Tin Tức Cập Nhật 24/7
HOT VIDEO CHANNEL - TV Hết màn ném giầy Nguyễn Phú Trọng dùng Cò mồi "yêu cầu xử lý hình sự Lê Thanh Hải"

Chiếc giày của Nguyễn Thùy Dương, Jamal Khashoggi trong tương quan giữa ý thức hệ và định chế chính trị.


Trong hạ tuần tháng 10 năm 2018, người Việt trong nước lẫn hải ngoại nghe nhiều nhất 2 tin sau đây.

Một là tin một người phụ nữ Việt Nam trẻ tên Nguyễn Thùy Dương, cư dân tại Thủ Thiêm ném chiếc giày cô mang vào mặt bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, một trong những nhà lãnh đạo cao cấp của đảng CSVN, đương kim dân biểu quốc hội và chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân TP Hồ Chí Minh, Thành Phố Trực Thuộc Trung Ương Lớn Nhất Việt Nam, gây chấn động cả nước.

Nhà báo Jamal Khashoggi (trái) bị sát hại và Nguyễn Thị Thùy Dương, người “tặng” chiếc giày cho bà Nguyễn Thị Quyết Tâm

Hai là tin chấn động toàn thế giới khi ông Jamal Khashoggi, một phóng viên gốc Saudi Arabia của tờ Washington Post, khi vào tòa lãnh sự Vương Quốc này tại Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), bị thủ tiêu mất xác. Nhiều cáo buộc cho rằng vì ông có lập trường chống lại Thái Tử Mohammad Bin Salman (MBS) nên bị 15 sát thủ phái từ Saudi Arabia bay đến tòa lãnh sự tại Turkey, giết, phanh thây ra từng mảnh, đóng thùng và đưa chui ra khỏi tòa lãnh sự cũng như lãnh thổ Turkey.

Tin thứ nhất tuy gây chấn động toàn quốc, nhưng trong bản chất chỉ là một hiện tượng hầu như bất bạo động của một người dân phẫn nộ trước cường quyền và chỉ bị phạt hành chánh. Tin thứ nhì là một vụ sát nhân đầy máu lạnh, gây ghê tởm cho toàn nhân loại, do một cường quyền gia hại một công dân.

Như thế tại sao có thể có bất cứ một tương quan gì giữa 2 hiện tượng trên?

Muốn trả lời câu hỏi trên, chúng ta phải ý thức rằng cả 2 nhà cầm quyền CSVN và Vương Triều Saudi Arabia là những chế độ cai trị độc tài tuyệt đối.
Khi nói đến các chế độ độc tài trong lịch sử đương đại, chúng ta phải nói đến các mô hình nhà nước sau đây:

1. Độc tài quân phiệt (Thái Lan và Miến Điện)
2. Độc tài công an trị (Liên Bang Nga)
3. Độc tài cá nhân chủ nghĩa (Đức Quốc Xã)
4. Độc tài quân chủ tuyệt đối (Brunei, United Arab Emirates)
5. Độc tài ý thức hệ (Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Hàn và Cuba)
6. Độc tài giáo phiệt (Saudi Arabia, Iran)

Tuy phân loại như thế nhưng phần lớn các loại độc tài thông thường hỗn hợp nhiều yếu tố khác nhau. Chẳng hạn chế độ Đức Quốc xã của Hitler tuy trong bản chất là độc tài cá nhân chủ nghĩa (căn cứ trên cá tính và nhân cách siêu việt của lãnh tụ) nhưng vẫn có nền tảng trên ý thức hệ Quốc Xã.

Chế độ CSVN và vương triều Saudi Arabia trên nguyên tắc phát xuất từ ý thức hệ Mác Lê (Việt Nam) và ý thức hệ Hồi Giáo Sunni (Saudi Arabia), nhưng cả hai vẫn sử dụng công an trị để củng cố ngôi vị của mình.

Độc tài tuy rất nguy hiểm cho nhân loại, nhưng mọi hình thức độc tài trên thế giới đều đang đi vào giai đoạn thoái trào. Thật vậy, độc tài quân phiệt tại Thái Lan và Miến Điện, cũng như công an trị tại Nga hầu như đã trở thành những chế độ dân chủ trong giai đoạn chuyển tiếp và các quốc gia quân chủ tuyệt đối cũng đang tiếp xúc và chuyển mình theo khái niệm quân chủ lập hiến như vương quốc Kuwait.

Tuy nhiên 2 mô hình bảo thủ nhất và nguy hiểm nhất vẫn là Độc tài ý thức hệ và độc tài giáo phiệt, trong đó, độc tài giáo phiệt nguy hiểm hơn một bậc.

