TTHNO
Tin Cập Nhật :
Bài Mới

Đăng bởi Hai Hoang Van on Thứ Năm, ngày 26 tháng 5 năm 2016 | 26.5.16

Sáng 24-5, bên hàng lang Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc đã có cuộc trao đổi với báo chí về tình hình căng thẳng hiện nay ở biển Đông.

Không đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông, lệ thuộcPhilippines khẳng định tiếp tục vụ kiện Trung QuốcViệt Nam không dùng biện pháp quân sự, trừ khi phải tự vệ
Việt Nam chuẩn bị sẵn sàng hồ sơ khởi kiện Trung Quốc

Việt Nam chuẩn bị sẵn sàng hồ sơ khởi kiện Trung Quốc
“Tôi nghĩ rằng đến lúc Trung Quốc cần có thay đổi trong phân tích tình hình, thế giới sẽ nghĩ như thế nào về một đất nước ứng xử như vậy? Chính Trung Quốc phải suy nghĩ, đừng tự mình làm cho thế giới cô lập”. - Ông Nguyễn Hạnh Phúc - Ảnh: Việt Dũng
Ông Nguyễn Hạnh Phúc nói:

Như chúng ta đã biết là ngay từ ngày đầu, giờ đầu của kỳ họp lần này, trong phát biểu khai mạc, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã nêu rõ tình hình ở Biển Đông đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường do các hành động sai trái của phía Trung Quốc.

Quốc hội cũng đã bố trí thời gian để nghe báo cáo của Chính phủ về tình hình, về chủ trương, giải pháp. Sau đó Quốc hội tiến hành thảo luận ở các Đoàn về tình hình hiện nay ở biển Đông và các giải pháp, trên cơ sở đó Quốc hội ra thông cáo lập trường 4 điểm đối với việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, chủ trương và giải pháp của Việt Nam.

Đến nay, chúng ta tiếp tục kiên quyết phản đối việc làm sai trái của Trung Quốc, tiếp tục dùng biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế để đấu tranh với Trung Quốc, với tinh thần kiên quyết nhưng cũng hết sức bình tĩnh tuỳ theo mức độ tình hình.

Chúng ta cũng bày tỏ cảm ơn đối với nghị viện, nghị sĩ các nước đã lên tiếng ủng hộ lập trường chính nghĩa của Việt Nam, phản đối hành động sai trái của Trung Quốc.

* Để tiếp tục nhận được sự ủng hộ của nghị viện và nghị sĩ các nước trong, Quốc hội có tính đến việc ra văn bản chính thức đưa quan điểm của Quốc hội Việt Nam đến nghị viện các nước?

- Thông cáo của Quốc hội cũng đã bày tỏ lòng biết ơn đối với các tổ chức, cá nhân, dư luận quốc tế đã đồng tình, ủng hộ Việt Nam.

Chúng ta mong muốn nghị sĩ các nước vì công lý, vì hoà bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới ủng hộ lập trường của Việt Nam và phê phán hành động sai trái của Trung Quốc, có tiếng nói đề nghị Trung Quốc rút ngay giàn khoan Hải Dương 981 và các tàu hộ tống ra khỏi vùng biển Việt Nam.

* Đã đến lúc chúng ta cần có thêm giải pháp phù hợp với luật pháp quốc tế để tăng thêm trọng lượng?

- Chủ trương của của chúng ta là sử dụng các giải pháp hoà bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Chúng ta đang củng cố hồ sơ làm cơ sở khởi kiện các nội dung có liên quan ra toà án quốc tế, nếu Trung Quốc không có động thái rút giàn khoan ra khỏi vùng biển Việt Nam thì ta phải có hành động.

* Như vậy là biện pháp pháp lý đưa ra toà án quốc tế cũng được tính đến?

- Chính phủ đang chuẩn bị các hồ sơ chứng lý để sẵn sàng.

* Cá nhân ông tin tưởng chúng ta sẽ thắng lợi khi sử dụng biện pháp pháp lý?

- Tôi tin vào chính nghĩa của Việt Nam, tin tưởng chúng ta có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý.

* Có thông tin là sẽ có một đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam sang làm việc với phía Trung Quốc?

- Không có thông tin về việc này. Lúc này Quốc hội chúng ta đang tiến hành kỳ họp.

* Thưa ông, trong thảo luận ở các Đoàn đại biểu Quốc hội về tình hình hiện nay ở biển Đông, có nhiều ý kiến đề nghị Quốc hội ra nghị quyết về vấn đề này không?

- Việc có nghị quyết hay tuyên bố thì tùy theo tình hình, mức độ. Chúng ta phát huy truyền thống của cha ông trong dựng nước và giữ nước là hết sức kiên quyết bảo vệ chủ quyền và cũng phải khôn khéo.

* Đã có những vị đại biểu Quốc hội đề nghị củng cố thêm tiềm lực quốc phòng?

- Không chỉ lúc này mà thời nào cũng vậy, chúng ta yêu chuộng hoà bình, muốn có hoà bình, ổn định để phát triển đất nước, nhưng khi hoà bình và an ninh bị đe doạ thì chúng ta phải sẵn sàng để tự vệ.

* Mọi sự chịu đựng đều có giới hạn và chúng ra kiên nhẫn đến bao giờ?

- Nếu vì hòa bình, vì độc lập thì phải kiên nhẫn.

* Ông có bình luận gì về phát biểu của Thủ tướng Chính phủ với báo chí quốc tế là không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông?

- Chúng tôi rất đồng tình, phát biểu của Thủ tướng thể hiện quan điểm, lập trường của người đứng đầu Chính phủ. Chúng ta cần nói với thế giới rằng Việt Nam yêu chuộng hoà bình, nhưng chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng, chúng ta đã, đang và sẽ có các giải pháp theo đường lối hoà bình và tự vệ.

* Trong chuyến thăm làm việc tại Philippines, Thủ tướng Chính phủ đã có cuộc hội kiến với lãnh đạo Quốc hội nước này, trong đó ông Chủ tịch Hạ viện Philippines cho biết ủng hộ lập trường của Việt Nam và ngay các nghị sĩ gốc Hoa tại Hạ viện Philippines cũng bày tỏ sự phẫn nộ về hành động này của Trung Quốc. Ông có bình luận gì về điều này?

- Như tôi đã nói ở trên là chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với các tổ chức, cá nhân, dư luận quốc tế đã đồng tình, ủng hộ Việt Nam.

Chúng ta yêu chuộng hoà bình, mong muốn có quan hệ hữu nghị giữa nhân dân Trung Quốc và nhân dân Việt Nam. Tôi cũng nghĩ rằng bà con người Hoa ở Việt Nam là công dân Việt Nam, và ủng hộ chính nghĩa của Việt Nam.

Ngay với những công nhân Trung Quốc sang làm việc ở Việt Nam, nhiều người bày tỏ muốn ở lại Việt Nam để tiếp tục lao động sản xuất.

(Tuổi trẻ)

Tôi đánh giá chính quyền Việt Nam đón ông Obama “hơi kém long trọng” so với khi đón người đồng nhiệm khác tương đương là ông Tập Cận Bình.

Ông Obama, ở Việt Nam, đã không có 21 phát đại bác như ông Tập.

Điều này khẳng định quan điểm chính thống lâu nay của Đảng, đó là “quan hệ anh em” với Trung Quốc dĩ nhiên nặng ký hơn “quan hệ hàng đầu” với Mỹ. Tôi nghĩ chúng ta đừng quên điều then chốt này trong tam giác quan hệ Việt-Trung-Mỹ hiện nay.


Đại bác và nụ cười

Có thể cách đón ông Obama của chính quyền Việt Nam làm ông hơi buồn, nhưng tôi tin là ông Obama thật sự vui vì cách đón của nhân dân Việt Nam. Hai điều này cho thấy ý Đảng và lòng dân lại một lần nữa chưa gặp nhau.

Mỹ và Trung Quốc luôn tranh giành ảnh hưởng ở Việt Nam, nên lễ nghi tiếp đón lãnh đạo hai nước này tại Việt Nam thể hiện nhiều điều quan trọng.

Nếu người dân Việt Nam đón ông Tập bằng tâm lý nghi ngờ, hoang mang và quan ngại kèm vài nụ cười nhạt thì họ đón ông Obama bằng nụ cười rạng rỡ, chân thành và khao khát chờ mong.

