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa thế tục là phân tách nhà nước khỏi các tổ chức tôn giáo; và tất cả người dân với bất kể tôn giáo nào (kể cả không tôn giáo) đều bình đẳng trước pháp luật. Đây cũng chính là những đặc điểm của văn hóa chính trị hiện đại ở các nước Tây phương mà dựa trên đó, tự do tôn giáo, tinh thần đa nguyên và khoan dung được bắt rễ.

Không chỉ ở cấp độ văn hóa chính trị, tính thế tục còn được khẳng định ở trong các văn bản pháp lý ở các nền dân chủ. Nếu như Tu chính án thứ Nhất là lời tuyên xưng cho tính chất thế tục của Hiến pháp Hoa Kỳ (và được củng cố qua nhiều án lệ trong đó Tối cao Pháp viện viện dẫn Tu chính án này) thì ở Pháp, tính chất này được ghi nhận trong một loạt các văn kiện quan trọng từ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, Luật 1905 về Phân chia Giáo hội và Nhà nước, rồi sau đó là Hiến pháp 1958.

Tu chính án thứ Nhất, Hiến pháp Hoa Kỳ:

                              Hiến pháp Hoa Kỳ nhấn mạnh tính thế tục của thể chế nhà nước

Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.

Như vậy, để trở thành những nhà nước thế tục (secular state) như hiện nay các quốc gia Tây phương đã đi một chặng đường dài cả ở cấp độ lý thuyết lẫn thực hành mà kèm với nó là không ít những biến động lịch sử.

Nhưng bù lại, chủ nghĩa thế tục, một khi đã bắt rễ và cấu thành một phần của văn hóa chính trị, sẽ giúp tạo ra một khuôn khổ pháp lý và tập quán xã hội tôn trọng tự do tôn giáo, tự do biểu đạt, tinh thần đa nguyên và bình đẳng, từ đó củng cố nền móng cho các nền dân chủ tự do, nhất là trong bối cảnh đa tôn giáo, đa văn hóa như hiện nay.

Từ góc độ đó mới thấy, thiếu vắng những cuộc tranh luận về tính thế tục trong đời sống chính trị xã hội ở một nước đa tôn giáo như Việt Nam, có khi lại không phải một điều gì đáng mừng.

Nguyễn Anh Tuấn

(BBC)

Người Buôn Gió: Clip công an đánh người ở Văn Giang - Chuyện bây giờ mới kể.

Vụ việc Trang Trần gây xôn xao dư luận, các luật gia thi nhau phân tích mọi tình tiết gây bất lợi cho Trang Trần. Phải nói chưa có vụ việc nào mà lực lượng chức năng được các luật gia và nhà báo ủng hộ như thế. Có lẽ do người '' bị hại '' là cơ quan chức năng, công quyền nên được luật sư, nhà báo ưu ái đến vậy.


Luật sư Đặng Văn Cường của văn phòng luật sư Chính Pháp trả lời báo chí rằng.

Nếu hành vi của cô Trang Trần này được xác định là cấu thành tội phạm vi phạm pháp luật, bị xử lý hình sự thì người tung clip này lên mạng sẽ không vi phạm, không bị xử lý", luật sư Cường nói.
Cũng theo Luật sư Cường, trong trường hợp các cá nhân quay được "những clip về hành vi vi phạm pháp luật, sau đó đưa lên công luận, giúp cơ quan chức năng xử lý còn có thể được xem xét biểu dương, khen thưởng".

Ngày 24 tháng 4 năm 2012 tại Văn Giang xảy ra cuộc cưỡng chế đất nông dân, hơn 4 nghìn cảnh sát đủ các loại chuyên môn tham gia. Một cảnh tượng chưa từng thấy trong bất kỳ vụ cưỡng chế nào. Hàng đoàn cảnh sát tay khiên, tay gậy trùng trùng lớp lớp tiến về phía người dân. Mở  đường đi cho đi nọ những quả nổ do bộ công an sản xuất được ném từ những người mặc thường phục đứng lẫn trong đám cảnh phục. Khói lửa nghi ngút làm nhoà cả một khoảng không và tiếng súng liên thanh bắn chỉ thiên vang trời. Đi sau đoàn quân cưỡng chế hùng hậu ấy là những cỗ máy xúc, ủi loại lớn. Trong màn khói mù do quả nổ của công an  và ánh sáng mặt trời còn tang tảng, những cỗ máy như con quái vật khổng lồ khua càng quất đổ những cây cọ , cau cảnh cao vút đổ rạp xuống đất. Chiếc máy ủi lầm lũi lì lợm san phẳng cánh đồng hoa màu mơn mởn thành đống bầy nhầy. Thậm chí cả những ngôi mộ hay chôn giữa ruộng theo thói quen ngàn đời của người dân cũng bị bật tung, chồi lên những lóng xương cẳng tay , cẳng chân người quá cố.

 Sau vụ cưỡng chế, ông Bùi Văn Thanh, chánh văn phòng tỉnh Hưng Yên nói rằng.

Ông Thanh lặp lại những gì ông nói với truyền thông trong nước rằng vụ cưỡng chế với "sự hỗ trợ của Bộ Công an và Công an tỉnh" đã "đảm bảo an toàn tuyệt đối về người, tài sản của nhân dân và các lực lượng tham gia hỗ trợ thi công, cưỡng chế."


Xin lặp lại lần nữa lời quan chức '' đảm bảo an toàn tuyệt đối về người và tài sản của nhân dân ''

Ngay sau lời ông Thanh nói, trên mạng xã hội xuất hiện một clip cho thấy thế nào là an toàn của người dân trong cuộc cưỡng chế này.


Khi clip này xuất hiện, chính quyền tỉnh Hưng Yên đã báo cáo ngay thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng rằng.

Ngày 2/5, trong hội nghị về việc giải quyết khiếu kiện và tiếp dân do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì, ông Nguyễn Khắc Hào, Phó chủ tịch tỉnh Hưng Yên, nói rằng đã có video clip giả trong vụ Văn Giang dùng để 'bôi nhọ' chính quyền.
Ông nói: "Có sự móc nối chặt chẽ giữa các phần tử chống đối trong và ngoài nước. Các thông tin, thậm chí được tường thuật tại chỗ, từng giờ để tuyên truyền, xuyên tạc, dàn dựng lên các video clip giả để vu khống, bôi nhọ chính quyền".

Vài ngày sau, những người bị đánh trong clip xuất hiện nhận mình là người bị công đánh đúng những gì trong clip đó. Đây là hai nhà báo của đài VOV là Nguyễn Văn Nam và Hán Phi Long. Báo chí phẫn nộ, đồng loạt lên án hành vi đánh đập hai nhà báo.


Chính quyền tỉnh Hưng Yên đòi các nhà báo phải cung cấp clip gốc và người quay những clip đó.

Tuy nhiên, ông Thanh cho rằng, với tường trình từ một phía của nhà báo Nguyễn Ngọc Năm và Hán Phi Long thì "chưa thể khẳng định" được đó là hai người trong clip lan truyền trên mạng. Để xử lý cán bộ thì theo ông phải cần "đầy đủ nhân chứng, vật chứng và quan trọng nhất là băng gốc" quay cảnh được cho là có hai nhà báo VOV bị hành hung, "thậm chí tìm ra cả người quay".


Nhà báo Đức Hiển có câu hỏi về chuyện này trên báo Pháp Luật TPHCM

Theo VnExpress, chánh Văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên đề nghị các nhà báo cung cấp băng video gốc quay cảnh mình bị đánh để làm rõ. Giả sử đấy không phải là một vụ hành hung, mà là một vụ người dân đánh lực lượng cưỡng chế, gây thương tích cho công an thì Công an tỉnh Hưng Yên có chờ đến khi có video gốc mới làm rõ không? Hay ngay chiều hôm ấy, báo chí sẽ nhận được sự chủ động cung cấp thông tin nhiệt tình, hài rõ tên và tội?

Sự việc nhùng nhằng vì đòi hỏi của phía chính quyền tỉnh Hưng Yên, đằng sau đòi hỏi này là sự tư vấn của Bộ Công An. Phải trích dẫn lại đoạn ông Thanh nói vụ cưỡng chế do công an tỉnh Hưng Yên và Bộ Công An phối hợp, mới hiểu vì sao chính quyền Hưng Yên mạnh mồm đòi clip gốc và người quay.

Ngày 20 tháng 4 năm 2012, Ké gặp tôi nói.

- Vài hôm nữa Văn Giang có cưỡng chế, bà con nhờ anh em bloger Hà Nội đến quan sát giúp. Mấy anh em khác đã cắm chốt đó rồi. Anh đến giúp bà con cùng cho thêm người.

Tôi lắc đầu.

- Thôi, có nhiều người rồi. Việc này họ giúp bà con từ đầu, mình vào dang dở họ ra.

Ké tần ngần, hắn phân vân nói vụ này cần người người chuyên nghiệp chứ không phải cần đông. Tôi bảo mày là đủ rồi, còn những anh em kia nữa. 

Ké nói hắn sẽ đi, tuy đi cùng vụ nhưng sẽ tác chiến một mình. Hắn nói xong đeo túi lên vai, bảo em sang xem tình hình.

Đến ngày 23 , tin tức Văn Giang sắp có cưỡng chế nóng rực trên mạng, hình ảnh hàng đoàn xe cảnh sát đặc nhiệm tiến vào Văn Giang, quân cảnh sát đổ ngày đêm rầm rập. Cả khu Xuân Quan, Phụng Công, Cửu Cao chìm ngập sự căng thẳng trên mỗi con đường làng, ngõ xóm và trong mỗi ngôi nhà. Chiều hôm ấy tôi vẫn đón con ở trường như thường lệ, hỏi thằng bé thích ăn cơm món gì hôm nay. Tí Hớn nói con thích ăn canh cá chua. Hai bố con ghé qua chợ, mua cá và gia vị. Lúc về đi qua hàng bia, thấy những người đàn ông ngồi chạm cốc dô dô dô trong đó. Tí Hớn nói.

- Những người này chả về xem con mình thế nào, ngồi quán bia này mãi có khi đến tối khuya bố ạ. Hôm nọ mẹ đưa con chơi nhà bà về, muộn rồi con vẫn thấy mấy người đó ngồi.

Tôi làm canh cá, lúc hai bố con ngồi ăn, tôi nhớ đến lời thằng bé nói khi đi qua quán bia. Hình ảnh những người đàn ông mặt mũi tưng bừng nâng cốc và nhìn bố con tôi ngồi ấm cúng bên món canh riêu cá trong ngồi nhà nhỏ ấm cúng. Tôi nhớ Ké lúc xốc túi lên vai quả quyết đi, chẳng biết lúc này nó núp chỗ nào ở khu chiến địa đầy bầu không khí đe doạ ấy.

Cơm xong, tôi liên lạc với Ké. Hắn mừng rơn, thì ra hắn đang lẻ loi núp tại một địa điểm tại Văn Giang. 

Tôi hẹn sẽ đến.

Lúc vợ về, tôi khoác túi đi, nói đi có việc không biết hôm nào về. Nếu mai tôi chưa về kịp thì xin nghỉ làm sớm đón con.

Vợ con tôi im lặng, nét lo âu lộ trên mặt cả hai mẹ con, vợ tôi thở dài, còn thằng bé cúi đầu buồn.

Lúc nhá nhem của chiều ngày 23, hai người dân Văn Giang đón tôi ở địa điểm bên ngoài xã, tôi cởi trần, quần đùi, chân đất mọi thứ quần áo, giay dép máy ảnh, máy quay phim cho vào bao tải đi theo những người dẫn đường. Họ dẫn tôi đi lòng vòng , có lúc đi ngang qua những nhà dân khác. Những người dân mà tôi đi qua họ nhìn tôi với con mắt cảm mến. Chẳng ai nói gì, nhưng ánh mắt nào cũng như gửi lời chào và lời cảm ơn.  Bầu không khí lúc ấy như trong chiến tranh, người hối hả đi ra đồng đào cây quý chở về, người chuẩn bị rào dậu, từng tốp người nét mặt lo âu thầm thì bàn đến chuyện trạm gác đằng này, đằng kia. Loa phóng thanh xã rả rả những lời đe doạ, cảnh báo về việc chống đối cưỡng chế.