Lý do là vì độc tài ý thức hệ trong bản chất đòi hỏi sự trung thành của công dân và hứa hẹn một thiên đàng như thiên đàng xã hội chủ nghĩa ngay tại hạ giới. Trong khi đó, giáo phiệt Hồi Giáo chẳng hạn, đòi hỏi sự trung thành của công dân và hứa một thiên đàng hoa lệ sau khi họ chết đi.

Thiên đường xã hội chủ nghĩa của các đảng CS rất dễ bị chứng minh là không tưởng và dối trá vì dù người dân ít học nhất, chỉ cần thông minh bình thường là có thể nhìn thực trạng hiện tiền và ý thức được.

Trong khi đó, thiên đàng Hồi Giáo thì phải chờ sau cái chết mới kiểm chứng được và mấy ai đã chết mà còn trở về dương thế để chứng minh đúng hay sai.

Các chế độ độc tài Giáo Phiệt nguy hiểm hơn một bậc là vì thế.

Tuy mực độ hiểm nguy cho các dân tộc khác nhau, nhưng tiến trình xây dựng độc tài của 2 mô hình đã theo một quy luật chung. Đó là cả 2 đều sử dụng hệ thống tư tưởng của họ (ý thức hệ Mác Lê hoặc giáo điều Hồi giáo) như cứu cánh và xây dựng một định chế chính trị (Đảng CSVN hoặc Vương triều Saud) như phương tiện để đạt đến cứu cánh đó.

Tuy nhiên lịch sử đã chứng minh rằng tương quan giữa hệ thống tư tưởng cứu cánh (Ý thức hệ Mác Lê hoặc Giáo điều Hồi Giáo) và định chế phương tiện (Đảng CSVN hoặc Vương Triều Saud) đã hoàn toàn đảo ngược trong hoàn cảnh Việt Nam và các quốc gia cộng sản khác.

Lý do là vì, tuy không ai có khả năng chứng minh rằng thiên đường Hồi Giáo được hứa hẹn là sai lầm, nhưng toàn dân các nước cộng sản đã nhìn thấy hiển nhiên là thiên đường xã hội chủ nghĩa là dối trá và hoàn toàn không tưởng.

Lập luận cố hữu của các chế độ độc tài là “Cứu cánh biện minh cho phương tiện” có thể được phân tích từ 2 góc cạnh khác nhau.




Thứ nhất là lập luận này biện minh cho những chính sách tàn ác không tiền khoáng hậu và những vi phạm nhân quyền tệ hại nhất nhân loại tại các quốc gia Hồi Giáo cả xưa lẫn nay, tại Liên Xô thời Stalin, Trung Quốc thời Mao Trạch Đông, Bắc Hàn Trong quá khứ lẫn hiện tại và tại Việt Nam khi đảng CSVN giết Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ và trong cuộc cải cách ruộng đất.

Tuy nhiên khía cạnh thứ 2 của lập luận này cũng có nghĩa là, trên nguyên tắc, một khi cứu cánh (tức ý thức hệ Mác Lê và thiên đường xã hội chủ nghĩa) đã bị chứng minh là sai lầm và không tưởng, thì đảng CSVN như là một định chế có tính phương tiện, cũng theo logic đó, phải triệt tiêu.

Tuy nhiên, như một định chế tham quyền cố vị, đảng CSVN không những không tự giải thể, mà còn minh thị đảo ngược tương quan cứu cánh và phương tiện cố hữu giữa ý thức hệ Mác Lê và Đảng, để từ đó Đảng CSVN trở thành cứu cánh và Ý thức hệ Mác Lê, vốn đã tả tơi và bị nhân loại khinh bỉ, trở thành phương tiện để biện minh cho sự sống còn của đảng như một định chế.

Tương quan vô cùng quan trọng giữa chiếc giày của Nguyễn Thùy Dương bay về hướng Nguyễn Thị Quyết Tâm và sự phanh thây của nhà báo Jamal Khashoggi là 2 hiện tượng nằm vào 2 giai đoạn khác nhau của tương quan cứu cánh và phương tiện giữa hệ thống tư tưởng và định chế chính trị.

Sự phanh thây của Jamal Khashoggi đẫm máu và tàn khốc vì còn nằm trong giai đoạn Giáo điều – Ý thức Hệ còn là cứu cánh và định chế còn là phương tiện, và 15 tay sát thủ này là những tín đồ Hồi Giáo Sunni, trong niềm tin thánh chiến bảo vệ Giáo Điều Sunni trong cuộc chiến một mất một còn với giáo điều Shiite của chế độ giáo phiệt Iran.