Khác với ông Tập Cận Bình với những bức hình bị quần chúng Việt Nam gạch chéo, hình ông Obama với nụ cười rạng rỡ được quần chúng Việt Nam trưng bày khắp nơi cũng là điều chính quyền Việt Nam nên chú ý.

Ông Obama là một chính khách lớn, và chuyến đi của ông phục vụ chính trị, nên tôi cũng thử giải mã một vài thông điệp ông muốn gửi gắm cho Việt Nam.

Với đảng cầm quyền Việt Nam, ông trấn an họ là Mỹ sẽ không tìm cách lật đổ, hay tác động để làm Đảng sụp đổ, nên Đảng cứ yên tâm mà lãnh đạo, và Mỹ tôn trọng Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tuy nhiên, ông nhắc nhở họ nên lãnh đạo theo quy tắc, cam kết quốc tế chung mà họ đã đại diện cho Việt Nam khi ký kết. Không nên, và không thể viện dẫn rằng Việt Nam vì “đặc thù riêng” nên nhiều lúc hành xử khác biệt hay sai lệch với những gì đã ký kết với quốc tế, vì những cam kết này đã là quy tắc-chuẩn mực chung.

Thông điệp với nhân dân Việt Nam

Từ những nguồn tin có quan hệ với chính giới Mỹ, tôi nghe rằng chính quyền Mỹ muốn chính quyền Việt Nam tạo điều kiện cho giới trẻ Việt Nam giao lưu với ông Obama.

Trong chuyến đi này, ông Obama, ngoài những lễ tiệc ngoại giao bắt buộc, có lẽ việc giao lưu với quần chúng và thanh niên trẻ là những hoạt động nhiều nhất.

Đây là điều theo tôi rất quan trọng, nó góp phần lớn trong việc củng cố quan hệ Mỹ-Việt trong tương lai, khi lớp trẻ của hôm nay lớn lên và có các vị trí xã hội nhất định.

Trong các bài phát biểu của ông với quần chúng Việt Nam, tôi nhận thấy ông nói nhiều điều “thú vị và quan trọng”.

Hi vọng rằng người kế nhiệm ông Obama sau này đến Việt Nam sẽ được 21 phát đại bác chào mừng, cũng như quan hệ Việt-Mỹ từ “quan hệ hàng đầu” sẽ trở thành “quan hệ anh em”. Đó là điều mà tôi nghĩ lòng dân đang mong muốn đảng cầm quyền sớm thực hiện.

“Những thủ lĩnh tài ba nhất, ngạc nhiên thay, thường chấp nhận đứng sau cánh gà”

“Chính người dân Việt Nam mới quyết định cho tương lai của mình, không ai sống cho cuộc đời của mình ngoài mình”

“Đừng tin mọi thứ mà bạn được xem trên mạng internet”…

Còn nhiều điều nữa, nhưng với tôi, cũng là một người ở tuổi “hết trẻ nhưng chưa già”, tôi trân trọng ghi nhớ những lời trên.

Trong tâm thái một đất nước đang bị kẹt giữa hai cường quốc Trung Quốc và Mỹ về tranh giành địa- chính trị. Một xã hội rối loạn bởi các giá trị văn hóa bị xuống cấp, một cộng đồng quần chúng luôn khao khát tìm kiếm những “thủ lĩnh” để đi theo… thì tôi đánh giá những góp ý này của ông Obama là vô cùng cần thiết và đúng lúc cho tuổi trẻ và quần chúng hiện nay.

“Nếu những quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ... đi theo vết xe đổ của phương Tây (chỉ tập trung phát triển kinh tế, công nghiệp mà bỏ quên hoạt động bảo vệ môi trường) tất cả chúng ta sẽ chìm xuống đáy biển”

Tôi nghĩ ông Obama chưa quên sự kiện cá biển miền trung vừa qua của Việt Nam. Có lẽ nào ông Obama nhớ còn chúng ta, là người Việt Nam, lại quên?

Cuối cùng, điều quan trọng nhất mà ông Obama hàm ý là ,nếu Việt Nam có biến động chính trị thì đó là chuyện nội bộ của Việt Nam, người Việt Nam phải giải quyết, Mỹ không liên quan.

Nên tôi nghĩ có lẽ chúng ta nên từ bỏ đi những tư duy kiểu như “các đế quốc phương Tây luôn giựt dây cho bạo động và rối loạn để mưu đồ chính trị có lợi cho họ”.

Biển Đông và vũ khí sát thương

Nhiều người nghĩ rằng vì ông Obama đã đến thăm Việt Nam, Mỹ sẽ ủng hộ cho Việt Nam trong tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc. Tôi cho rằng suy nghĩ này chưa đúng. Mỹ chỉ ủng hộ các bên tham gia tranh chấp thực thi đúng, giữ đúng các cam kết quốc tế và dùng các biện pháp hòa bình trong khi tranh chấp chứ Mỹ không nghiêng về bên nào. Tuy nhiên, tôi vui mừng khi ông cũng nói “nước lớn không nên ức hiếp nước nhỏ”.

Quan điểm lâu nay về đối ngoại chính trị của Mỹ rất rõ, Mỹ chỉ ủng hộ ai khi và chỉ khi người đó tự đứng lên trên chính đôi chân của mình. Chuyện Biển Đông thì Việt Nam phải chủ động hành động trước khi Mỹ giúp. Chính quyền và nhân dân Việt Nam cần minh định điều này khi nghĩ về quan hệ Việt-Mỹ bất cứ khi nào, dù sau này quan hệ này đạt đến tầm nào.

Có dư luận nói rằng việc phê chuẩn bán vũ khí sát thương cho Việt Nam là động thái cho thấy hai chính quyền Mỹ-Việt hiện nay đã có tin cậy chính trị. Theo tôi điều này không đúng. Việc bán vũ khí sát thương này chỉ nói lên là giữa hai nước Mỹ-Việt có cùng chung lợi ích trong chiến lược xoay trục Châu Á- Thái Bình Dương của Mỹ. Và vì lợi ích chung đó, Việt-Mỹ hợp tác trong việc mua bán vũ khí sát thương.

Tin cậy chính trị chỉ đến khi chính quyền Mỹ nhận thấy chính quyền Việt Nam bắt đầu hướng tới và đạt được những giá trị chung về dân chủ và nhân quyền như họ. Nếu chính quyền Việt Nam còn bắt bớ, tù đày, đàn áp những ý kiến khác biệt của người dân Việt Nam, thì làm sao Mỹ có thể tin rằng chính quyền Việt Nam sẽ vẫn đồng hành cùng họ nếu một ngày nào đó Mỹ cũng đưa ra những ý kiến khác biệt khi quan hệ với chính quyền Việt Nam?
Hậu Obama

Sau khi ông Obama rời đi, chúng ta trở về với bầu không khí thường ngày cùa đất nước, và chúng ta sực nhớ lại rằng Trung Quốc vẫn đang lấn lướt ngoài Biển Đông, một chuyến thăm của ông Obama là cần nhưng chưa đủ để khiến tình hình Biển Đông trở nên có lợi cho Việt Nam.

Sau khi ông Obama hết nhiệm kỳ, sẽ có tổng thống mới lên nhậm chức, và chiến lược chính trị của Mỹ ở Châu Á-Thái Bình Dương vẫn sẽ không thay đổi. Hi vọng rằng khi đó Việt Nam đóng một vai trò “quan trọng thực sự” để cùng chia lợi ích với Mỹ.

Hi vọng rằng người kế nhiệm ông Obama sau này đến Việt Nam sẽ được 21 phát đại bác chào mừng, cũng như quan hệ Việt-Mỹ từ “quan hệ hàng đầu” sẽ trở thành “quan hệ anh em”. Đó là điều mà tôi nghĩ lòng dân đang mong muốn đảng cầm quyền sớm thực hiện.

Sau khi ông Obama rời đi, tôi mong rằng mọi tầng lớp, từ quan chức chính quyền đến người dân Việt Nam, từ người ủng hộ đảng cầm quyền cho đến giới bất đồng chính kiến, hãy luôn nhớ những thông điệp ông nhắn nhủ.