Ké ở trong một ngôi nhà , ăn cơm với hai vợ chồng chủ nhà. Con nhỏ của họ đã đi '' sơ tán '' nơi khác. Bữa cơm của gia đình nông dân giản dị như ngày thường. Ăn xong, Ké dẫn tôi đến chỗ của hắn trú vài hôm, chỉ vào hai gói xôi đậu xanh nhỏ bằng nắm tay bảo.

- Đây có xôi để đêm anh em mình trực chiến.

Tôi bảo Ké xin chủ nhà nước sôi và trà, vừa uống nước vừa hỏi Ké tình hình. Sau đó chúng tôi đi quan sát địa hình trong đêm. Kết hợp tình hình với địa thế , chúng tôi quyết định chọn một điểm sẽ đóng chốt quan sát diễn biến. Cả địa bàn cưỡng chế rộng mênh mông, hơn 4000 quân cảnh sát chưa kể lực lượng mặc áo thường dân đeo băng đỏ. Không ai biết được sự kiện nóng nhất sẽ xảy ra chỗ nào. Sự lựa chọn của chúng tôi thiên về cảm tính, may rủi hơn là tính toán.
Nửa đêm, tôi gọi chủ nhà, yêu cầu mang quần áo, chăn nệm bất cứ cái gì có thể, phơi cho tôi ở trên sân thượng.

Tôi nghĩ rằng nếu có đánh đập, trước đó công an sẽ quan sát tất cả những vị trí cửa sổ, ngõ ngách để chặn những người quay phim. Đám an ninh sẽ trà trộn vào dân làng để khống chế người quay phim. Nơi trống trải nhất lại là nơi ít bị để ý nhất. Nếu cần tôi sẽ núp trong đám quần áo, chăn đệm ấy.

Đấy là cảm tính thứ hai. 

Nhưng cuộc đời dạy tôi rằng, bất cứ cảm tính nào đều không nên bỏ qua, nhất là trong những việc quan trọng. Phải nói Ké là người hiểu tôi, hắn ít khi hoài nghi những đòi hỏi oái ăm của tôi, nhất là lúc không có thời gian để giải thích nữa hắn lại càng không lăn tăn.

Nếu xem kỹ clip người bị đánh, sẽ thấy máy quay dừng lại khi người ấy đang đứng, rồi công an lao đến túm và đánh đập. Khi clip được tung ra, nhiều kẻ nói rằng nguỵ tạo, đặt bẫy, vì làm sao biết công an đánh ai mà để sẵn máy quay vào vị trí người đó. Xin thưa, đó cũng là cảm tính.

Những cảm tính tình cờ liên tiếp nhau khiến những bộ óc khoa học của nhà cầm quyền hoài nghi về sự sắp đặt, giả tạo, không chân thực của clip. Nhưng sự thực thì vẫn là sự thực.

Chúng tôi bỏ lại hết máy móc, rạch cạp quần đùi nhét thẻ nhớ. Một cô gái chở hai chúng tôi ra khỏi khu vực, tôi lo lắng và căng thẳng nghĩ sao an toàn mang thẻ nhớ ra. Còn Ké lúc đó thật lạ, hắn vẫn hỏi han à ơi cô gái. Nếu đọc đoạn này, mong vợ hắn đừng ghen, có thể hắn cũng đang dùng một biện pháp trấn tĩnh, hoặc giả bộ tự nhiên để chúng tôi ra ngoài dễ dàng.

Chúng tôi đợi khi nhà cầm quyền Hưng Yên tuyên bố cuộc cưỡng chế an toàn về của và người cho nhân dân mới tung clip hai nhà báo bị đánh lên mạng.

Bây giờ thì quay lại chuyên chính quyền Hưng Yên đòi clip gốc và người quay, khiến vụ việc vào thế giằng co. Một người bạn thân biết tôi trong nhóm quay clip đó , đặt vấn đề là bên VOV muốn gặp tôi. Tôi hỏi gặp làm gì, họ bảo nếu cần họ muốn nhờ tôi làm nhân chứng.

Tôi bàn với Ké, nếu chúng ta không nhận, có khi việc này sẽ chìm xuồng. Nhưng nếu đứng ra nhận, sẽ bị thẩm vấn rất căng. Tôi lược ra những câu thẩm vấn mà người ta sẽ hỏi đầy ác ý để dập tắt ý chí của nhân chứng.

- Anh cho biết lý do anh có mặt tại đó.
- Anh cho biết đông cơ tại sao anh mang máy quay đến đó.
- Máy quay này anh mua bao giờ, ở đâu , tiền đâu ra anh mua.
- Anh đưa clip này lên mạng như thế nào, qua bloge, Facebock, youtbe bằng tài khoản tên gì , đưa ở đâu, đưa vào thời điểm nào.
- Ý đồ anh quay clip này nhằm mục đích gì. Khi anh tán phát lên mạng mục đích của anh là gì ?
- Trước khi đi anh ở đâu, có ai ở đó, nói chuyện gì.
- Khi anh đến đó, anh gặp những ai, ở đâu , nói chuyện gì.

Các câu hỏi sẽ diễn ra liên tiếp tuỳ theo những câu trả lời, nhưng trước tiên người ta sẽ hỏi bố anh, mẹ anh, vợ con anh, anh chị em ruột bao nhiêu tuổi, ở đâu, làm nghề gì. Anh tiền án, tiền sự gì chưa, đã bị bắt lần nào chưa, hiện nay anh ở đâu, làm gì để sống.

Chúng tôi thống nhất, tôi sẽ đi nhận. Có gì một thằng chết, còn thằng ở lại lo hậu sự. Dù sao thì nhà tù và thẩm vấn tôi rành hơn Ké vì trải qua nhiều lần, còn hắn thì chưa.

 Tôi gặp người VOV ở quán cà phê đối diện với toà nhà VOV phía bên số chẵn của phố Bà Triệu. Anh ta hỏi trường hợp cần phải làm chứng, mong tôi đứng ra nhận. Tôi đồng ý và trao cho anh ta clip gốc.

Ngay sau đó trên báo chí, chính quyền Hưng Yên và bộ Công An không thấy lớn tiếng đòi tìm người quay, clip gốc. Không ai nói là clip giả tạo. Họ quên bẵng những chuyện đó, và có những lời xuê xoa, nhận lỗi ầu ơ. Người của VOV trả lời tôi.

- Anh ạ, chúng tôi dù sao cũng toàn người nhà nước, làm việc ngành ngang dọc này nọ. Không đơn giản, vụ này cả tổng bí thư, thủ tướng cũng đến tận chỗ chúng tôi chỉ đạo. Nên chắc sẽ giải quyết mà không cần toà án đâu, anh thông cảm.

Tôi cười nhạt.

- Tôi biết trước sẽ thế, tôi nhận để các anh hiểu rằng, những người như chúng tôi sẵn sàng làm chứng cho công lý, sự thật. Còn các anh không muốn thì đó quyền các anh, các anh là người bị hại, không kiện cáo là quyền các anh. Việc chúng tôi làm thấy thế là đủ.

Bỗng nhiên hai hôm sau tôi có giấy triệu tập lên cơ quan an ninh, cả tuần liền làm việc trả lời về cuốn sách Đại Vệ Chí Dị.

Khi tôi về thì  việc kia có vẻ êm, phía công an Hưng Yên xin lỗi hai nhà báo, đó là việc những người nhà nước với nhau. Khi tạm xuôi, chính quyền Hưng Yên lớn tiếng.

- Ngoài việc hai nhà báo ra, không có người dân nào bị đánh đạp cả.

Chúng tôi quyết định tung clip thứ hai trong vụ cưỡng chế Văn Giang, clip cho thấy công an đánh người dân dã man.


Một công an trên clip video này còn co chân đá vào người phụ nữ đã bị người khác giữ tay.
Video nói trên hiện đang được phát tán rộng rãi trên các trang mạng xã hội.
Người phụ nữ bị đánh được nêu danh là bà Ngô Thị Ánh, dân xã Xuân Quan, thuộc huyện Văn Giang. Hôm 24/4, khi lực lượng cưỡng chế đang hoạt động, bà Ánh đứng ngay tại hiện trường, được nói là "khu vực nhà văn hóa xã Xuân Quan".

Nhưng khác với hai nhà báo bị đánh, không thấy báo chí, luật sư nào lên tiếng về clip này. Không ai bồi thường hay xin lỗi người phụ nữ bị đánh dã man trong khi bị hai công an khác bẻ tay khống chế. Chị nhận một cú đá hung ác từ phía một người mặc đồ cảnh sát, cú đá giữa ngực người phụ nữ nhỏ bé, khiến chị đổ vật như cây chuối tức thì.

Các nhà báo, luật sư có Chính Pháp, có lương tri đang lên tiếng ở vụ Trang Trần, nghĩ sao về những clip và câu chuyện của những người quay clip đó. Khi các vị lên án Trang Trần, tìm mọi ngóc ngách pháp luật để lên án cô, bênh vực công an một cách nhiệt tình thì những người công an đánh phụ nữ trong clip của chúng tôi cũng cần được các vị lên án. Vì hành vi của công an trong clip đó, còn hung hãn, côn đồ gấp nhiều lần Trang Trần. 

Lúc mà người phụ nữ nông dân bị hai người bẻ tay, cho một cảnh sát khác đá vào mỏ ác thẳng chân hết lực.

Khi đó các vị ở ở đâu.?

Chúng tôi không cần được khen ngợi, có một dàn dư luận viên, bồi bút suốt bao năm qua đã ca ngợi chúng tôi là rận chủ, phản động, lưu manh, cơ hội, thèm tiền. Với chúng tôi thế là quá đủ lời khen rồi.

Chúng tôi chỉ mong các vị cho người dân thấy sự công bằng, không có phân biệt giữa người dân Việt Nam với những người trong bộ máy công quyền Việt Nam mà thôi.

Hơn nữa là cho người dân thấy những người cầm bút làm báo chí, làm luật còn có lương tâm, trách nhiệm, đứng về phía người yếu thế.  Đó mới là điều đất nước này, nhân dân này cần đến quý vị.

Đất nước để một thằng lưu manh, tiền án, tiền sự bỏ dao súng, cầm bút lải nhải về sự thật, công bằng thật chả ra gì. Chính những người cao quý , địa vị trong xã hội như các vị nhà báo, luật sư đang lớn tiếng trong vụ Trang Trần kia mới là những người cần phải làm điều đó. 

Người Buôn Gió

(Blog Người Buôn Gió)

Thanh tra giấy phép Formosa

                                          Nhà máy thép của Formosa đang được xây dựng

Thanh tra Chính phủ vừa xác định việc một doanh nghiệp Đài Loan được cấp phép đầu tư một nhà máy thép tại Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh, với thời hạn đến 70 năm là ‘trái pháp luật’, báo chí trong nước đưa tin.

Theo kết luận thanh tra được báo Tuổi Trẻ dẫn lại thì Ban Quản lý Khu Kinh tế Vũng Áng đã ‘vi phạm Luật Đầu tư’ khi cấp giấp phép đầu tư có thời hạn 70 năm cho dự án nhà máy thép của Công ty Gang thép Hưng Nghiệp Formosa (FHS) khi chưa có sự đồng ý của Chính phủ.

Từng được đề cập?