Trong khi đó, chiếc giày của Nguyễn Thùy Dương bay ra trong khung cảnh một đảng CSVN không còn là một định chế làm phương tiện để xây dựng xã hội chủ nghĩa theo ý thức hệ Mác Lê nữa, mà đảng bây giờ tự nó đã biến thành cứu cánh.

Ý thức hệ Mác Lê và xã hội chủ nghĩa đã chết trong lòng của nhân dân Nga, Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, Cuba. Những khua môi múa mép về kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, pháp chế xã hội chủ nghĩa …đều là giả dối và lừa gạt.

Nhân dân Việt Nam biết điều này và chiếc giày của Nguyễn Thùy Dương nói lên đơn giản sự khinh bỉ tột cùng của họ đối với Nguyễn Thị Quyết Tâm, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Phú Trọng và toàn bộ guồng máy đảng.

Nên nhớ tương quan giữa 2 giai đoạn:

1. Hệ thống tư tưởng (ý thức hệ hoặc giáo điều Hồi Giáo) là cứu cánh và định chế chính trị (đảng CSVN hoặc Vương Triều Saud) là phương tiện

2. Hệ thống tư tưởng (ý thức hệ hoặc giáo điều Hồi Giáo) bị đọa xuống trở thành phương tiện và định chế chính trị (đảng CSVN hoặc Vương Triều Saud) được nâng cấp vươn lên trở thành cứu cánh

Là một tương quan trong đó, giai đoạn 2 đại diện cho sư tha hóa và thoái trào.

Sự phanh thây của nhà báo Jamal Khashoggi tuy tàn ác, đẫm máu và gây phẫn nộ trên toàn thế giới, nhưng xảy ra vào giai đoạn 1 trong tương quan trên, nên sẽ không đủ sức để lật đổ vương triều Saud.

Ngược lại, chiếc giày của Nguyễn Thùy Dương, tuy nhẹ hều và bất bạo động nhưng hàm chứa sự khinh bỉ tột cùng của nhân dân, vì xảy ra trong giai đoạn 2 trong tương quan trên, nên sẽ làm lay chuyển tận gốc rễ đảng CSVN như một định chế thối nát rã rời và âm vang của nó sẽ làm sụp đổ chế độ.

Giai đoạn thoái trào này là tiền đề cho sự diệt vong tất nhiên của đảng CSVN và mở đầu cho công cuộc xây dựng một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên chân chính cho dân tộc.


LS Đào Tăng Dực
FB Đào Tăng Dực

Tâm Chánh - Thủ Thiêm và cốt nền dân chủ


Thủ Thiêm đang như chiếc lò lửa mà ngọn lửa uất giận đang đến gần với đỉnh hờn căm. Các biện pháp an ủi không đóng góp được gì cho việc giải quyết tình hình. Các cuộc tiếp xúc “lắng nghe” mà không có quan điểm, thái độ và chương trình hành động rành mạch thì chỉ tạo thêm số lần nhức nhối trong dân.

Chiếc mũ bảo hiểm của cư dân mạng thiết kế cho lãnh đạo UBND TPHCM đội, khi tiếp dân. Ảnh trên mạng

Thủ Thiêm đang như chiếc lò lửa mà ngọn lửa uất giận đang đến gần với đỉnh hờn căm. Các biện pháp an ủi không đóng góp được gì cho việc giải quyết tình hình. Các cuộc tiếp xúc “lắng nghe” mà không có quan điểm, thái độ và chương trình hành động rành mạch thì chỉ tạo thêm số lần nhức nhối trong dân.

Một khung chính sách cơ bản để sửa sai nếu có sự tham gia của các chuyên gia, rồi được tổ chức trao đổi, góp ý rộng rãi cùng với bà con Thủ Thiêm, trong các tổ chức chính trị xã hội, sẽ biến hiểm họa bất bình thành một cơ hội thực hành chính trị dân chủ, huy động sự tham gia rộng rãi của người dân thì họa sẽ biến thành phúc, nguy sẽ chuyển thành cơ.

Muốn được vậy, phải lập tức chỉ ra những kẻ phải đối diện với nỗi căm giận của nhân dân. Úp úp, mở mở, mù mờ như hiện nay chính là thổi lửa vào nhà.

Phải biến cuộc kiểm điểm của những người phải chịu trách nhiệm thành cuộc thực hành rộng rãi trong cán bộ đảng viên, cũng như các thiết chế phục vụ nhân dân về hiểu biết pháp luật, về sự chính trực và trách nhiệm của cán bộ, công chức.