“Chuyện Việt Nam, tương lai Việt Nam là do chính người Việt Nam quyết định, không ai làm thay, và Mỹ không làm thay”

Nguyễn An Dân
Gửi tới BBC từ TPHCM

* Bài phản ánh văn phong và quan điểm của tác giả, cây viết sống tại TP HCM.

(BBC)

 Mỹ, Anh, Nhật Bản và Canada đều đã lên tiếng hoặc có hành động thể hiện sự phản đối mạnh mẽ đối với những gì Trung Quốc đang làm ở Biển Đông trong thời gian vừa qua.


Mỹ là nước đang hành động quyết liệt nhất với Trung Quốc. Chính quyền của Tổng thống Barack Obama giờ đây không chỉ còn dừng lại ở lời nói mà đã có hành động công khai đối đầu với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

Mới đây nhất, Thủ tướng Anh David Cameron đã gây bất ngờ khi góp lên tiếng nói phản đối Bắc Kinh trong vấn đề hành xử ở Biển Đông.

Ông Cameron đã đến hội nghị thượng đỉnh G7 ở Nhật Bản ngày hôm qua và đã nhanh chóng lên tiếng gây áp lực thêm nữa cho Trung Quốc để buộc nước này phải tuân theo luật quốc tế trong các cuộc tranh chấp ở Biển Đông.

Mỹ nghi ngờ Thủ tướng Anh tìm cách né tránh không chỉ trích Trung Quốc để hướng tới mục tiêu biến Anh thành “đối tác tốt nhất ở phương Tây” đối với Bắc Kinh. Tuy nhiên, Thủ tướng Cameron đã thể hiện rõ lập trường rằng ông ủng hộ các nước khác trong khu vực trong việc đòi hỏi Trung Quốc phải tôn trọng phán quyết sắp tới của toà án ở The Hague liên quan đến cuộc tranh chấp giữa Bắc Kinh và Manila ở Biển Đông. “Về vấn đề toà án quốc tế, chúng tôi tin rằng, Anh có lợi ích trong việc đảm bảo thế giới phải có một trật tự dựa trên việc tuân theo các thể chế và quy định. Điều này phù hợp với chúng tôi. Chúng tôi muốn khuyến khích Trung Quốc trở thành một phần của thế giới dựa trên pháp luật. Chúng tôi muốn khuyến khích tất cả mọi người tuân theo sự xét xử của toà án quốc tế”.

Những phát biểu trên được xem là lập trường mạnh mẽ nhất từ trước đến nay của Anh đối với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông.

Bắc Kinh khăng khăng không chấp nhận thẩm quyền của toà án quốc tế The Hague. Vì thế, phương Tây sẽ phải quyết định làm thế nào để phản ứng, để gây sức ép đối với mối quan hệ giữa Bắc Kinh và các đối tác thương mại phương Tây.

Cùng với Anh, Nhật Bản và Canada trước đó cũng đã lên tiếng bày tỏ “sự quan ngại sâu sắc” về những hành động quân sự hoá và bồi đắp trái phép ở Biển Đông. Đây rõ ràng là ám chỉ thẳng đến các hoạt động ở Biển Đông của Trung Quốc trong thời gian vừa qua.

“Về vấn đề Biển Đông, chúng tôi chia sẻ quan ngại sâu sắc về những hành động đơn phương gây căng thẳng ở Biển Đông như hoạt động bồi đắp, xây dựng cơ sở hạ tầng và quân sự hoá trên quy mô lớn ở Biển Đông”, ông Abe cho các phóng viên biết.

Những phát biểu trên được ông Abe đưa ra tại một cuộc họp báo chung với Thủ tướng Canada Justin Trudeau trước thềm hội nghị thượng đỉnh G7. An ninh toàn cầu cùng với nền kinh tế toàn cầu và khủng bố là những chủ đề chính của hội nghị G7.

Biển Đông đang là nơi chứng kiến những cuộc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải gay gắt giữa Trung Quốc với 4 quốc gia Đông Nam Á gồm Philippines, Việt Nam, Brunei, Malaysia, và Vùng lãnh thổ Đài Loan. Biển Đông là một trong những vùng biển quan trọng nhất thế giới, bởi nó chứa các tuyến đường hàng hải sống còn. Đồng thời Biển Đông còn được cho là chứa đựng một trữ lượng tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn, đặc biệt là dầu mỏ. Chính vì thế, Trung Quốc có tham vọng độc chiếm Biển Đông.

Trung Quốc gần đây đã và đang đẩy mạnh các hoạt động bồi đắp, cải tạo và xây dựng hàng loạt đảo nhân tạo và các công trình trái phép trên Biển Đông. Hoạt động bồi đắp làm thay đổi thế nguyên trạng ở Biển Đông của Trung Quốc hiện nay đang gây ra sự lo ngại, bất bình rất lớn trong khu vực nói riêng và cộng đồng thế giới nói chung. Trong thời gian qua, Trung Quốc đã vấp phải sự phản đối, đối phó và đáp trả một cách quyết liệt và mạnh mẽ chưa từng có của các nước láng giềng cũng như của các cường quốc lớn trên thế giới.

Điều gây quan ngại hơn nữa là những công trình mà Trung Quốc đang cấp tập xây dựng trái phép ở Biển Đông có khả năng được dùng cho mục đích quân sự. Động thái của Trung Quốc được tin là một bước tiến dài táo tợn để nước này tiến tới tham vọng độc chiếm Biển Đông.

Kiệt Linh (tổng hợp)

(VnMedia) 

Nhà trắng
Văn phòng Thư ký Báo chí

Dành cho đăng tải ngay
Ngày 24 tháng 5 năm 2016
Trung tâm Hội nghị Quốc gia
Hà Nội, Việt Nam

12:11 P.M. ICT

TỔNG THỐNG OBAMA: Xin chào! (Vỗ tay). Xin chào Việt Nam! (Vỗ tay). Xin cảm ơn. Cảm ơn các bạn rất nhiều. Xin cảm ơn Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã dành cho tôi sự chào đón nồng nhiệt và lòng mến khách trong chuyến thăm này. Và cảm ơn tất cả các bạn đã có mặt ở đây ngày hôm nay. (Vỗ tay). Chúng ta thấy, tới đây hôm nay là người Việt từ khắp mọi miền của đất nước vĩ đại này, trong đó có rất nhiều bạn trẻ đại diện cho sự năng động, tài năng và niềm hy vọng của Việt Nam. 

Trong chuyến thăm này, trái tim tôi thực sự xúc động trước tấm lòng nhân hậu vốn nổi tiếng của người Việt Nam. Qua vô số những người đứng xếp hàng trên các con phố, tươi cười và vẫy tay chào, tôi cảm nhận được tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Tối qua, tôi đã đến thăm phố cổ Hà Nội và thưởng thức một vài món ăn đặc sắc của Việt Nam. Tôi đã ăn Bún Chả. (Vỗ tay). Uống một chút bia Hà Nội. Nhưng tôi phải thú thực là đường phố thật đông đúc, cả đời tôi chưa bao giờ thấy có nhiều xe máy đến vậy. (Cười). Vì vậy tôi chưa thử đi qua đường, nhưng có thể sau này khi có dịp tôi quay trở lại, các bạn có thể chỉ cho tôi cách qua đường.

Tôi không phải là Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên đến Việt Nam trong những năm gần đây. Nhưng tôi là Tổng thống đầu tiên, cũng giống nhiều bạn ở đây, đã trưởng thành sau cuộc chiến giữa hai nước chúng ta. Khi những lực lượng cuối cùng của Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam, tôi mới tròn 13 tuổi. Do vậy lần đầu tiên tôi trực tiếp biết đến Việt Nam và tiếp xúc với người Việt Nam là khi tôi lớn lên ở Hawaii, với cộng đồng người Mỹ gốc Việt đầy tự hào ở đó.

Đồng thời, nhiều bạn ở đất nước này còn trẻ hơn tôi. Cũng giống như hai cô con gái của tôi, rất nhiều bạn sinh ra và lớn lên cả đời chỉ biết một điều – đó là hòa bình và mối quan hệ đã được bình thường hóa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Do vậy, khi đến đây, tôi đã ý thức về quá khứ, ý thức về một lịch sử đầy khó khăn của chúng ta, nhưng cũng hướng tới tương lai – sự thịnh vượng, an ninh và nhân phẩm mà chúng ta cùng nhau thúc đẩy.