BBC Việt ngữ đã liên hệ ông Hồ Anh Tuấn, trưởng Ban Quản lý Khu Kinh tế Hà Tĩnh, để hỏi phản ứng về việc này nhưng ông Tuấn từ chối trả lời. Ông cho biết đã trình bày quan điểm của Ban Quản lý với VTV (Đài Truyền hình Việt Nam) rồi.

Theo tìm hiểu của BBC thì mặc dù thời hạn cấp phép 70 năm cho Formosa giờ đây mới được Thanh tra Chính phủ nêu lên, vấn đề này đã từng được đề cập trên báo chí.

Ông Nguyễn Cảnh Thụy, phó giám đốc Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch Hà Tĩnh, trong một bài phỏng vấn với báo Tuổi Trẻ hồi cuối tháng 10 năm ngoái về việc Formosa xây miếu thờ, cũng đã khẳng định rất rõ ràng: “Chúng ta biết Formosa được thuê đất 70 năm. Vậy 70 năm sau những hạng mục của nhà máy có thể bị đập dỡ, còn miếu thờ có ai dám đập không?”

Hiện không rõ tại sao mà một quyết định được kết luận là trái pháp luật mà vẫn có thể tồn tại từ năm 2008 cho đến nay trong khi các lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh không thấy có ý kiến gì.

Theo Tuổi Trẻ thì sau khi phía công ty Đài Loan có báo cáo xin thời gian hoạt động của dự án là 70 năm thì Ủy ban nhân dân Hà Tĩnh đã có văn bản xin ý kiến các bộ ngành và trong ý kiến trả lời, không có bộ ngành nào đề xuất cho dự án Formosa hoạt động đến 70 năm.

Tuy nhiên, sau khi Formosa có đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận đầu tư thì đến tháng 6 năm 2008, Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng đã cấp phép đầu tư với thời hạn 70 năm, cũng theo Tuổi Trẻ.

Luật Đầu tư của Việt Nam quy định thời hạn hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài là không quá 50 năm nhưng vẫn có đặc cách được kéo dài đến 70 năm cho một số dự án nhưng cần phải được Chính phủ cho phép.

Dự án nhà máy thép của Công ty Gang thép Hưng Nghiệp Formosa (FHS) ở Khu Kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh, là nơi có nhiều công nhân Trung Quốc đang làm việc.

Hồi cuối năm ngoái, dự án này đã gây phản ứng trong dư luận ở Việt Nam khi họ cho xây một miếu thờ được cho là để thờ thần tài, thổ địa trong khuôn viên dự án. Miếu thờ này sau đó được yêu cầu phải dỡ bỏ dù đã được xây gần xong.

Hồi tháng 11 năm ngoái, hơn 300 công nhân Trung Quốc làm việc cho hai nhà thầu tại dự án nhà máy thép của Formosa đã bị chính quyền xử phạt vì ‘làm việc trái phép’ và ‘vi phạm quy định nhập cảnh’.

(BBC)

Trương Nhân Tuấn - Theo tôi thì không có cái gọi là "văn hóa bạo động"

Sự vinh danh các chiến tướng lấn át những trí thức có đóng góp nâng cao trí tuệ của dân tộc, phải chăng đó là biểu hiện của "văn hóa bạo động"?

Theo tôi thì không có cái gọi là « văn hóa bạo động » hay người VN có « gene » bạo lực. Không thể nói Quang Trung hay Nguyễn Ánh hung bạo thì người Việt cũng hung bạo. Thử nhìn thế giới trong cùng thời kỳ, không phải chỉ ở VN mới « hung bạo » như vậy. Cũng thử so sánh các đảng cộng sản khác, sự hung bạo ở đâu cũng ngang như nhau.

Theo tôi vấn đề bạo lực chỉ có ở một xã hội còn trong thời kỳ bán khai, hay trong một xã hội mà thẩm quyền của nhà nước đã không còn hiệu lực.

Trong một xã hội sơ khai bất kỳ, luật pháp chưa có, khái niệm về quyền chủ tể chưa có, mọi tranh chấp sẽ được giải quyết bằng cách thuợng cẳng chân, hạ cẳng tay. Tức bằng bạo lực. Tranh chấp sẽ không còn khi một phía không còn lên tiếng tranh chấp, vì… chết, hay vì một lý do gì đó không thể lên tiếng đòi hỏi được nữa. Thời kỳ này sức mạnh là công lý. Mạnh được, yếu thua.

Xã hội tiên tiến hơn một chút, khái niệm về « trọng tài » xuất hiện. Việc phân xử là cần thiết để giữ « hòa bình » trong nhóm (hay xã hội). Hòa bình bởi vì người ta không còn lên tiếng tranh chấp chỉ khi nhận thức vấn đề tranh chấp đã được giải quyết một cách « công bằng ». Các khái niệm về (quyền lực) như thần quyền, đế quyền ra đời. Các quyền lực này là « quyền lực chủ tể », (tức quyền lực tối cao trong xã hội), có tính chính đáng. Ý vua là ý trời, nói ra ai cũng phải nghe theo. Vua thay trời hành đạo. Pháp đình là nơi (thể hiện quyền lực của vua) phân xử tranh chấp. Yếu tố cơ bản để xã hội hòa bình là sự « công bằng ». Công bằng ở đây không phải là « đồng đều » như nhau, mà là công bằng do « phúc phận » cho mọi thành tố trong xã hội.

Xã hội càng văn minh hơn, tranh chấp giữa những thành tố trong xã hội phức tạp hơn. Vì vậy xuất hiện nhà nước gọi là « nhà nước pháp trị ». Ý nghĩa của nó là mọi cá nhân trong xã hội, kể cả người cầm quyền, đều bình đẳng như nhau trước pháp luật. Kết quả là cách đối xử (giải quyết tranh chấp) giữa cá nhân (hay tổ chức) trong các xã hội này đều dựa trên pháp luật.

Xã hội VN khuynh hướng sử dụng bạo lực ngày càng tăng. Không chỉ nơi hành vi mà còn ở ngôn ngữ. Xe cộ cọ quẹt nhau, như ở các xứ đang giẫy chết, hai bên xuống xe, hợp tác với nhau cùng viết biên bản. Mọi việc đều do « bảo hiểm » lo liệu. Bằng không thì kêu cảnh sát đến giải quyết.

Ở miền nam VN trước, các vụ cọ quẹt như thế phần lớn giải quyết do sự thuơng lượng giữa hai bên. Đôi khi chỉ bằng tiếng xin lỗi. Nếu không giải quyết được thì kêu cảnh sát. Ít khi nào chưởi mắng, ấu đả lẫn nhau để giải quyết như hôm nay.

Vấn đề là người ta không còn tin tưởng vào nhân viên công lực, không tin tưởng vào pháp luật quốc gia. Khi tai nạn cọ quẹt xe, gọi công an tới là việc ngu. Vì cả hai bên là nạn nhân của công an (do hạch sách tiền bạc).

Không phải chỉ trong vấn đề cọ quẹt xe cộ, mà trong tất cả mọi tranh chấp hàng ngày vẫn vậy. Vô phúc đáo tụng đình. Đáo tụng đình là đem tài sản cúng cho nhân viên công lực để lo lót, chạy tội.

Pháp luật, nhân viên công lực… chỉ để truy bức, hành hạ người dân.

Khi người dân không tin tưởng vào pháp luật quốc gia, giải quyết mọi tranh chấp sẽ là bạo lực.

Ta thấy hiện tượng « chém heo » ở làng Ném Thuợng là một thách thức luật lệ quốc gia. Thẩm quyền quốc gia không có. Nhà nước đã từ nhiệm.

Trong các vụ « khai ấn đền Trần » hay « cầu sao giải oan » gì đó, ta thấy người dân tụ tập đen kịt. Nguyên nhân là người ta mất niềm tin vào tương lai, mất niềm tin vào khả năng của chính mình. Mất niềm tin ở thực tại người ta có khuynh hướng đi tìm những trợ giúp ở những đáng siêu hình.

Nguyên nhân của bạo lực ở VN là như vậy : Sự từ nhiệm của nhà nước. Xã hội vô pháp. Đó là dấu hiệu của sự tan rã, sự giải thể của nhà nước.

Trương Nhân Tuấn

(FB Trương Nhân Tuấn)

Bạn có thể bị buộc tội “khinh miệt cảnh sát” ở Mỹ hay không?

 “Quyền tự do của mỗi công dân để phản đối và thách thức các hành động của cảnh sát mà không sợ bị bắt giữ hay giam cầm chính là một trong những đặc điểm mà chúng ta dùng để phân biệt một đất nước tự do và một chế độ công an trị” – thẩm phán Brennan, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, đã viết như vậy trong án lệ City of Houston v. Hill năm 1987.

Ảnh: beforeitsnews.com
                                                            Ảnh: beforeitsnews.com

Ở Việt Nam, các hành vi khinh miệt công an ngày càng được phản ánh nhiều hơn trên Internet và báo chí, mà vụ việc gần đây nhất là videoclip người mẫu Trang Trần chửi bới công an phường Hàng Buồm (Hà Nội) ngày 26/2/2015 vừa qua. Cô lập tức bị bắt và bị tạm giữ hình sự trong ba ngày trước khi được tại ngoại. So sánh với pháp luật Mỹ có thể gợi mở ra một hướng tranh luận cho vấn đề đang rất nóng hổi này ở Việt Nam.

Khinh miệt cảnh sát không phải là tội phạm

Khinh miệt tòa án – contempt of court – là tội hình sự ở Mỹ. Trong Bộ luật Hình sự của tiểu bang California, điều 166(a) ghi rõ những hành vi cấu thành tội khinh miệt tòa án, một tội tiểu hình theo luật của tiểu bang này. Một trong số những hành vi này là tội làm ồn, quấy nhiễu trật tự trong tòa án khi đang có phiên xử, bao gồm cả việc sử dụng ngôn ngữ để quấy rối. Vì tòa án là cơ quan tư pháp trong hệ thống tam quyền phân lập, là nơi đại diện cho sự thực thi pháp luật và do đó, tinh thần thượng tôn pháp luật cần phải được tôn trọng và bảo vệ qua việc đòi hỏi mọi người tham gia vào thủ tục tố tụng là phải đặt pháp luật – mà đại diện cho nó chính là hệ thống tư  pháp và tòa án – ở mức cao nhất.

Từ những năm của thập niên 60 ở Mỹ, bắt đầu có một cách gọi với hàm ý chế giễu việc cảnh sát Mỹ tự đặt mình ở địa vị của tòa án để xác định hành vi “miệt thị” áp đặt lên người dân khi phải trao đổi với cảnh sát. Thành ngữ  “Contempt of Cop” ra đời bằng cách ghép từ “cop” – một từ lóng dùng cho từ cảnh sát (police officer) ở Mỹ, và từ “contempt” – “khinh miệt” trong tội khinh miệt tòa án.

 Cùng một tư duy, những thành ngữ khác cùng ý niệm với “khinh miệt cảnh sát” ra đời, chẳng hạn như “disturbing the police” – gây rối lực lượng cảnh sát –  dựa theo tội “disturbing the peace” – gây rối trật tự công cộng. Mang nặng tính chế giễu hơn là “flunking the attitude test” – “thái độ không đủ điểm” hay “P.O.P”, viết tắt từ “Pissing Off the Police” – “chọc điên cảnh sát”.

Trong những bài viết hay các bài nghiên cứu về hành vi sai phạm của cảnh sát ở Mỹ (police misconduct), tội “khinh miệt cảnh sát” thường xuyên được mang ra để chỉ trích nhân viên công vụ ở Mỹ và hay được dùng làm kết luận một cách châm biếm rằng, tội này mới là tội ác “nghiêm trọng” nhất mà một bị can có thể phạm phải khi đối mặt với cảnh sát. Từ những định nghĩa này và các án lệ có liên quan, “khinh miệt cảnh sát” không phải là một tội hình sự để có thể dẫn đến việc giam giữ và bỏ tù công dân ở Hoa Kỳ.