Tôi cũng đến đây với tinh thần trân trọng sâu sắc những di sản lâu đời của Việt Nam. Trải qua hàng ngàn năm, những người nông dân đã vun xới cho mảnh đất này – một lịch sử được hiển hiện qua trống đồng Đông Sơn. Ở khúc ngoặt của dòng sông Hồng là Hà Nội đã có trên một ngàn năm lịch sử. Thế giới đã biết đến và trân quý những tấm lụa và những bức tranh của Việt Nam, đồng thời Văn Miếu còn là một minh chứng cho tinh thần hiếu học của các bạn. Thế nhưng, trải qua nhiều thế kỷ, vận mệnh của các bạn lại thường xuyên bị định đoạt bởi những thế lực bên ngoài. Mảnh đất thân thương này không phải lúc nào cũng là của các bạn. Nhưng giống như cây tre, tin thần bất khuất của người Việt Nam đã được đúc kết trong áng thơ của Lý Thường Kiệt – “Sông núi nước Nam vua Nam ở. Rành rành định phận ở sách trời”. 

Ngày hôm nay, chúng ta cũng nhớ tới giai đoạn lịch sử dài hơn giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vốn vẫn thường bị lãng quên. Cách đây hơn 200 năm, khi Thomas Jefferson, người cha lập quốc của chúng tôi, tìm kiếm giống lúa cho trang trại của mình, ông đã tìm đến Việt Nam, mà theo ông, giống lúa ấy “nổi tiếng là trắng, thơm ngon và năng suất cao nhất”. Chẳng bao lâu sau, những tàu buôn Hoa Kỳ đã cập cảng của các bạn để tìm kiếm cơ hội giao thương. 

Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, người Mỹ đã đến đây để giúp các bạn trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Khi những chiếc máy bay Hoa Kỳ bị bắn rơi, người Việt Nam đã cứu những viên phi công gặp nạn. Và vào ngày Việt Nam tuyên bố độc lập, người dân đã đổ ra khắp những phố phường Hà Nội và Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ. Ông đã nói: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Vào một thời điểm khác, việc tuyên bố những lý tưởng chung đó và cuộc đấu tranh tương tự đánh đuổi thực dân của cả hai dân tộc lẽ ra đã có thể giúp chúng ta sớm xích lại gần nhau hơn. Tuy nhiên, sự đối đầu trong Chiến tranh Lạnh và nỗi lo sợ về chủ nghĩa cộng sản đã đẩy chúng ta tới xung đột. Cũng giống như biết bao cuộc xung đột khác trong lịch sử nhân loại, chúng ta một lần nữa đã rút ra một sự thật cay đắng – rằng chiến tranh, cho dù mục đích của mỗi bên có là gì đi chăng nữa, cũng chỉ đem lại những đớn đau và bi kịch. 

Ở tượng đài liệt sỹ của các bạn cách đây không xa, và trên bàn thờ của các gia đình ở khắp nơi trong cả nước, các bạn đang tưởng nhớ tới khoảng ba triệu người Việt Nam, cả những người lính và dân thường, ở cả hai phía, đã ngã xuống. Trên bức tường tưởng niệm ở Washington, chúng ta có thể chạm vào tên của 58.315 người Mỹ đã hy sinh tính mạng của họ trong cuộc chiến. Ở cả hai nước, những cựu binh và gia đình của những người đã ngã xuống vẫn đau đáu đi tìm những người bạn và những người thân đã mất. Đúng như ở Mỹ, chúng tôi đã được học, ngay cả khi chúng ta bất đồng về một cuộc chiến, chúng ta cũng phải luôn tôn vinh những người đã đứng trong quân ngũ và mở rộng vòng tay đón họ trở về với lòng kính trọng mà họ xứng đáng được hưởng, chúng ta có thể cùng bên nhau ngày hôm nay, cả người Việt lẫn người Mỹ và cùng thừa nhận những nỗi đau và hy sinh của cả hai phía.

Gần đây hơn, trong hơn hai thập niên vừa qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ to lớn và hiện nay cả thế giới có thể chứng kiến những nỗ lực lớn lao của các bạn. Nhờ đổi mới kinh tế và các hiệp định thương mại, trong đó có hiệp định thương mại với Hoa Kỳ, các bạn đã hội nhập kinh tế quốc tế, bán hàng hóa của mình khắp nơi trên thế giới. Đầu tư nước ngoài ngày càng nhiều hơn. Là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực Châu Á, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình.

Chúng tôi đã thấy những tiến bộ của Việt Nam qua những tòa tháp cao chọc trời và những tòa nhà cao tầng ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, qua những trung tâm mua sắm và khu đô thị mới. Chúng tôi đã thấy những tiến bộ như vậy qua những vệ tinh mà Việt Nam đưa vào không gian và qua một thế hệ mới đang được kết nối trực tuyến, khởi nghiệp và điều hành những doanh nghiệp mới. Chúng tôi đã thấy những tiến bộ như vậy qua hàng chục triệu người Việt Nam kết nối trên Facebook và Instagram. Và các bạn không chỉ đăng những tấm ảnh selfies – mặc dù tôi được biết các bạn rất hay chụp như thế – (Cười) – cho đến giờ có rất nhiều bạn đã mời tôi cùng chụp selfies. Các bạn còn nói lên tiếng nói của mình về những vấn đề mà các bạn quan tâm, như bảo vệ cây cổ thụ ở Hà Nội.

Chính sự năng động như vậy đã đem lại những bước tiến thực sự trong cuộc sống của người dân. Ở đây, ở Việt Nam, các bạn đã giảm mạnh tỷ lệ nghèo đói cùng cực, nâng mức thu nhập của các hộ gia đình và giúp hàng triệu người vươn lên trở thành tầng lớp trung lưu ngày càng lớn mạnh. Đói nghèo, bệnh tật, tỷ lệ tử vong bà mẹ và trẻ em đều giảm. Số người có nước sạch và điện, số trẻ em trai và trẻ em gái được đến trường, tỷ lệ biết đọc biết viết – tất cả đều tăng lên. Đó là sự tiến bộ vượt bậc. Đó là những thành tựu mà các bạn đã có thể đạt được trong một khoảng thời gian rất ngắn.

Cùng với sự chuyển mình của Việt Nam là sự chuyển biến trong mối quan hệ giữa hai nước. Chúng tôi đã rút ra một bài học từ lời răn dạy của Thiền sư Thích Nhật Hạnh, rằng “Bằng đối thoại chân thành, cả hai bên đều sẵn sàng thay đổi”. Bằng cách đó, chính cuộc chiến vốn đã chia rẽ chúng ta lại trở thành nguồn cội để hàn gắn. Điều đó đã cho phép chúng ta tìm kiếm những người đã mất tích và cuối cùng đưa họ trở về quê hương. Điều đó đã cho phép chúng ta tháo gỡ bom mìn còn sót lại, vì chúng ta không thể để những đứa trẻ phải mất chân chỉ vì vui chơi ở ngoài trời. Ngay cả khi chúng tôi tiếp tục giúp đỡ những người Việt Nam khuyết tật, bao gồm cả trẻ em, chúng tôi cũng vẫn tiếp tục loại bỏ chất độc da cam – dioxin – để Việt Nam có thể giành lại những mảnh đất của mình. Chúng tôi tự hào về công việc mà chúng ta đã cùng làm ở Đà Nẵng, và mong muốn tiếp tục hỗ trợ những nỗ lực của các bạn ở Biên Hòa. 

Chúng ta cũng không nên quên rằng việc hàn gắn giữa hai nước đã có những đóng góp lớn lao của những cựu binh vốn đã từng đối mặt ở hai đầu chiến tuyến. Hãy nhớ tới Thượng Nghị sỹ John McCain, người đã từng là tù binh chiến tranh trong nhiều năm ở đây, đã gặp Tướng Giáp, người đã nói hai nước không nên cứ là kẻ thù, mà hãy làm bạn. Hãy nhớ tới tất cả những cựu binh, cả Việt Nam và Hoa Kỳ, đã giúp chúng ta hàn gắn và gây dựng những mối quan hệ mới. Ít ai có thể làm nhiều hơn thế trong lĩnh vực này qua nhiều năm so với cựu Trung úy Hải quân, nay là Ngoại trưởng Hoa Kỳ, John Kerry, người cũng có mặt ở đây ngày hôm nay. Thay mặt cho tất cả mọi người, xin trân trọng cảm ơn John vì những nỗ lực vượt bậc của mình. (Vỗ tay). 

Nhờ những cựu binh đã dẫn đường cho chúng ta, nhờ những chiến binh đã có lòng quả cảm vươn tới hòa bình mà hai dân tộc chúng ta giờ đây đã gần gũi nhau hơn bao giờ hết. Thương mại song phương đã tăng mạnh. Sinh viên và học giả của cả hai bên cùng học hỏi lẫn nhau. Chúng tôi đón nhiều sinh viên từ Việt Nam sang Hoa Kỳ học tập hơn bất kỳ quốc gia nào khác ở Đông Nam Á. Và mỗi năm, các bạn cũng đón ngày càng nhiều khách du lịch từ Hoa Kỳ, bao gồm cả các bạn trẻ người Mỹ đeo ba lô, tới 36 phố phường ở Hà Nội, những cửa hàng ở phố cổ Hội An và cố đô Huế. Cả người Việt và người Mỹ đều có thể đồng cảm với những lời ca của nhạc sỹ Văn Cao – “Từ đây người biết quê người; từ đây, người biết thương người”.

Với tư cách là Tổng thống, tôi đã phát huy những tiến bộ như vậy. Với mối quan hệ đối tác toàn diện mới, chính phủ của cả hai nước đang hợp tác chặt chẽ với nhau hơn bao giờ hết. Và cùng với chuyến thăm này, chúng ta đã đặt nền tảng vững chắc hơn cho mối quan hệ song phương trong nhiều thập niên tới. Xét từ góc độ nào đó, sợi dây dài kết nối hai nước vốn bắt đầu từ Thomas Jefferson cách đây hơn hai thế kỷ đến bây giờ đã kết trọn một vòng. Quá trình đó đã diễn ra qua bao nhiêu năm và đòi hỏi những nỗ lực to lớn. Nhưng giờ đây, chúng ta có thể nói điều mà trước kia khó có thể tưởng tượng nổi: ngày hôm nay, Việt Nam và Hoa Kỳ đã là đối tác. 

Và tôi tin rằng kinh nghiệm của chúng ta sẽ là những bài học cho cả thế giới. Vào thời điểm mà nhiều cuộc xung đột dường như vô cùng nan giải, dường như không có hồi kết, chúng ta đã minh chứng rằng trái tim có thể thay đổi và rằng một tương lai khác sẽ đến nếu như chúng ta khước từ làm tù binh của quá khứ. Chúng ta đã cho thấy hòa bình có thể tốt đẹp hơn chiến tranh như thế nào. Chúng ta đã minh chứng rằng tiến bộ và nhân phẩm chỉ có thể được thúc đẩy tốt nhất qua hợp tác, chứ không phải xung đột. Đó là những gì mà Việt Nam và Hoa Kỳ có thể chứng minh với thế giới.

Giờ đây, mối quan hệ đối tác mới của Hoa Kỳ với Việt Nam được bắt nguồn từ một vài chân lý cơ bản. Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, và không có bất kỳ quốc gia nào khác có thể áp đặt ý chí hay định đoạt vận mệnh của các bạn. (Vỗ tay). Bây giờ, Hoa Kỳ có mối quan tâm ở đây. Chúng tôi quan tâm tới sự thành công của Việt Nam. Nhưng mối quan hệ đối tác toàn diện của chúng ta vẫn đang ở giai đoạn đầu. Trong thời gian còn lại trong nhiệm kỳ của mình, tôi muốn chia sẻ với các bạn một tầm nhìn mà tôi tin rằng có thể định hướng cho chúng ta trong nhiều thập niên tới đây.

Trước hết, chúng ta hãy cùng nhau hợp tác để tạo ra những cơ hội thực sự và sự thịnh vượng cho tất cả người dân của mình. Chúng ta biết những thành tố của thành công kinh tế trong thế kỷ 21. Trong nền kinh tế toàn cầu, đầu tư và thương mại sẽ đến bất kỳ nơi nào có pháp quyền, bởi vì không ai muốn phải hối lộ để được khởi nghiệp. Không ai muốn bán hàng hay đi học nếu họ không biết mình sẽ được đối xử ra sao. Trong các nền kinh tế tri thức, việc làm sẽ được tạo ra ở những nơi mà người dân có quyền tự do suy nghĩ, trao đổi ý tưởng và đổi mới sáng tạo. Và mối quan hệ đối tác kinh tế thực sự không phải là chuyện nước này đi khai thác tài nguyên của nước khác, mà là đầu tư vào nguồn lực quý báu nhất của mình – đó chính là con người, kỹ năng và tài năng của họ, cho dù họ sống ở thành phố lớn hay ở làng quê. Và đó chính là mối quan hệ đối tác mà Hoa Kỳ đem tới.

Như tôi đã công bố ngày hôm qua, Peace Corps (Tổ chức Hòa bình) lần đầu tiên sẽ tới Việt Nam, tập trung giảng dạy tiếng Anh. Một thế hệ sau khi những thanh niên Mỹ đến đây để chiến đấu, một thế hệ người Mỹ mới sẽ tới đây để giảng dạy, xây dựng và làm sâu sắc hơn tình hữu nghị giữa hai dân tộc. (Vỗ tay). Một số công ty công nghệ hàng đầu và những cơ sở đào tạo của Hoa Kỳ đang hợp tác với các trường đại học của Việt Nam để tăng cường đào tạo trong lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật, toán và y học. Ngay cả khi chúng tôi tiếp tục đón nhận thêm nhiều sinh viên Việt Nam sang Hoa Kỳ học tập, chúng tôi cũng tin rằng các bạn trẻ hoàn toàn xứng đáng được tiếp cận nền giáo dục đẳng cấp quốc tế ngay tại đây ở Việt Nam. 

Đó là một trong những lý do chúng tôi rất phấn khởi khi mùa thu này, trường đại học Fulbright Việt Nam sẽ đi vào hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh – đây sẽ là trường đại học phi lợi nhuận, độc lập đầu tiên của Việt Nam – đó sẽ là nơi có tự do học thuật hoàn toàn và học bổng cho những người có hoàn cảnh khó khăn. (Vỗ tay). Sinh viên, học giả và các nhà nghiên cứu sẽ tập trung vào chính sách công, quản trị và kinh doanh; vào khoa học máy tính và kỹ thuật, và các môn nghệ thuật tự do – mọi lĩnh vực từ thơ của Nguyễn Du, cho đến triết lý của Phan Chu Trinh và toán học của Ngô Bảo Châu.

Và chúng tôi sẽ tiếp tục đồng hành cùng các bạn trẻ và doanh nhân khởi nghiệp, bởi chúng tôi tin rằng khi các bạn có thể tiếp cận các kỹ năng, công nghệ và vốn mà mình cần thì không có gì có thể cản đường các bạn – và điều đó bao gồm cả những phụ nữ tài năng của Việt Nam. (Vỗ tay). Chúng tôi cho rằng bình đẳng giới là một nguyên tắc quan trọng. Từ thời Bà Trưng Bà Triệu đến nay, những người phụ nữ mạnh mẽ và tự tin luôn luôn có thể giúp Việt Nam tiến về phía trước. Bằng chứng rất rõ ràng – tôi nói điều này ở bất cứ nơi nào tôi đến trên khắp thế giới – gia đình, cộng đồng, và các quốc gia đều thịnh vượng hơn khi trẻ em gái và phụ nữ có cơ hội ngang bằng để thành công ở trường học và ở nơi làm việc và trong chính phủ. Điều đó đúng ở mọi nơi và điều đó đúng ở Việt Nam. (Vỗ tay).

Chúng tôi sẽ tiếp tục nỗ lực để giải phóng tối đa tiềm năng của nền kinh tế của các bạn thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Ngay tại Việt Nam, TPP sẽ giúp các bạn bán được nhiều sản phẩm hơn ra thế giới và hiệp định này sẽ thu hút đầu tư mới. TPP sẽ đòi hỏi cải cách để bảo vệ công nhân và pháp quyền và quyền sở hữu trí tuệ. Và Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam khi Việt Nam nỗ lực thực hiện đầy đủ các cam kết của mình. Tôi muốn các bạn biết rằng, với tư cách là Tổng thống Hoa Kỳ, tôi ủng hộ mạnh mẽ TPP bởi các bạn còn có thể mua nhiều hơn các sản phẩm có xuất xứ từ Mỹ.