Phạm vi “ngôn từ gây hấn” dần bị thu hẹp

Tu chính án thứ Nhất bảo vệ tự do ngôn luận của tất cả mọi người, trong mọi trường hợp, kể cả bị can của một vụ án.

Quyền tự do ngôn luận bảo vệ cả những ngôn từ, cho dù có dung tục và lạm dụng, nhưng nếu không có ý đồ đe dọa, (non-threatening verbal abuse), thì cho dù có sử dụng đối với nhân viên cảnh sát vẫn không phải là hành vi cấu thành tội hình sự ở Mỹ.

Cho dù hệ thống tòa án Mỹ có những quan điểm khác nhau về định nghĩa của những ngôn từ được bảo vệ (protected speech) của Tu chính án thứ Nhất, định nghĩa về “ngôn từ gây hấn” (fighting words) vẫn là một trong những chuẩn mực dùng để xem xét tính hợp hiến của những đạo luật hay các bộ luật giới hạn sự tự do ngôn luận, ngay cả những trường hợp có liên quan đến nhân viên công vụ. Điều đáng chú ý là từ năm 1942, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã bắt đầu có định nghĩa về “ngôn từ gây hấn” theo phán quyết của Chaplinsky v. New Hampshire 315 U.S. 568 (1942).

“Có một điều đã được hiểu rất rõ ràng đó là quyền tự do ngôn luận là không tuyệt đối. Có những thể loại của ngôn từ đã được định nghĩa và khoanh vùng để ngăn cấm và trừng phạt chúng mà không cần phải xem xét về tính hợp hiến. Đó là những ngôn từ vô sỉ, khiêu dâm, báng bổ, mạ lỵ và sỉ nhục, hay còn là ngôn từ “gây hấn” – những ngôn từ mà ngay khi cất tiếng chỉ có duy nhất một ý niệm là dùng để gây thương tổn hoặc kích động việc gây rối an ninh, trật tự. Những ngôn từ này vốn đã được nhìn nhận là không có bất kỳ đóng góp gì cho thể hiện tư tưởng, và cũng không có giá trị xã hội đáng kể, cho nên sự thật là bất kỳ lợi ích gì mà những ngôn từ này mang lại cũng không thể so sánh với tầm quan trọng của việc giữ gìn kỷ cương và luân thường trong xã hội”.

Kể từ đó, định nghĩa về “ngôn từ gây hấn” đã bị thu hẹp hơn rất nhiều trong vòng 60 năm qua. Án lệ quan trọng nhất cho định nghĩa ngôn từ gây hấn sau Chaplinsky có thể nói đến là án lệ Cohen v. California (1971) 403 U.S. 15.

Để phản đối chế độ quân dịch trong cuộc chiến Việt Nam, Paul Cohen đã mặc một chiếc áo với dòng chữ “Fuck the Draft” vào một tòa án ở California. Paul Cohen đã bị bắt và bị kết tội theo một đạo luật hình sự của tiểu bang, cấm đoán bất kỳ hành vi khiếm nhã nào để có thể gây mất trật tự công cộng một cách cố tình và có ác ý.

Tòa án California dựa theo phán quyết Chaplinsky để đưa ra kết luận chiếc áo của Cohen với dòng chữ trên đã cấu thành “ngôn từ gây hấn”. Tuy nhiên, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã lật lại bản án của Cohen và đưa ra một định nghĩa thu hẹp cho “ngôn từ gây hấn”. Theo đó, phần phán quyết được viết bởi thẩm phán John Paul Harlan đã đòi hỏi “ngôn từ gây hấn” chỉ có thể là những câu nói xúc phạm hay sỉ nhục nhắm đến một cá nhân một cách rõ ràng và trực tiếp bởi vì “một câu nói thô tục đối với một người lại có thể là những giai điệu thơ ca đối với một người khác”.

Cảnh sát không có quyền để giới hạn ngôn luận của người dân ngay cả khi đang thi hành công vụ

Một năm sau phán quyết của án lệ Cohen, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ tiếp tục ra phán quyết Gooding v. Wilson (1972) 405 U.S. 518 và đã lật lại bản án hình sự của một công dân tiểu bang Georgia.

Bị cáo James Wilson đã bị bắt và bị buộc tội gây rối trật tự công cộng khi anh ta đã nhục mạ và chửi bới một nhân viên cảnh sát cộng với một câu hăm dọa. Nguyên văn câu nói của Wilson là “White son of a bitch, I’ll kill you”, và “You son of a bitch, I’ll choke you to death”, tạm dịch là: “Thằng chó da trắng, tao sẽ giết mày” và “Đồ chó đẻ, tao sẽ siết cổ mày đến chết”.

Người mẫu Trang Trần. Ảnh: newsen.vn
 Nếu ở Mỹ, với những câu chửi tục với công an, sẽ rất khó xử phạt hay bỏ tù Trang Trần, bởi chửi tục cũng được coi là một phần của quyền tự do ngôn luận và luật Mỹ không có xu hướng hình sự hóa vấn đề này. Tòa án dân sự mới là nơi thường được dùng để phân xử những vụ việc như vậy. Ảnh: newsen.vn

Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã cho rằng điều luật của tiểu bang Georgia nhằm hình sự hóa hành vi của Wilson đã vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ vì nó trừng phạt cả những ngôn từ không nằm trong định nghĩa “ngôn từ gây hấn” của án lệ Chaplinsky. Ở đây có thể thấy rằng, khi một điều luật của một bộ luật tiểu bang, như luật của Georgia trong vụ án Gooding v. Wilson, bị phán xét là vi hiến bởi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ thì nó không còn giá trị pháp lý để buộc tội người dân và bản án phải bị hủy bỏ.

Tương tự, vào năm 1974, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ tiếp tục ra phán quyết Lewis v. City of New Orleans (1974) 415 U.S. 130 (1974) lật lại bản án buộc tội bà Mallie Lewis.

Bà Lewis đã bị bắt theo một điều luật của thành phố dùng để hình sự hóa hành vi “sử dụng ngôn từ thô tục và lăng nhục nhân viên cảnh sát” sau khi đã chửi bới người cảnh sát viên đòi hỏi chồng của bà xuất trình bằng lái xe.

Thẩm phán Brennan của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã viết trong phán quyết của tòa, là điều luật này của thành phố New Orleans vi phạm quyền tự do ngôn luận nằm trong Tu chính án thứ Nhất bởi vì “ngôn từ lăng nhục theo định nghĩa của điều luật này bao gồm cả những từ ngữ mà khi nói ra không gây ra thương tổn hay ngay lập tức kích động một hành vi gây mất an ninh, trật tự”.

Năm 1987, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ một lần nữa tuyên bố một điều luật hình sự hóa hành vi cản trở nhân viên công lực chấp pháp của thành phố Houston, tiểu bang Texas, là vi hiến trong án lệnh City of Houston v. Hill (1987) 482 U.S. 451.

Raymond Wayne Hill đã bị bắt vì vi phạm điều luật của thành phố Houston, theo đó một người chống đối, lạm dụng, xâm hại, hay gây rối nhân viên cảnh sát khi đang làm nhiệm vụ sẽ bị buộc tội hình sự. Hill đã bị bắt giữ sau khi anh ta lớn tiếng mắng nhân viên cảnh sát đang chất vấn một người bạn của anh ta. Hill đã mắng nhân viên cảnh sát với câu nói: “Sao mày không giỏi đi kiếm chuyện với một đứa nào đồng cân đồng lạng với mày ấy?”

Thành phố Houston đã lý luận cho tính hợp hiến của điều luật thành phố rằng nó không nhắm vào việc giới hạn quyền tự do ngôn luận của người dân mà đây là một điều luật trừng trị những hành vi phạm pháp luật. Thẩm phán Brennan của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã bác bỏ lập luận này và đã viết phán quyết của tòa là điều luật này đã vi hiến vì nó giới hạn quyền tự do sử dụng ngôn từ để phản đối và thách thức hành động của cảnh sát.

Ngôn ngữ hình thể cũng có thể bị ghép vào “ngôn từ gây hấn”. Vào năm 2013, Tòa Phúc thẩm Liên bang Địa phận Số 2 (U.S. Court of Appeals for the 2nd District) ở New York đã ra phán quyết trong vụ án Swartz v. Insogna và quyết định rằng hành vi đưa ngón tay giữa với cảnh sát (“ngón tay thối” – một hành động dung tục và khiếm nhã theo văn hóa Mỹ) không đủ để cấu thành một hành động quấy rối trật tự công cộng hay một lý do hợp lý cho việc yêu cầu dừng phương tiện giao thông để hợp tác với cảnh sát. Vì vậy, việc bắt giữ Swartz sau đó là một hành động lạm quyền của người thi hành công vụ.

Bởi vì quyền thẩm định tính hợp hiến của một điều luật hay đạo luật trong hệ thống tam quyền phân lập ở Hoa Kỳ nằm trong tay ngành tư pháp. Do đó, khi nhánh lập pháp ban hành một điều luật, người dân có quyền yêu cầu tòa án quyết định tính hợp hiến của điều luật dùng để buộc tội họ.

Tuy các tòa án cấp dưới có những phán quyết khác nhau về “ngôn từ gây hấn” khi sử dụng với nhân viên công quyền, các án lệ của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ trong vấn đề này cho đến ngày hôm nay có lẽ được diễn đạt tốt nhất qua câu chữ của thẩm phán Brennan trong án lệnh City of Houston v. Hill:

“Quyền tự do của mỗi công dân để phản đối và thách thức các hành động của cảnh sát mà không sợ bị bắt giữ hay giam cầm chính là một trong những đặc điểm mà chúng ta dùng để phân biệt một đất nước tự do và một chế độ công an trị”.

Vi Katerina Tran 

Tài liệu tham khảo:

Y tá gốc Việt bị nhiễm Ebola đâm đơn kiện

Bác sĩ Anthony Fauci, Giám đốc Viện Dị ứng và Các bệnh truyền nhiễm, ôm cô Nina Phạm khi cô được cho xuất viện sau khi chữa khỏi bệnh Ebola, ngày 24/10/2014.
Bác sĩ Anthony Fauci, Giám đốc Viện Dị ứng và Các bệnh truyền nhiễm, ôm cô Nina Phạm khi cô được cho xuất viện sau khi chữa khỏi bệnh Ebola, ngày 24/10/2014.

Nữ y tá gốc Việt Nina Phạm hôm nay đã đâm đơn kiện Texas Health Resources, công ty quản lý bệnh viện nơi cô từng làm việc, vì cho rằng cơ sở y tế này đã không huấn luyện nhân viên điều trị Ebola cũng như không cung cấp đầy đủ thiết bị bảo hộ cần thiết.

Ngoài ra, cô Nina còn cho rằng công ty trên vi phạm sự riêng tư của cô khi chia sẻ hồ sơ bệnh lý của cô.

Truyền thông Hoa Kỳ dẫn lời luật sư của cô Nina cho biết như vậy hôm nay. Người đại diện này cho biết thêm rằng cô gái gốc Việt 26 tuổi hiện phải đối mặt với các hệ quả của việc bị nhiễm Ebola như đau nhức người và gặp phải ác mộng.

Vị luật sư cũng cho biết thêm rằng cô Nina hiện vẫn chưa làm việc trở lại và bà không biết rằng liệu sau này cô có còn làm công việc y tá nữa hay không.

Một thông cáo của công ty quản lý bệnh viện ở Texas nói rằng cô Nina đã “dũng cảm làm việc trong thời kỳ khó khăn nhất”, và họ hy vọng rằng “các cuộc đối thoại mang tính xây dựng có thể giải quyết” vấn đề kiện tụng.