Hơn nữa, tôi ủng hộ TPP bởi những lợi ích chiến lược quan trọng của hiệp định này. Việt Nam sẽ bớt phụ thuộc vào bất kỳ một đối tác thương mại duy nhất nào và hưởng lợi từ quan hệ rộng rãi hơn với nhiều đối tác, bao gồm Hoa Kỳ. (Vỗ tay). Và TPP sẽ củng cố hợp tác khu vực. TPP sẽ giúp Việt Nam giải quyết bất đình đẳng kinh tế, và sẽ thúc đẩy nhân quyền, với mức lương cao hơn và điều kiện lao động an toàn hơn. Lần đầu tiên ở Việt Nam, quyền lập công đoàn độc lập và luật cấm lao động cưỡng bức và lao động trẻ em. Và hiệp định có các biện pháp bảo vệ môi trường mạnh mẽ nhất và những tiêu chuẩn chống tham nhũng cao nhất so với bất kỳ hiệp định thương mại nào trong lịch sử. Đó là tương lai mà TPP mang lại cho tất cả chúng ta, bởi tất cả chúng ta – Hoa Kỳ, Việt Nam và các quốc gia tham gia – sẽ phải tuân thủ các quy định mà chúng ta đã cùng nhau tạo nên. Đó là tương lai dành cho tất cả chúng ta. Vì thế chúng ta phải đạt được hiệp định này – vì sự thịnh vượng kinh tế và an ninh quốc gia của chúng ta.

Tiếp theo, tôi muốn nói đến lĩnh vực thứ hai mà chúng ta có thể cùng hợp tác với nhau, đó là đảm bảo an ninh chung của chúng ta. Với chuyến thăm này, chúng ta đồng thuận về việc đẩy mạnh hợp tác an ninh và tăng cường lòng tin giữa quân đội hai nước. Chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp các khóa đào tạo và trang thiết bị cho Cảnh sát biển Việt Nam nhằm tăng cường năng lực hàng hải của Việt Nam. Chúng tôi sẽ đồng hành để cung cấp hỗ trợ nhân đạo khi xảy ra thảm họa. Với tuyên bố tôi đã đưa ra ngày hôm qua về việc gỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam, Việt Nam sẽ có được sự tiếp cận lớn hơn với trang thiết bị quân sự các bạn cần để đảm bảo an ninh của mình. Và Hoa Kỳ đang thực hiện cam kết của mình nhằm bình thường hóa quan hệ hoàn toàn với Việt Nam. (Vỗ tay).

Nói một cách rộng hơn, thế kỷ 20 đã cho tất cả chúng ta– cả Hoa Kỳ và Việt Nam – thấy rằng trật tự thế giới làm nền tảng cho an ninh chung của chúng ta được hình thành dựa trên những quy tắc và chuẩn mực nhất định. Các quốc gia đều có chủ quyền, bất luận quốc gia đó lớn hay nhỏ, chủ quyền của họ phải được tôn trọng, và lãnh thổ của họ không nên bị xâm phạm. Các quốc gia lớn không nên bắt nạt các quốc gia nhỏ hơn. Các tranh chấp nên được giải quyết một cách hòa bình. (Vỗ tay). Và các thiết chế khu vực, ví dụ như ASEAN và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, nên tiếp tục được củng cố mạnh mẽ. Đó là điều tôi tin tưởng. Đó là điều Hoa Kỳ tin tưởng. Đó là quan hệ đối tác mà Hoa Kỳ mang đến khu vực này. Tôi mong muốn thúc đẩy tinh thần tôn trọng và hòa giải vào cuối năm nay khi tôi trở thành Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên đến thăm Lào.

Về Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), Hoa Kỳ không là một quốc gia tuyên bố chủ quyền trong tranh chấp hiện nay. Tuy nhiên chúng tôi sát cánh cùng các đối tác để bảo vệ những nguyên tắc cốt lõi, như quyền tự do hàng hải và hàng không, và thương mại hợp pháp không bị cản trở, và cách giải quyết những tranh chấp một cách hòa bình, thông qua các công cụ pháp lý, theo luật pháp quốc tế. Trong tương lai, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục bay và đưa tàu thuyền hoạt động ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, và chúng tôi sẽ ủng hộ quyền của tất cả các quốc gia thực hiện việc làm tương tự như vậy. (Vỗ tay).

Ngay cả khi chúng ta hợp tác chặt chẽ hơn trong những lĩnh vực mà tôi vừa nói đến, quan hệ đối tác của chúng ta còn bao gồm thành tố thứ ba – giải quyết những lĩnh vực mà chính phủ của chúng ta còn khác biệt, bao gồm nhân quyền. Không quốc gia nào là hoàn hảo cả. Hai thế kỷ đã trôi qua, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục cố gắng để thực hiện những lý tưởng có từ thời lập quốc của chúng tôi. Chúng tôi vẫn đang giải quyết những bất cập của mình – quá nhiều tiền đổ vào chính trị, bất bình đẳng kinh tế gia tăng, phân biệt chủng tộc trong hệ thống tư pháp hình sự, phụ nữ vẫn không được trả lương ngang bằng với nam giới trong cùng một công việc. Chúng tôi vẫn còn nhiều vấn đề. Và chúng tôi không phải không bị chỉ trích, tôi thú thực với bạn như vậy. Tôi vẫn nghe những lời chỉ trích hàng ngày. Nhưng chính sự giám sát đó, những cuộc tranh luận công khai, chỉ ra những điểm không hoàn hảo của chúng tôi, và cho phép tất cả mọi người có tiếng nói đã giúp chúng tôi phát triển mạnh mẽ hơn, thịnh vượng hơn và công bằng hơn.

Tôi đã nói điều này từ trước– Hoa Kỳ không tìm cách áp đặt mô hình chính phủ của chúng tôi lên Việt Nam. Những quyền mà tôi nói đây, tôi tin rằng không phải các giá trị Mỹ, tôi nghĩ đó là giá trị phổ quát được minh định trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền. Những quyền đó được minh định trong Hiến pháp Việt Nam, khẳng định rằng “người dân có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, và có quyền tiếp cận thông tin, quyền tụ họp và quyền lập hội, và quyền biểu tình”. Điều đó được nêu trong hiến pháp Việt Nam. (Vỗ tay). Vì thế, thực sự vấn đề ở đây là tất cả chúng ta, từng quốc gia, cố gắng áp dụng nhất quán những nguyên tắc này, đảm bảo rằng chúng ta – những người đang làm việc trong chính phủ - thành thật với những lý tưởng đó.

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được một số tiến bộ. Việt Nam cam kết đảm bảo pháp luật của mình sẽ thống nhất với hiến pháp mới và với chuẩn mực quốc tế. Theo quy định của một số luật mới được ban hành gần đây, chính phủ sẽ công khai nhiều hơn về ngân sách và công chúng sẽ có quyền tiếp cận nhiều thông tin hơn. Và, như tôi đã nói, Việt Nam cam kết thực hiện cải cách kinh tế và lao động theo TPP. Vì thế, tất cả đều là những bước đi tích cực. Cuối cùng, tương lai của Việt Nam sẽ được quyết định bởi chính người dân Việt Nam. Mỗi quốc gia có con đường riêng của mình, và hai quốc gia chúng ta có những truyền thống khác biệt, hệ thống chính trị khác biệt và văn hóa khác biệt. Nhưng là một người bạn của Việt Nam, cho phép tôi chia sẻ quan điểm của tôi – tại sao tôi tin tưởng các quốc gia sẽ thành công hơn khi những quyền phổ quát được đảm bảo.

Khi có quyền tự do biểu đạt và tự do ngôn luận, và khi người dân có thể chia sẻ ý tưởng và tiếp cận internet và mạng xã hội mà không bị cấm đoán, điều đó sẽ tạo đà cho đổi mới sáng tạo mà các nền kinh tế cần để có thể vươn lên. Đó là nơi nảy ra những ý tưởng mới. Đó chính là cách thức khởi đầu của Facebook. Đó chính là cách thức mà nhiều trong số những công ty vĩ đại nhất của chúng tôi đã khởi nghiệp – nhờ ai đó có ý tưởng mới. Ý tưởng khác biệt. Và họ có thể chia sẻ ý tưởng đó. Khi có tự do báo chí – khi nhà báo và blogger có thể vạch trần những bất công và lạm dụng – điều đó sẽ buộc các quan chức phải có trách nhiệm và sẽ xây dựng niềm tin của người dân để hệ thống có thể hoạt động. Khi các ứng viên có thể chạy đua vào các vị trí và tranh cử tự do, và cử tri có thể lựa chọn những người lãnh đạo của mình trong các cuộc bầu cử tự do và công bằng thì điều đó sẽ làm cho các quốc gia ổn định hơn, bởi vì người dân biết rằng tiếng nói của họ được lắng nghe và rằng những thay đổi một cách hòa bình là điều có thể. Và điều đó sẽ đưa những con người mới vào hệ thống.

Khi có quyền tự do tôn giáo, thì điều đó không chỉ cho phép người dân được bày tỏ đầy đủ tình yêu và đam mê vốn là giá trị cốt lõi của tất cả mọi tôn giáo lớn, mà còn cho phép các nhóm đức tin phục vụ cộng đồng của họ thông qua trường học và bệnh viện, và chăm sóc người nghèo và người dễ bị tổn thương. Và khi có quyền tự do hội họp – khi người dân được tự do tổ chức xã hội dân sự - thì các quốc gia sẽ giải quyết tốt hơn các thách thức mà chính phủ đôi khi không thể tự mình giải quyết. Do vậy, tôi cho rằng việc thúc đẩy các quyền này không phải là mối đe dọa đối với sự ổn định, mà thực ra là củng cố sự ổn định và là nền tảng cho sự tiến bộ.

Suy cho cùng, việc khát khao có được những quyền này đã thôi thúc người dân trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam, đánh đuổi chủ nghĩa thực dân. Tôi tin rằng việc thúc đẩy các quyền này là sự hiện thân đầy đủ nhất của độc lập mà nhiều quốc gia đề cao, bao gồm cả nơi này, ở một quốc gia đã tuyên bố “của dân, do dân và vì dân”.

Cách thực hiện của Việt Nam sẽ khác với của Hoa Kỳ. Và cách thức của mỗi chúng ta cũng sẽ khác với các quốc gia khác trên thế giới. Nhưng có những nguyên tắc căn bản mà tôi cho rằng tất cả chúng ta đều cần phải cố gắng thực hiện và cải thiện. Tôi đã nói điều này với tư cách là người sắp hết nhiệm kỳ, do vậy tôi có lợi thế trong gần tám năm để giờ đây có thể suy ngẫm xem hệ thống của chúng tôi hoạt động như thế nào và tương tác với các quốc gia thế giới ra sao khi mà họ đang không ngừng cải thiện hệ thống của mình.

Cuối cùng, tôi cho rằng, mối quan hệ đối tác của chúng ta có thể ứng phó với những thách thức toàn cầu mà không một quốc gia đơn lẻ nào có thể tự giải quyết được. Nếu chúng ta tiếp tục đảm bảo sức khỏe cho người dân của mình và vẻ đẹp của hành tinh này thì chúng ta phải phát triển bền vững. Những kỳ quan tự nhiên như Vịnh Hạ Long và Hang Sơn Đoòng cần phải được gìn giữ cho con cháu chúng ta. Nước biển dâng đe dọa các bờ biển và giao thông đường thủy vốn là huyết mạch trong cuộc sống của nhiều người Việt Nam. Với tư cách là các đối tác trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, chúng ta cần thực hiện đầy đủ cam kết mà chúng ta đã tuyên bố ở Paris, chúng ta cần giúp những người nông dân và những ngôi làng và người dân mưu sinh bằng nghề cá có thể thích ứng và đem lại nhiều năng lượng sạch hơn đến những khu vực như Đồng bằng sông Cửu Long – vựa lúa của thế giới mà chúng ta cần để đảm bảo lương thực cho những thế hệ sau này.

Và chúng ta có thể cứu sống người dân ở ngoài biên giới của mình. Bằng cách giúp các quốc gia khác nâng cao hệ thống y tế của họ, chúng ta có thể phòng ngừa không để bệnh tật bùng phát trở thành dịch bệnh đe dọa tất cả chúng ta. Khi Việt Nam làm sâu sắc cam kết của mình với lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ tự hào giúp đào tạo các quân nhân gìn giữ hòa bình của các bạn. Và điều quan trọng ở đây là – hai nước chúng ta, từng chiến đấu chống lại nhau, giờ lại sát cánh cùng nhau và cùng giúp nhau đạt được hòa bình. Vì thế, bên cạnh quan hệ song phương của mình, mối quan hệ đối tác còn cho phép chúng ta góp phần hình thành môi trường quốc tế theo hướng tích cực.

Bây giờ, thực hiện được đầy đủ tầm nhìn mà tôi mô tả ngày hôm nay không phải là điều xảy ra một sớm một chiều, và không phải đương nhiên sẽ xảy ra. Có thể sẽ có những thăng trầm trên con đường đó. Sẽ có những lúc xảy ra hiểu nhầm. Con đường đó đòi hỏi nỗ lực bền bỉ và đối thoại chân thành trong những lĩnh vực mà cả hai bên sẽ tiếp tục thay đổi. Tuy nhiên, khi xem xét cả chặng đường lịch sử và những trở ngại mà chúng ta đã vượt qua, tôi đang đứng trước các bạn ở đây ngày hôm nay, rất lạc quan về tương lai chung của chúng ta. (Vỗ tay). Và niềm tin của tôi, lúc nào cũng vậy, luôn luôn bắt nguồn từ tình hữu nghị và khát vọng chung của cả hai dân tộc.

Tôi nghĩ đến tất cả những người Mỹ và người Việt Nam đã vượt qua biển cả mênh mông – trong đó có một số người lần đầu tiên được đoàn tụ với gia đình sau nhiều thập niên – và những người như nhạc sỹ Trịnh Công Sơn đã viết trong ca khúc của mình, đã nối vòng tay lớn để mở tấm lòng của mình ra để thấu suốt trái tim mình và nhìn thấu tình người trong mỗi chúng ta. (Vỗ tay).

Tôi nghĩ đến tất cả người Mỹ gốc Việt thuộc mọi tầng lớp đã thành danh – từ bác sỹ, nhà báo, thẩm phán, công chức. Một trong số họ, được sinh ra ở đây, đã viết cho tôi một lá thư và nói rằng “Ơn Chúa, tôi đã có thể thực hiện được giấc mơ Mỹ…Tôi rất tự hào là người Mỹ nhưng tôi cũng rất tự hào là người Việt Nam”. (Vỗ tay). Và ngày hôm nay, ông ấy ở đây, trở lại mảnh đất sinh thành, bởi vì, như ông ấy đã nói, “niềm đam mê cá nhân” của ông là “cải thiện cuộc sống cho từng người dân Việt Nam”. 

Tôi nghĩ tới một thế hệ người Việt Nam mới – với rất nhiều người trong số các bạn, rất nhiều bạn trẻ có mặt ở đây – những người luôn sẵn sàng ghi lại dấu ấn của mình trên thế giới. Và tôi muốn nói với tất cả những người trẻ đang lắng nghe tôi nói rằng: tài năng của bạn, con đường của bạn, những giấc mơ của bạn–trong tất cả những thứ đó, Việt Nam đã có có tất cả những thành tố cần thiết để phát triển. Vận mệnh của bạn là trong tay của bạn. Đây là thời điểm của bạn. Và khi bạn theo đuổi tương lai mà bạn muốn, tôi muốn bạn biết rằng Hoa Kỳ sẽ ở đó bên bạn như là đối tác của bạn và là bạn của bạn. (Vỗ tay).

Và trong nhiều năm tới kể từ bây giờ, khi ngày càng có nhiều người Việt Nam và Mỹ đang học tập với nhau; đổi mới sáng tạo và kinh doanh với nhau; cùng chung tay vì an ninh của chúng ta, thúc đẩy nhân quyền và cùng nhau bảo vệ hành tinh của mình ... tôi hy vọng bạn hãy nhớ lại thời điểm này và ấp ủ hy vọng từ tầm nhìn mà tôi đã đề ra ngày hôm nay. Hay, nếu tôi có thể nói một cách khác – mượn lời của Truyện Kiều mà các bạn đều biết "Rằng trăm năm cũng từ đây. Của tin gọi một chút này làm ghi”. (Vỗ tay).