Năm ngoái, cô Nina đã trở thành bệnh nhân đầu tiên bị nhiễm Ebola ở Mỹ sau khi chăm sóc cho một công dân người Liberia tại bệnh viện Texas Health Presbyterian.

Cô bị nhiễm virus chết người sau 3 ngày chăm sóc bệnh nhân mà sau đó cũng tử vong. Tuy nhiên, cô đã được chữa khỏi và cho xuất viện rồi được tới gặp Tổng thống Barack Obama.

Trường hợp của cô Nina đã thu hút sự chú ý không chỉ báo giới ở Mỹ mà còn cả truyền thông Việt Nam.

Theo ABC, CNN, KTVT

(VOA)

Campuchia trục xuất 36 người Thượng VN, 13 người chờ được tị nạn

Người Thượng từ Việt Nam vượt biên vào Campuchia, ẩn trốn trong rừng trong vùng đông bắc, lo sợ nhà chức trách Campuchia trục xuất họ. (Liên hiệp quốc)
Người Thượng từ Việt Nam vượt biên vào Campuchia, ẩn trốn trong rừng trong vùng đông bắc, lo sợ nhà chức trách Campuchia trục xuất họ. (Liên hiệp quốc)
Mười ba người Thượng Việt Nam đã được nhà chức trách Campuchia đề nghị cho tị nạn, và đang chờ Bộ trưởng Nội vụ nước này phê duyệt.

Nhưng ngay khi tin tức này được loan báo vào ngày thứ Hai, có tin cho biết 36 người khác chạy khỏi Việt Nam đã bị bắt giữ và bị trục xuất hồi tuần trước.

Ông Chhay Thy, điều phối viên cho tổ chức nhân quyền Adhoc ở tỉnh Ratanakkiri, cho biết 36 người này, những người mà ông nói là người Jarai, đã bị bắt giữ khi họ tìm cách trốn đến Phnom Penh trong ba chiếc xe tải nhỏ vào đêm ngày 25 tháng 2.

"Ba mươi sáu người Thượng thuộc dân tộc Jarai Việt Nam đã bị bắt giữ và trả về Việt Nam. Một người đàn ông Jarai người Campuchia làm người hướng dẫn của họ, cũng đã bị bắt. Những người Jarai Việt Nam xác nhận [qua điện thoại] rằng họ đã được trả về Việt Nam, nhưng người đàn ông Jarai Campuchia bị đẩy vào một chiếc xe cảnh sát và chở đi," ông Thy nói.

Bộ Nội vụ Campuchia cho biết 36 người được phát hiện là "người nhập cư bất hợp pháp."

Phát ngôn viên Khieu Sopheak của Bộ nói thêm rằng tình trạng tị nạn cho 13 người còn lại giờ sẽ được cứu xét để xác nhận chính thức.

Nhóm 13 người này, trong đó có một phụ nữ, đã chạy vào rừng ở tỉnh Ratanakkiri vào cuối năm ngoái và đã được đưa đến Phnom Penh với sự hỗ trợ của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Người tị nạn.

Người Thượng, nhiều người trong số họ theo đạo Tin Lành, lâu nay vẫn tuyên bố là bị đàn áp ở Việt Nam vì lý do tôn giáo và vì giúp đỡ quân đội Mỹ trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam. Người Thượng trước đây từng gây nên căng thẳng chính trị.

Vào năm 2000 và 2001, hàng ngàn người đã bỏ trốn sang Campuchia. Nhiều người đã bị bắt lại và trả về Việt Nam, dù một số người khác cuối cùng được cho tị nạn tại Mỹ và các nước phương Tây khác.

(VOA)

Trái tim bất tử đó bây giờ ở đâu?

Nửa thế kỷ là quãng thời gian khá dài, nhưng nhiều người Việt Nam vẫn còn thắc mắc, tại sao trái tim của thầy Quảng Đức không bị đốt cháy? Mới đây tui đọc trên một tạp chí Phật Giáo, tác giả là người từng đi học tập cải tạo tại trại Suối Máu – Biên Hòa, năm 1976 với hòa thượng Thích Thanh Long, nguyên Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa; ông đã kể lại vầy:

"Tôi không nhớ rõ thời gian bao lâu trước ngày thầy Quảng Đức tự thiêu, trong một buổi họp kín giữa những thành phần lãnh đạo cuộc đấu tranh Phật Giáo tại chùa Xá Lợi, trong đó có tôi. Sau khi bàn thảo xong các việc, đến phần linh tinh thì Thầy Quảng Đức giơ tay, xin ghi tên tự thiêu. Vì là chỗ thân tình, mà cũng để đùa với ông, nên tôi nói: "Này Thầy ơi! Mấy vị Thiền sư khi chết thường để lại xá lợi đấy nhé. Vậy Thầy định để lại cái gì?" Ngay lúc đó, theo phản ứng tự nhiên ông trả lời tôi: "Để lại trái tim được không?" Tôi đáp: "Được chứ, tốt lắm, tốt lắm!" Sau buổi họp hôm đó, tôi đã gọi Taxi đưa Thầy Quảng Đức về chùa Quán Âm trước, rồi sau mới về chùa mình.


Thời gian tiếp theo vì bận Phật sự và việc đấu tranh tôi cũng quên đi chuyện nàỵ. Đến ngày 20.4 năm Quý Mão tức ngày 11.6.1963 thì Thầy Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư Phan Đình Phùng - Lê Văn Duyệt (bây giờ là Cách mạng tháng 8 – Nguyễn Đình Chiểu) vào lúc 11 giờ trưa. Khi đó tôi đang ở chùa Xá Lợi họp. Lúc đó tình hình rất căng, vì nằm trong thành phần lãnh đạo nên tôi ở luôn tại chùa Xá Lợi để được bảo vệ chứ không về chùa nữa. Nhục thân Thầy Quảng Đức được mang về chùa Xá Lợi nên các Phật tử thường xuyên đến viếng, ngày đêm hàng ngàn người. Mãi năm ngày sau mới đem xuống thiêu tại An Dưỡng Địa Phú Lâm.

Vào chiều ngày 16.6.63, một Thầy trẻ phụ trách việc thiêu đã chạy về chùa Xá Lợi bạch rằng đã thiêu xong, nhưng không hiểu sao trái tim chưa bị rã, tôi và các vị lãnh đạo cho lệnh tiếp tục thiêu thêm 6 giờ nữa. Sáng ngày hôm sau, cũng Thầy trẻ trên đã về chùa Xá Lợi tay cầm trái tim mầu nâu cứng với nước mắt đầm đìa, nói rằng đã thiêu thêm lò điện không chỉ 6 mà đến 10 tiếng đồng hồ nhưng trái tim vẫn còn, nên đành chịu mà phải mang về trình lên Hội Đồng Viện. Lúc đó tôi nghĩ rằng trái tim thuộc loại cơ nhục nên có lẽ không cháy, thôi thì để thờ. Bốn ngày sau, một Thượng Tọa bên Nguyên Thủy viên tịch cũng đem thiêu thì cốt thành tro hết, lúc đó tôi mới suy nghĩ và nhớ lại câu nói đùa của tôi và lời hứa của Thầy Quảng Đức trong ngày ghi tên xin được tự thiêu. Và tôi tự giải thích rằng: Trong khi Thầy Quảng Đức ngồi Thiền để tự thiêu thì Thầy đã dùng lửa Tam Muội là một thứ nội hỏa đốt đi trái tim của mình, khiến trái tim đã hóa thạch mà lửa thường không thể đốt nổi. Lửa Tam Muội đã khiến trái tim Thầy Quảng Đức thành Kim Cang bất hoại."

Trái tim bất tử đó bây giờ ở đâu?

Đầu tiên được trưng bày ở chùa Xá Lợi. Sau 1965 chuyển sang Việt Nam quốc tự (Q.10) và cất trong tủ sắt lớn ở phòng trụ trì - hòa thượng Thích Từ Nhơn (vừa viên tịch ngày 29.4.2013, hình tui chụp hòa thượng vào Phật Đản 2012). Nhưng do chùa hay bị quấy nhiễu nên trái tim được gửi vào một chi nhánh Ngân hàng Pháp ở Sài Gòn, trong một két sắt đặt dưới tầng hầm. Ngân hàng chỉ có hai chìa khóa: hòa thượng Thích Từ Nhơn giữ một chìa, còn chìa kia ngân hàng chính giữ bên Pháp. Sau năm 1975, nhà nước bảo quản một thời gian dài, đến 1991 thì giao lại cho Ngân hàng Nhà nước ở TP.HCM có mặt của đại diện chính quyền và hòa thượng Thích Từ Nhơn; nhưng cũng không ai mở ra xem tình trạng như thế nào chỉ thấy chiếc tháp đồng đựng trái tim vẫn nguyên vẹn chữ ký niêm phong. Hòa thượng Thích Từ Nhơn nói với tui là từ đó đến giờ không ai mở ra xem nữa. Như vậy, mấy chục năm qua chưa ai nhìn thấy được trái tim bất tử của Thầy Quảng Đức đang ở trong tình trạng nào.

Mới đây, tại cuộc họp báo do Giáo hội Phật giáo Việt Nam TP.HCM tổ chức, trong khuôn khổ triển lãm di sản văn hóa mỹ thuật Phật giáo tại chùa Phật học Xá Lợi (từ ngày 16 đến 24.5.2013); có trưng bày các kỷ vật và hình ảnh tư liệu của Thầy Quảng Đức…khi được hỏi về “Trái tim bất tử” mấy sư thầy ban tổ chức có trả lời là Giáo hội PGVN có làm công văn gửi xin chính quyền TP.HCM cho phép mang trái tim ra trưng bày để Phật tử về chiêm bái, nhưng không được đồng ý.

Còn chiếc xe chở thầy Quảng Đức tới nơi tự thiêu, đang để ở chùa Thiên Mụ nè. Trước chỗ để xe trong Thiên Mụ giờ có một giàn hoa tím rất đẹp!

Lê Nguyễn Hương Trà

(FB Lê Nguyễn Hương Trà)

Lê Diễn Đức - Anh hùng bàn phím

Mới đây, trong ngày 24 tháng 2 năm 2015, Thứ Trưởng Bộ Thông Tin và Truyền Thông Trương Minh Tuấn, “Trong cuộc trao đổi với báo giới nhân dịp đầu Xuân Ất Mùi, đề cập tới hiện trạng xuất hiện nhiều blog cá nhân đưa thông tin xuyên tạc, bịa đặt về đảng và nhà nước, bôi nhọ các cá nhân các cấp, gây chia rẽ giữa đảng và nhân dân.”

Ông Tuấn nói rằng, “một giải pháp đối phó, ngăn chặn thông tin xấu, độc hại trên môi trường mạng là cần có những phóng viên giỏi có khả năng đấu tranh trực diện trên mạng.” [1]

Ông Trương Minh Tuấn cho rằng, những thông tin xấu độc hại đó “nếu không kịp thời ngăn chặn, giải quyết thì sẽ tác động rất lớn đến tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân, gây tâm lý hoài nghi trong xã hội.”

Trước đó không lâu, ông Trương Minh Tuấn nhận định rằng, “Có thể gọi chung đây là tội phạm không gian ảo, vi phạm pháp luật Việt Nam. Loại tội phạm này có thể bị xếp vào những nguy cơ đe dọa an ninh lớn nhất cho đất nước. Như ở Anh tội phạm này bị xếp ngang hàng tội phạm tấn công khủng bố, thảm họa hạt nhân...” [2]

Rõ ràng, không gian điện tử vô tận đã trở thành vấn đề nhức nhối và nghiêm trọng đối với bộ máy kiểm duyệt của chế độ Cộng Sản Việt Nam.

Đặc biệt, nhu cầu sử dụng mạng xã hội ngày càng tăng của giới trẻ là sự ám ảnh của nhà cầm quyền trước việc dân chúng tiếp cận với các nguồn thông tin đa chiều, tạo ra nguy cơ mà họ gọi là “diễn biến hòa bình.”