Cám ơn các bạn. Rất cám ơn các bạn. Cám ơn Việt Nam. Cám ơn. (Vỗ tay). 

END12:43 P.M. ICT

Đại Sứ Quán Hoa Kỳ


Mới đây, trong chuyến thăm VN, Tổng thống Mỹ đã hoàn toàn dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam. Theo người viết, đây là một động thái mang tính chiến lược của Hoa Kỳ, vì động thái này chẳng những mang lợi ích to lớn cho Việt Nam mà còn phù hợp với chiến lược toàn cầu của Mỹ.

Theo CNN ngày 23/05/2016, năm ngoái VN mua tổng cộng 4.4 tỷ đô la vũ khí chủ yếu từ Nga, năm nay là 5 tỳ và dự tính tới 2020 là 6.2 tỷ đô la.

Trong năm 2015 Nga xuất khẩu 15 tỷ đô la vũ khí (The tờ International Business Times). Như vậy, trong năm 2015 VN chiếm hơn 1/4 sản lượng xuất khẩu vũ khí của Nga. Nếu số tiền này rơi vào tay Mỹ thì rõ ràng càng gây thêm khó khăn cho nên kinh tế vốn èo uột của Nga. Nhưng đó chỉ là một mặt, một số nước là bạn hàng nhập khẩu vũ khí của Nga như Ấn Độ (cũng có mâu thuẫn với Trung Quốc và cũng muốn có một tiếng nói ở biển Đông) chẳng hạn, có thể tham khảo kinh nghiệm của Việt Nam.

Nếu Việt Nam chuyển sang mua vũ khí của Mỹ, đối với Trung Quốc là một mối đe dọa, trước đây việc dùng chung vũ khí của Nga. Trung Quốc có thể an tâm vì họ cũng nhập khẩu vũ khí của Nga nhưng với kỹ thuật cao cấp hon. Do đó, quân đội Việt Nam chẳng là mối đe dọa với quân đội Trung Quốc, nhưng nếu chuyển sang sử dụng vũ khí Mỹ mọi chuyện sẽ khác, vì Trung Quốc buộc phải quan tâm với một hệ thống kỹ thuật hoàn toàn khác. Người viết chắc chắn là Mỹ sẽ không cung cấp những vũ khí hiện đại nhất cho Việt Nam như cung cấp cho Nhật hoặc Đài Loan, Mỹ chỉ cung cấp vũ khí đủ để làm Trung Quốc e ngại.

Mặt khác, việc hoàn toàn lệ thuộc vào vũ khí của Nga, Nêu chiến tranh Việt - Trung xảy ra, chỉ cần Trung Quốc nhượng cho Nga một số quyền lợi nào đó thì chẳng cần phải đánh nhiều cho mệt, chỉ vài tháng Việt Nam hết súng, đạn, lâm vào hoàn cảnh y chang VNCH ngày trước, sụp đổ vì không còn nguồn tiếp tế, hoặc Trung Quốc chỉ cân phong tỏa bờ biến bắc Thái Bình Dương thì việc tiếp vận vũ khí cho VN sẽ thất bại. Nay nhập vũ khí của Mỹ, VN sẽ không còn sợ áp lực việc mất nguồn tiếp tế vì nguồn tiếp tế hoàn toàn nằm ngoài khả năng khống chế của hải quân trung quốc (nguồn tiếp tế có thể xuất phát từ các kho vũ khí ở Thái hoặc Úc,…).

Hà Nội hoàn toàn hiểu được điểm yếu này khi lệ thuộc vào nguồn vũ khí của Nga, điều đó có thể giải thích tại sao Hà nội hoàn toàn làm ngơ để mặc cho Trung Quốc hoàn toàn làm mưa làm gió ở biển đông trong những năm qua. Một câu hỏi đặt ra là, tại sao mãi tới thời đểm này người Mỹ mới bỏ cấm vận? Nếu nhìn cách hành xử của Trung Quốc ở biển Đông, họ gây áp lực ngày càng lớn không những đối với Việt Nam, Philipines mà còn đối với tuyến vận tải quan trong này, điều này đòi hỏi người Mỹ phải có thái độ rõ rệt. Một điều chắc chắn là vào thời điểm này nước sẵ̉n sàng chống Trung Quốc nhất lại là Việt Nam chứ không phải là Philipines. Nếu như trước kia người miền Bắc Việt Nam chống Mỹ là hoàn toàn do tuyên truyền của cộng sản, còn chống Trung Quốc thì hình như do di truyền. Sau những năm bị Trung Quốc ức hiêp, tâm lý hiện nay của dân chúng Việt Nam nhìn Mỹ như một vị cứu tinh, cho rằng việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí của Mỹ là một điềm tốt, rồi đây với súng Mỹ có thể một lần nữa máu người Việt lại đổ, nếu trước kia với súng Tàu, Việt Nam đánh Mỹ cho Tàu thì ngày nay với súng Mỹ Việt Nam một lần nữa đánh Tàu cho Mỹ. Tóm lại, máu xương người Việt có thể lại đổ cho quyền lợi các nước lớn.

Th Trần
05/24/2016

(Dân Luận)

Một hợp đồng quân sự lớn nhất của Việt Nam gần đây là việc mua 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo của Nga năm 2009, trị giá khoảng 2 tỷ đôla, và dự kiến sẽ được bàn giao tất cả vào năm 2016.
Một hợp đồng quân sự lớn nhất của Việt Nam gần đây là việc mua 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo của Nga năm 2009, trị giá khoảng 2 tỷ đôla, và dự kiến sẽ được bàn giao tất cả vào năm 2016.

Việt Nam đã gia tăng chi tiêu quân sự đáng kể trong những năm gần đây trong bối cảnh tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc.

Quốc gia Đông Nam Á này sẽ có thể sớm ‘vung tay’ nhiều hơn để nâng cấp khả năng quốc phòng sau khi Tổng thống Obama hôm thứ Hai loan báo dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam.

Năm ngoái, chi tiêu quân sự của Việt Nam đạt 4,4 tỉ đôla, chiếm 8% tổng chi tiêu chính phủ, theo Viện Nghiên cứu Hòa bình Thế giới Stockholm (SIPRI). Đó là sự gia tăng đáng kể từ năm 2005, khi Việt Nam chỉ chi tiêu vào khoảng 1 tỉ đôla. Các con số này có thể không đầy đủ vì chính phủ không công bố ngân sách quốc phòng.

Chuyên viên phân tích Công nghiệp Quốc phòng châu Á Thái Bình Dương tại IHS Jane's Jon Grevatt ước tính, chi tiêu quốc phòng của Việt Nam sẽ tăng lên tới 5 tỉ đôla trong năm nay và 6,2 tỉ đôla đến năm 2020.

Theo SIPRI, các con số này có thể gia tăng nhanh chóng nhưng vẫn kém xa so với các nước chi tiêu nhiều cho quốc phòng nhất thế giới. Mỹ dẫn đầu với 596 tỉ đôla trong năm 2015 và Trung Quốc đứng thứ hai với 215 tỉ đôla.

Trong những năm gần đây, khoảng 80% đơn hàng quân sự đến từ Nga. Việt Nam sử dụng các khoản chi để hiện đại hóa khả năng – đặc biệt là các đội tàu ngầm và chiến hạm.

Việt Nam cũng tăng cường phòng vệ bờ biển với việc mua pháo và tên lửa chống hạm. Lực lượng không quân chủ yếu sử dụng máy bay chiến đấu do Nga sản xuất.

Moscow dự kiến sẽ duy trì vị trí dẫn đầu nhưng các quốc gia châu Âu và Israel đã bắt đầu tiến vào thị trường Việt Nam.

Ông Jon Grevatt nói: “Việc này cho Mỹ một cơ hội tương tự”.

Hoa Kỳ đã từng bán một số thiết bị cho Việt Nam. Lệnh cấm vận vũ khí đã được nới lỏng 2 lần trong thập kỷ qua và lần gần đây nhất là năm 2014. Washington trợ giúp 6 tàu tuần tra cao tốc cho Việt Nam để giúp tăng cường bảo vệ bờ biển và chống lại tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông.

Theo CNN

 (VOA)
 
Top ↑ Copyright © 2010. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Welcome to Tin Tức Hàng Ngày