Các cuộc vận động dân chúng xuống đường tranh đấu qua Facebook, Google, Twiter trong cuộc cách mạng mùa Xuân Ả Rập năm 2011, hoặc sinh viên Hồng Kông sử dụng mạng FireChat để kết nối trong các cuộc biểu tình năm 2014 là trải nghiệm lo sợ của các chế độ độc tài.

Thông tin là nền tảng của trí thức. Trước một sự kiện, nếu được cung cấp thông tin từ nhiều phía, con người có thể tổng hợp, sáng suốt đưa ra nhận định chính xác về nguyên do và bản chất của sự kiện xảy ra.

Thông tin một chiều ngăn chặn sự hiểu biết, là một kiểu xúc tác có điều kiện khiến con người trở nên dễ dãi, phản ứng giống như những con chó của Pavlov trong thí nghiệm khoa học. Do đó, ngăn chặn tự do tiếp cận thông tin nằm trong chính sách ngu dân hóa để dễ bề cai trị của nhà cầm quyền CSVN.

Để thực hiện chính sách ấy, ngay khi cướp được chính quyền, ĐCSVN đã không ngừng tăng cường và phát triển mạng lưới kiểm soát thông tin và in ấn, xuất bản. Đây là một cấu trúc liên đới khổng lồ của các Bộ Công An, Bộ Thông Tin và Truyền Thông, Bộ Văn Hóa và các ban ngành hữu quan. Người đứng đầu là trưởng Ban Tuyên Giáo của Trung Ương ĐCSVN, cơ quan tham mưu trực tiếp của ĐCSVN và thường xuyên là Bộ Chính Trị về chính trị, tư tưởng và chính sách trong lĩnh vực tuyên truyền, báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo.

Ngoài bộ máy hành chính khổng lồ và các phương tiện kỹ thuật và tài chính to lớn, họ còn huy động 80 ngàn tuyên truyền viên miệng nhằm mục đích phản biện, khiêu khích, làm nhiễu loạn thông tin. [3]

Nếu quan sát, chúng ta dễ dàng nhận ra những tuyên truyền viên miệng xuất hiện trên mạng đa phần dùng nickname giả. Kiến thức xã hội của họ rất yếu kém, trong khi đi bảo vệ cái sai, nên lý luận ngây ngô. Trong trường hợp bí bách quá thì họ thường “lặn” luôn hoặc sử dụng ngôn ngữ dung tục, mất văn hóa, đánh lạc hướng chủ đề hoặc cố ý khiêu khích người đối thoại. Họ hành xử của họ không khác những tên “côn đồ” ở ngoài đời.

Xem ra đội ngũ 80 ngàn dư luận viên không mang lại hiểu quả mong muốn, trong tháng 3 năm 2013, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố đầu tư 200 triệu đô la cho Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh xây dựng mạng xã hội cho giới trẻ.

Chẳng biết dự án của ông Nguyễn Tấn Dũng hiện giờ đi đến đâu, chỉ thấy số người Việt sử dụng Facebook không ngừng tăng, các trang mạng xã hội khác không có cơ hội sánh kịp. Theo thống kê của Ylinkee đến tháng 5, 2014 tại Việt Nam có đến 24 triệu người dùng Facebook, trong đó mam giới chiến 55% và nữ giới 45%, độ tuổi sử dụng nhất là 18-30.

 Cũng rất có thể dự án của Nguyễn Tấn Dũng chỉ là cái cớ để rút tiền ngân sách và có cơ hội đục khoét, nhất là khi con trai của ông ta, Nguyễn Minh Triết, là thành viên của Ban Chấp Hành Trung Ương Đoàn từ cuối năm 2012.

Nỗ lực đánh phá, ngăn chặn các trang mạng lề dân, triệt hạ các trang mạng ngoài luồng, xây dựng đội ngũ “dư luận viên” làm “chuyên gia bút chiến,” ra các quy định về biện pháp và trang thiết bị kiểm soát hoạt động Internet ở Việt Nam, quản lý 17 ngàn phóng viên chuyên nghiệp, nhà cầm quyền CSVN đã mở cuộc tổng phản công trên mặt trận không tiếng súng này.

Các nỗ lực kiểm duyệt Internet của nhà cầm quyền đã khiến tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới liên tục đưa Việt Nam vào danh sách “kẻ thù của Internet.” Các tổ chức nhân quyền và chính phủ phương Tây phương luôn chỉ trích nhà cầm quyền Việt Nam bắt giữ và bỏ tù các nhà hoạt động mạng. Dân biểu Hoa Kỳ Loretta Sanchez trong năm 2011 đã đưa ra dự luật “Kêu Gọi Tự Do Internet ở Việt Nam” vào kêu gọi Việt Nam hủy bỏ Điều 88 và những luật liên quan dùng để giới hạn Internet.

Những kẻ ủng hộ nhà cầm quyền hoặc dư luận viên thường gán cho những người chỉ trích, phê phán chế độ Cộng Sản trên mạng là những “anh hùng bàn phím.”

Tôi không lấy cách nói mỉa mai đó làm giận mà thấy rằng, được gọi “anh hùng bàn phím” là một điều không có gì phải tự ái, thậm chí đáng tự hào.

Xem thông tin là mặt trận, nhà cầm quyền Cộng Sản vận dụng mọi khả năng để hành động. Không cầm súng trực tiếp chiến đấu với họ, nhưng sử dụng ngòi bút, bàn phím làm vũ khí chống lại họ, mà được cho là “anh hùng” thì quả là hãnh diện.

Trường Chinh, một lãnh đạo tiền bối của ĐCSVN đã từng ý thức được sức mạnh của ngòi bút. Ông ta chẳng viết, “Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ - Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền,” đó sao!

Trong các nước dân chủ vì có báo chí tự do nên nhà nước không phải đẻ ra một cơ quan kiểm soát và đối phó với thông tin. Quyền tự do ngôn luận dường như bất khả xâm phạm. Nếu báo chí phạm tội vu khống, thóa mạ, người bị tổn hại có thể đưa ra tòa án giải quyết.

Là không khí của xã hội minh bạch, báo chí tự do lành mạnh hóa xã hội, là công cụ đắc lực giúp nhà nước đưa ra công luận các tệ nạn, đặc biệt là tội lạm dụng quyền hành của các quan chức hay tham nhũng. Báo chí tự do thực sự là quyền lực thứ tư, nó có thể làm một tổng thống mất chức. Tổng Thống Nixon trong vụ “Watergate” tại Hoa Kỳ năm 1972 là ví dụ điển hình.

Hai nhà báo Bob Woodward và Carl Bernstein của tờ Washington Post đã công bố trên mặt báo về cuộc đột nhập văn phòng của Đảng Dân chủ tại khách sạn Watergate (Washingtn DC). Quốc hội Mỹ đã phải lập ủy ban điều tra. Trước nguy cơ bị quốc hội phế truất, ngày 9 tháng 8 năm 1974, Tổng thống Nixon đã tuyên bố từ chức.

Vì bản chất dối trá nên ĐCSVN muốn tiếng nói của họ đối với xã hội phải được định hướng theo cái cách mà họ muốn. Hàng trăm tờ báo, hàng ngàn đài phát thanh, truyền hình đều được xem là công cụ bảo vệ chế độ.

Trường hợp nếu chẳng may có những thông tin khác ý, bất lợi thì chúng đều nhanh chóng bị loại bỏ và tác giả có thể bị quy kết chống lại chế độ. Gần đây, báo “Người Cao Tuổi” đụng đến vấn đề tham nhũng ở thượng tầng đã ngay lập tức bị rút giấy phép và truy tố. Tấm hình về bộ bàn ghế chạm trổ đầu rồng trong tư gia của cựu Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh đã bị gỡ xuống không một lời thanh minh hay xin lỗi sau khi có phản ứng dữ dội của dư luận. Mạng lưới kiểm duyệt vẫn thường xuyên tạo ra những trò bất tín, trơ trẽn trong tập quán truyền thông.

Tóm lại, mặt trận thông tin là cuộc chiến một mất một còn giữa cái Thiện và cái Ác, phát triển với quy mô ngày một lớn và quyết liệt. Làm một chiến sĩ thông tin tự do, một “anh hùng bàn phím” đồng nghĩa với việc góp phần khai dân trí, thổi luồng gió dân chủ vào xã hội bức bí của Việt Nam.

Lê Diễn Đức

(Người Việt)


Chú thích:

[1]: http://infonet.vn/can-co-nhung-phong-vien-gioi-de-dau-tranh-truc-dien-tren-mang-post158786.info 
[2]: http://dantri.com.vn/xa-hoi/canh-giac-tay-chay-thong-tin-boi-nho-nguy-tao-1021133.htm 
[3]: http://laodong.com.vn/xa-hoi/ca-nuoc-co-gan-80000-tuyen-truyen-vien-mieng-99679.bld

'Xử lý nghiêm khắc' là cảnh cáo và thuyên chuyển

ĐẮK LẮK 2-3 (NV) - Công an tỉnh Đắk Lắk chỉ cảnh cáo và thuyên chuyển 11 sĩ quan Công an huyện Cư Kuin liên quan đến chuyện nhận hối lộ, buôn lậu, dọa bắn các công chức đang thi hành công vụ.

Ông thiếu tá Công an Võ Ngọc Quang tại cuộc họp mà ông ta đã lăng mạ và rút súng dọa bắn các thành viên Đoàn Kiểm tra hành chính liên ngành. (Hình: Internet)

Năm ngoái, báo chí Việt Nam công bố nhiều bằng chứng liên quan đến việc các Điều tra viên của Công an huyện Cư Kuin bắt nhiều người, hăm dọa họ để được hối lộ. Một số trường hợp nhận hối lộ để làm sai lệch hồ sơ liên quan đến cả những Kiểm sát viên của Viện Kiểm sát huyện Cư Kuin.

Thay vì phải điều tra, truy cứu trách nhiệm hình sự, Viện Kiểm sát tỉnh Đắk Lắk, điều động Kiểm sát viên có liên quan đi nơi khác. Công an tỉnh Đắk Lắk cũng vừa làm như vậy với 11 sĩ quan công an huyện Cư Kuin.

Theo thông báo của Công an tỉnh Đắk Lắk, tuy 11 sĩ quan công an của Công an huyện Cư Kuin đã “nhận hối lộ, có sai sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ” song ông Nguyễn Bường - Đại tá, Trưởng Công an huyện Cư Kuin chỉ bị cảnh cáo rồi được rút về làm Trưởng phòng An ninh xã hội của Công an tỉnh Đắk Lắk.

Ông Cao Tiến Phu – Thượng tá, Phó Công an huyện Cư Kuin, cũng chỉ bị cảnh cáo và được điều động về Công an tỉnh Đắk Lắk để chờ sắp xếp công tác mới.

Ông Ngô Xuân Thìn - Trung tá, Đội trưởng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế, chức vụ và môi trường của Công an huyện Cư Kuin cũng chỉ bị cảnh cáo và được điều động về Công an tỉnh Đắk Lắk để chờ sắp xếp công tác mới.

Ông Võ Ngọc Quang - Thiếu tá, Đội trưởng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội và ma túy của Công an huyện Cư Kuin thì bị cách chức và được điều động về Công an tỉnh Đắk Lắk để làm việc tại Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an tỉnh Đắk Lắk. Các điều tra viên khác như ông Nguyễn Hồng Quán – Đại úy, ông Hoàng Đình Nam - Thượng úy cũng chỉ bị cảnh cáo.

Ông Huỳnh Thanh Hải - Thượng tá, Phó Công an huyện, ông Nguyễn Văn Tiến - Thiếu tá, Đội trưởng Đội cảnh sát Thi hành án và hỗ trợ tư pháp, ông Phạm Duy Khuê - Đại uý,  Đội phó Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội và ma túy, ông Nguyễn Như Trung – Thượng úy, Điều tra viên và ông Trần Đình Tuấn – Thiếu úy, Điều tra viên chỉ phải “kiểm điểm, rút kinh nghiệm” rồi… thôi!

Một điểm đáng chú ý khác là báo chí Việt Nam chỉ thông báo “kết quá xử lý” của Công an tỉnh Đắk Lắk mà không hề nêu thắc mắc dù họ đã cùng dân chúng tố cáo vài scandal liên quan tới 11 sĩ quan này.

Chẳng hạn như scandal ông Võ Ngọc Quang - Thiếu tá, Đội trưởng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội và ma túy của Công an huyện Cư Kuin, rút súng dọa bắn các công chức đang thi hành công vụ.

Ngoài chuyện bị tố cáo nhận hối lộ, ông Quang còn bị tố cáo buôn lậu gỗ và đang cất giấu hàng chục khối danh mộc cả tại tư gia lẫn tại nhà nhạc gia nên hồi tháng 11 năm ngoái, chính quyền huyện Cư Kuin quyết định sẽ kiểm tra cả hai căn nhà.

Thay vì để người đến khám xét như thông lê, nhà cầm quyền huyện Cư Kuin lại mời ông Quang đến họp, đề nghị hợp tác, với lý do, “giữ uy tín cho đương sự”. Tuy nhiên tại cuộc họp, ông Quang từ chối hợp tác. Viên thiếu tá này yêu cầu các thành viên trong đoàn kiểm tra hành chính không được cùng vào tư gia của mình.

Ông Quang bảo rằng, ông ta chỉ cho phép từng thành viên vào nhà theo trật tự do ông sắp đặt. Ông Quang tuyên bố đã trữ sẵn 200 lít xăng, nếu không chấp nhận yêu cầu của ông, ông sẽ đổ xăng, đốt nhà. Khi đại diện nhà cầm quyền huyện Cư Kuin từ chối thực hiện yêu cầu kỳ quặc đó, ông Quang rút súng, chĩa vào các thành viên đoàn công tác liên ngành, dọa bắn từng người khiến các thành viên trong đoàn bỏ chạy tán loạn.

Cũng cần nói thêm là nhiều năm nay, tại huyện Cư Kuin, ông Quang được nhiều người  biết đến như một ông trùm, chuyên tổ chức khai thác – vận chuyển – chế biến gỗ lậu thành đồ gia dụng rồi chuyển đi bán. Bên cạnh đó, ông Quang la người chỉ huy điều tra các vụ án liên quan đến khai thác – vận chuyển gỗ lậu.

Hồi cuối tháng 10 năm ngoái, lực lượng liên ngành công an - kiểm lâm của tỉnh Đắk Lắk đã từng kiểm tra bốn điểm cất giấu – chế biến gỗ của ông Quang, phát giác một lượng lớn danh mộc bị cấm khai thác tại những điểm đó nhưng viên thiếu tá này vẫn bình an vô sự. Sau scandal vừa kể, Công an huyện Cư Kuin loan báo, ông Quang không hề rút súng hăm dọa ai. Tại cuộc họp vừa kể, ông ta chỉ vô ý làm… rớt súng khiến mọi người hiểu lầm!

Cũng trong tháng 11 năm ngoái, báo chí Việt Nam loan báo bà Nguyễn Thị Hằng và con trai là  Nguyễn Đình Tú bị Công an huyện Cư Kuin mời “làm việc”. Mẹ con bà Hằng và năm người khác đã từng ký tên vào một số đơn, tố cáo ông Quang vừa tổ chức khai thác – buôn lậu gỗ, vừa mở xưởng chế biến gỗ trái phép.

Tại buổi làm việc vừa kể, mẹ con bà Hằng phải “làm việc” với chính ông Quang - viên thiếu tá bị họ tố cáo trực tiếp tra vấn họ về việc ai đã soạn đơn cho họ ký.

Giống như hai thượng cấp, các đồng nghiệp và các thuộc cấp cùng làm việc tại Công an huyện Cư Kuin, ông Quang đã bị Công an tỉnh Đắk Lắk đã “xem xét và xử lý nghiêm khắc, không bao che”. Ông ta “bị” cách chức” và thuyên chuyển về làm việc tại…   Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an tỉnh Đắk Lắk! (G.Đ)

(Người Việt)

Trung Quốc có “từ bỏ Triều Tiên” hay không?

Gần đây, chuyên gia vấn đề Triều Tiên là giáo sư Lý Đôn Cầu của Đại học Triết Giang viết bài đăng trên Thời báo Hoàn Cầu, cho rằng “Có một số học giả chiến lược kiến nghị Trung Quốc từ bỏ Triều Tiên, vấn đề cực kỳ quan trọng”.

Tôi không đồng ý quan điểm của GS Lý Đôn Cầu, bởi lẽ hiện nay Trung Quốc không tồn tại vấn đề từ bỏ Triều Tiên.

China-North-KoreaThứ nhất, giáo sư Lý nói “Trung Quốc và Triều Tiên là hai quốc gia độc lập”, điểm này tôi hoàn toàn tán thành, nhưng nói “Hai nước Trung Quốc-Triều Tiên có lợi ích nhất trí” thì tôi không dám gật đầu bừa. Trung Quốc-Triều Tiên mỗi nước có lợi ích của mình, có lợi ích có thể gần nhau hoặc nhất trí, có lợi ích thì khác nhau nhiều.

Thí dụ Triều Tiên muốn sở hữu [vũ khí] hạt nhân còn Trung Quốc thì yêu cầu Triều Tiên bỏ [vũ khí] hạt nhân, khi đưa ra và kiên trì vấn đề này đều dựa trên lợi ích quốc gia khác nhau. Trên các vấn đề nguyên tắc lớn, Trung Quốc không cần phải vì lợi ích của Triều Tiên mà làm tổn hại lợi ích của mình. Triều Tiên sở hữu hạt nhân đã gây ra đe dọa nghiêm trọng ô nhiễm hạt nhân đối với vùng biên giới Trung Quốc. Vì sự an toàn của dân chúng Trung Quốc tại các vùng đó, không những phải nghiêm khắc phê bình Triều Tiên sở hữu hạt nhân mà còn hoàn toàn có lý do yêu cầu Triều Tiên đặt thiết bị hạt nhân cách xa Trung Quốc, không được gây ra đe dọa hạt nhân. Trên điểm này, phải chăng “Lợi ích của hai nước Trung Quốc-Triều Tiên là nhất trí”?

Ngoài ra, Triều Tiên sở hữu [vũ khí] hạt nhân thì có thể kích thích Nhật, Hàn Quốc cũng có [vũ khí] hạt nhân. Giả thử một vùng Đông Bắc Á bé nhỏ mà các nước Nga, Trung Quốc, Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật đều đồng thời sở hữu [vũ khí] hạt nhân, cộng thêm bóng đen hạt nhân của Mỹ, thì Đông Bắc Á có còn được an toàn không? Trên một loạt vấn đề nguyên tắc, Trung Quốc kiên trì lập trường của mình, phản đối Triều Tiên có những cách làm gây thiệt hại lợi ích của nước ta, không thể coi như thế là bỏ Triều Tiên. Trước đây Trung Quốc đã có quá nhiều sự việc “chùi đít” [ý nói xử lý hộ những tình hình khó khăn – ND] cho Triều Tiên rồi, chuyên gia [tức GS Lý] nên biết rõ hơn tác giả bài viết này. Sau đây thì có thể không phải làm như vậy nữa.

Thứ hai, GS Lý nói “Triều Tiên là nước theo chế độ chính trị XHCN, họ khó có sự lựa chọn địa chính trị nào thay thế cho Trung Quốc”.[1] Thực ra, từ lâu Triều Tiên đã từ bỏ việc lấy chủ nghĩa Mác-Lê làm tư tưởng chỉ đạo xây dựng đảng, trên ý thức hệ họ không có bất cứ điểm nào tương đồng với Trung Quốc, họ không phải là chính đảng của giai cấp vô sản và nhà nước XHCN. Trong Hiến pháp năm 1972, Triều Tiên còn quy định: “Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê vào tư tưởng tự chủ của Đảng Lao động Triều Tiên hiện thực ở nước ta, dùng làm phương châm hoạt động của mình”, nhưng đến Đại hội VI Đảng Đảng Lao động Triều Tiên thì lấy “Tư tưởng cách mạng, tư tưởng tự chủ của đồng chí Kim Nhật Thành làm phương châm chỉ đạo duy nhất”, “Lãnh tụ là ân nhân và người cha hiền từ của sinh mệnh nhân dân”, khi ấy Triều Tiên đã vứt bỏ chủ nghĩa Mác-Lê. Trong “Mười nguyên tắc lớn” của Đảng Đảng Lao động Triều Tiên (có địa vị cao hơn Điều lệ Đảng và Hiến pháp) đã xác định rõ dưới sự dẫn dắt của tư tưởng tự chủ, “phải làm sâu sắc việc tạo dựng sự nghiệp cơ chế lãnh đạo duy nhất của Đảng, và đời đời tiếp nối”, và quy định  “Phải mãi mãi tiếp nối huyết thống Bạch Đầu Sơn (tức huyết thống nhà họ Kim) – huyết mạch của Đảng và cách mạng, và kiên quyết giữ gìn tính thuần khiết tuyệt đối của huyết thống đó”. Ở đây có một chút mùi vị nào của chủ nghĩa Mác không nhỉ?

Những suy đoán tương tự còn rất nhiều, mong chuyên gia kể nhiều thêm cho bạn đọc nghe, để bạn đọc tự đưa ra phán đoán!

Hai nước Trung Quốc – Triều Tiên chỉ có mối quan hệ về lợi ích quốc gia, tức quan hệ nhà nước, mà không tồn tại mối quan hệ đồng chí giữa các chính đảng XHCN, đây là [do] Triều Tiên chủ động vứt bỏ.

Khác đường đi thì không thể cộng sự với nhau. Tư tưởng xây dựng đảng của giai cấp vô sản thì tiên tiến hơn rất nhiều, cũng cao siêu hơn rất nhiều so với tư tưởng xây dựng đảng của giai cấp tư sản, càng tiến bộ rất nhiều so với tư tưởng chuyên chế phong kiến, phù hợp với phương hướng lớn của sự phát triển xã hội nhân loại. Nước ta do Đảng Cộng sản nắm chính quyền, các đảng phái dân chủ tham gia chính quyền, qua hiệp thương và bầu cử mà bầu lên các thế hệ tập thể lãnh đạo và người lãnh đạo cao nhất. Còn ở Triều Tiên thì ba thế hệ người lãnh đạo là cha truyền con nối [nguyên văn thế tập]. Hai điểm đó có gì tương đồng hay không? Đảng CSTQ và Chính phủ Trung Quốc chung sống với Triều Tiên theo nguyên tắc hai chính đảng bình đẳng, hai nhà nước bình đẳng, như với các chính đảng hữu hảo và quốc gia hữu hảo với Trung Quốc. Đó mới là mối quan hệ bình thường giữa chính đảng và nhà nước với nhau. Ngoài ra, các nước có chế độ chính trị khác nhau chung sống hòa hợp với nhau là chuyện trên thế giới đâu đâu cũng có. “Triều Tiên khó mà có sự lựa chọn địa chính trị thay thế cho Trung Quốc” là do chính sách bế quan tỏa quốc của Triều Tiên tạo ra, không thể trách Trung Quốc được, Trung Quốc không phải chịu trách nhiệm về chuyện đó.

Thứ ba, các nước phương Tây ma quỷ hóa Triều Tiên, giương là cờ “nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ Triều Tiên, chuyện ấy Trung Quốc tuyệt đối không can dự. Triều Tiên tách xa cộng đồng quốc tế, nội bộ họ có sự đề phòng và kiểm soát rất nghiêm ngặt, đối ngoại rất cảnh giác, đây là sự thực không thể tranh cãi. Nước nào trên thế giới cũng đều có cái gọi là vấn đề “nhân quyền”, kể cả bản thân nước Mỹ. Mới đây tại thị trấn nhỏ Ferguson ở Mỹ, cảnh sát bắn chết một thiếu niên da đen 12 tuổi mang súng giả, vụ này đang gây ra bạo loạn phạm vi lớn trên cả nước, lại là một minh chứng. Nói thực ra, Trung Quốc không biết một chút gì về tình trạng nhân quyền của Triều Tiên, không thể nghe lời kể miệng của mấy người chạy trốn ra khỏi miền bắc Triều Tiên là đã kết luận về Triều Tiên; Đại hội đồng Liên Hợp Quốc còn thông qua nghị quyết xét xử người lãnh đạo Triều Tiên. Trong tình hình chưa rõ về trạng thái nhân quyền mà nói nhân quyền ở Triều Tiên tốt hay không tốt đều không có căn cứ, Trung Quốc bỏ phiếu phản đối là lẽ đương nhiên.

Hai bên Trung Quốc – Triều Tiên năm 1961 đã ký “Hiệp ước hữu hảo hỗ trợ Trung-Triều”, đã hai lần ký gia hạn hiệp ước này. Hiệp ước quy định: “Khi một bên ký Hiệp ước bị một nước hoặc vài nước liên kết nhau tấn công bằng vũ khí, vì thế mà ở vào trạng thái chiến tranh, thì bên còn lại phải lập tức toàn lực viện trợ quân sự và các loại viện trợ khác.” Hiệp ước này có hiệu lực đến năm 2021. Trên thực tế điều đó đã đem lại cho Triều Tiên sự bảo vệ về chính trị và quân sự. Hiệp ước còn quy định: “Hai bên ký Hiệp ước sẽ tiếp tục tiến hành hiệp thương về tất cả những vấn đề quốc tế lớn liên quan tới lợi ích chung của hai nước.” Thử hỏi Triều Tiên sở hữu [vũ khí] hạt nhân có hiệp thương với Trung Quốc không? Hiệp ước còn quy định: “Hai bên ký Hiệp ước sẽ tiếp tục hết sức cố gắng bảo vệ hòa bình châu Á và thế giới, bảo vệ an toàn của nhân dân các nước.”

Nếu Triều Tiên thiết thực tuân thủ Hiệp ước này thì sẽ không có chuyện khi máy bay hàng không dân dụng nước ta bay gần đến bầu trời Triều Tiên thì họ bắn đạn tên lửa lên đường bay, đặt 1-2 trăm con người trên máy bay ở vào tình trạng nguy hiểm lớn, cũng không có chuyện họ bắt giữ ngư dân nước ta trên vùng biển quốc tế gần Triều Tiên, gây ra đe dọa nghiêm trọng tới an toàn tính mệnh và tài sản của ngư dân nước ta. Triều Tiên còn năm lần bảy lượt tuyên bố phế bỏ “Hiệp định đình chiến”  Bản Môn Điếm, làm cho hai phía Triều Tiên – Hàn Quốc (và Mỹ) rơi vào trạng thái chuẩn bị chiến tranh. Trong tình hình “Hiệp ước hữu hảo hỗ trợ Trung-Triều” còn hiệu lực, một khi hai phía Triều Tiên – Hàn Quốc (và Mỹ) đánh nhau thì Triều Tiên đặt Trung Quốc vào địa vị như thế nào? Đấy là Trung Quốc “từ bỏ Triều Tiên” hay là Triều Tiên cứ đơn phương làm theo ý mình? “Hiệp ước hữu hảo hỗ trợ Trung-Triều” hãy còn kia, cách làm của Triều Tiên đã gây tổn hại lợi ích căn bản của Trung Quốc, không biết giáo sư vì sao lại có được kết luận “Lợi ích căn bản của hai nước Trung-Triều là nhất trí”.

Thứ tư, coi Triều Tiên là chiếc “bình phong chiến lược” của nước ta; có lẽ không có cái “bình phong chiến lược” ấy, trong thời đại toàn cầu hóa, tin học hóa, xét trên mặt chính trị và quân sự của mối quan hệ địa lý thì địa vị quan trọng của vấn đề này đã giảm đi nhiều – đây cũng là sự thực không thể tranh cãi. Trong lịch sử, bán đảo Triều Tiên xưa nay chưa bao giờ là phương hướng chiến lược chủ yếu của chính quyền trung nguyên [tức Trung Quốc], nhưng khi phương hướng này có chuyện thì phải gắn với phương hướng chiến lược chủ yếu, thường thường có liên lụy đến chính quyền trung nguyên, địa vị tác dụng tương đối quan trọng.

Nhưng từ khi tiến sang thế kỷ XXI, xét trên mặt chính trị, các nước xung quanh, kể cả Triều Tiên, có thái độ hữu hảo với ta, đương nhiên là quan trọng, có quốc gia nào không muốn xung quanh là láng giềng thân thiện, không phải là láng giềng xấu? Trung Quốc coi trọng sự thân thiện với láng giềng [vì thế mà] không sử dụng vũ lực với một nước nhỏ như Philippines, điều đó thậm chí bị cộng đồng quốc tế và một bộ phận dân chúng trong nước xem là biểu hiện mềm yếu. Nhưng nhìn tổng thể, xung quanh dù là láng giềng xấu thì cũng không ngăn nổi bước tiến hiện đại hóa của Trung Quốc; Trung Quốc đang trỗi dậy. Xét về mặt quân sự, miền bắc bán đảo Triều Tiên từ vĩ tuyến 38 tới biên giới nước ta, chiều sâu cũng chỉ có 5-6 trăm km, cùng lắm chỉ là một chiều sâu chiến dịch hiện đại. Trong chiến tranh kháng Mỹ viện Triều, ta chỉ dùng 3 hành động chiến dịch, sau hơn hai tháng là đánh “quân đội Liên Hợp Quốc” tiến sát biên giới ta lui trở về vĩ tuyến 38. Chiến tranh tin học hiện đại đã mở rộng không gian và rút ngắn thời gian, cái gọi là “bình phong chiến lược” chỉ có một chiều sâu chiến dịch thì có ý nghĩa lớn bao nhiêu ?

Giáo sư Lý cho rằng “bỏ Triều Tiên” thì sẽ xuất hiện ba kết quả: một là Triều Tiên lao vào vòng tay một nước thứ ba; hai là Triều Tiên sụp đổ; ba là Triều Tiên quyết tử chiến, bán đảo này lại bùng lên ngọn lửa chiến tranh. Ba loại kết quả này làm cho cái mũ đội [lên đầu Trung Quốc] trở nên quá to, có chút làm người ta khiếp sợ.

Trước tiên, Triều Tiên xưa nay chưa bao giờ lao vào vòng tay Trung Quốc thì cớ sao lại lao vào vòng tay một nước thứ ba? Chính quyền Kim Nhật Thành khi khởi sự đánh [nguyên văn khai đả] cuộc chiến tranh Triều Tiên đã không lắng nghe đầy đủ ý kiến của Trung Quốc; vào thập niên 60-70 thế kỷ trước thậm chí còn lãnh đạm với Trung Quốc hơn các nước nói chung;  khi nước ta lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, đặc biệt sau khi nước ta cải cách mở cửa họ lại càng nói lăng nhăng bậy bạ với nước ta, mãi cho đến khi Liên Xô – Đông Âu thay đổi lớn thì tình hình mới có cải thiện. Thiết nghĩ, là một chuyên gia về vấn đề Triều Tiên, GS Lý phải hiểu rõ tình hình hơn người viết bài này.

Thứ hai, sự sụp đổ một quốc gia chủ yếu không được quyết định bởi ngoại lực, nếu một chính quyền không được nhân dân ủng hộ thì “sụp đổ” chỉ là chuyện sớm muộn. “Lôi kéo” cũng vậy, “từ bỏ” cũng vậy, đều không có tác dụng quan trọng, chớ nên coi mối quan hệ Trung Quốc đối với Triều Tiên là mối quan hệ triều cống từng có trong lịch sử, Trung Quốc không phải là Chúa Cứu thế, Triều Tiên thật sự sụp đổ thì Trung Quốc cũng không cứu nổi họ. Trung Quốc có chuẩn bị tương ứng là được rồi, nói to lên cũng tức là vùng Đông Bắc nước ta có chịu ảnh hưởng nhất định, chứ không thể làm gián đoạn tiến trình hiện đại hóa của nước ta.

Thứ ba, cần thấy rõ là Trung Quốc thao túng không nổi cục diện, tình thế bán đảo Triều Tiên, ngay cả một chuyện hội đàm 6 bên về vấn đề hạt nhân Triều Tiên còn không làm được thì Trung Quốc có thể chịu trách nhiệm đối với “ngọn lửa chiến tranh” trên bán đảo Triều Tiên chăng? Nếu Triều Tiên “quyết tử chiến một trận, đốt lại ngọn lửa chiến tranh” thì mục tiêu của hai bên [tham chiến] cũng không phải là Trung Quốc; Trung Quốc không cần thiết phải châm lửa tự đốt mình. Ai gây ra lửa chiến tranh thì kẻ đó chịu trách nhiệm. Giờ đây, khi từ lâu đã không còn “phe XHCN” nữa thì con em Trung Quốc không phải đánh nhau vì nước khác. Đạo lý này ai cũng hiểu chứ?

Tóm lại, mối quan hệ hai đảng hai nước Trung Quốc – Triều Tiên phải xây dựng trên nền tảng giao lưu bình thường về nhà nước và về đảng. Xuất phát từ lợi ích quốc gia của nước ta, đồng thời chiếu cố lợi ích của Triều Tiên (kể cả bất kỳ quốc gia đối ứng nào), nên ủng hộ thì ta ủng hộ, nên phản đối thì ta phản đối, bênh vực công bằng chính nghĩa, tạo dựng hình ảnh nước lớn có trách nhiệm, vừa không “lôi kéo” Triều Tiên, cũng không “từ bỏ” Triều Tiên – đây phải là thái độ cơ bản của nước ta.

Trung tướng Vương Hồng Quang nguyên là Phó Tư lệnh Quân khu Nam Kinh (Trung Quốc).

Tác giả: Vương Hồng Quang | Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành

Nguyễn Hải Hoành dịch theo bản điện tử của Thời báo Hoàn cầu (Trung Quốc) ngày 1-12-2014.

——————-

[1] Nguyên văn “朝鲜是社会主义政治体制,它难有替代中国的地缘政治选择”

(Nghiên Cứu Quốc Tế)

Thông Báo

Hiện nay trang "TTHN" đã bị một vài nhà mạng chặn. Để có thể theo dõi xin bạn đọc Bấm vào trang đệm http://webwarper.net (tốt nhất) điền tên miền vào ô trống, bấm GO để truy cập.

Suy ngẫm

”Tôi luôn vui mừng tột độ khi phải nhận một đòn tấn công nặng tính xúc phạm. Tôi nghĩ rằng một khi đã phải chọn cách công kích cá nhân, điều đó có nghĩa họ đã hết sạch mọi luận cứ chính trị” — Margaret Thatcher

Lưu ý viết comments!


Chúng tôi hoan nghênh đón nhận và xuất bản những ý kiến khách quan, có tính xây dựng, tôn trọng cộng đồng. Nhưng từ chối hoặc xóa bỏ bất cứ lời bình nào không hợp thuần phong mỹ tục, các ý kiến cực đoan, không tôn trọng người khác.
Cám ơn sự đóng góp và hợp tác của bạn đọc.
 
Support : Creating Website | IT Team | TTD
Copyright © 2011. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Template Created by IT team Published by TTD
Proudly powered by Blogger