Một việc làm tối thiết yếu là làm cho bộ máy an ninh thay đổi tư duy và biện pháp tác nghiệp. Bảo vệ lãnh đạo, bảo vệ nhà nước lúc này, tiên quyết phải là bảo vệ từng cơ hội để người dân phát biểu tiếng nói chính đáng của mình, sử dụng lý lẽ, lập luận để đấu tranh. Hạn chế tiếng nói chính đáng ấy chỉ là tích tụ bất bình, khơi dậy những ký ức đau đớn, ném thẳng nó vào lò lửa căm giận đang cài sẵn kíp nổ.

Các biện pháp duy trì trị an bằng bạo lực sẽ là ngọn gió phóng hỏa vào bất bình của dân, biến nó thành bão lửa. Cũng như cách thức mà an ninh đối phó với một số “mục tiêu” nào đó, nhìn từ cách xử lí những vấn đề tôn giáo ở Thủ Thiêm, cũng là một nhân tố góp vào nỗi oan sai kéo dài ở vùng đất này.

Duy trì sự sợ hãi không bao giờ là cách tạo ra ổn định chính trị xã hội. Đó chỉ là một bản báo cáo dối trá với cấp trên mà thôi.

Đã không còn nhiều cách làm cho dân sợ. Nhưng còn nhiều khả năng làm cho dân thương. Phải thật tâm làm cho dân thương thì mới khôi phục lại lòng tin của người dân, khả đi mới giải quyết được hậu sự Thủ Thiêm.

Chiếc giày Thủ Thiêm của cô gái 28 tuổi không chỉ là một cơn giận của dân chúng. Nó là chỉ báo rành rọt về một mặt bằng mới trong quan hệ giữa nhà nước và người dân. Chiếc giày ấy đã cáo chung vĩnh viễn thời đại phụ mẫu chi dân như trong xã hội thần dân mà có kẻ cầm quyền muốn hồi sinh.

Cốt nền dân chủ đã được nâng lên ở Thủ Thiêm.

“Mặt bằng”, vì vậy, đã phải tốn kém lên nhiều và không chỉ do một ai dễ dàng định đoạt.

PS: Tôi nghĩ mình hãy còn lãng mạn khi mong mỏi những giải pháp thật lòng của nhà cầm quyền với nhân dân. Nhưng cứ xin đóng góp, như một trách nhiệm.


Tâm Chánh
FB Tâm Chánh

Nguyễn Tiến Dân - Viết cho Tổng Trọng, trước ngày ngài lên ngôi Hoàng đế


Trời phú cho chúng sinh, mỗi người một cái mồm. Ngụ ý, cấp cho họ cái quyền được ăn và quyền được nói. Dưới bất cứ hình thức nào, các ông, đừng vì: “Nhất Đảng – nhì Trời” mà ngang nhiên tước đi của họ, cái quyền Tự do ngôn luận đó. Luật An ninh mạng, vì thế, nên hoãn vô thời hạn việc thi hành.

Viết cho Tổng Trọng, trước ngày ngài lên ngôi Hoàng đế. Hình minh họa

1- Thưa ông Tổng!

Chỉ ngày mai thôi, chắc chắn, Đảng của ông, Quốc hội của ông và phe nhóm của ông, sẽ đặt ông ngồi lên Cửu trùng đài. “Niềm ao ước bấy lâu, nay đã thỏa nỗi chờ mong”. Từ giờ phút này, khi du hí năm châu – bốn bể, ông sẽ chính thức vào vai Hoàng đế. Do đó, không cần Ngoại giao vận, cũng sẽ được bước chân lên tấm thảm đỏ, để vào nhà người ta từ cửa chính và đi lần nào, cũng sẽ được ngửi mùi thuốc súng của cả dàn cà- nông bắn chào mừng, lần ấy.

Dân đen chúng tôi, về lý thuyết, là chủ nhân của cái Đất nước này. Nhưng trái ngược hoàn toàn với các thể chế Dân chủ, chẳng ai trong chúng tôi có được cái quyền: Dùng lá phiếu của mình, để định đoạt cái ngôi báu đó. Thói đời, khi đã bất lực, người ta thường dễ buông xuôi. Riêng lần này, thì không. Trước ngày ông đăng quang, cả nước lên đồng. Tất cả, chia thành 2 chiến tuyến rõ rệt. Họ mặc sức đàm tiếu và ra sức mà đả phá lẫn nhau.

– Đầu tiên, là bọn bưng bô và lũ bồi bút. Chúng lấy ống đu đủ ra và giẫm đạp lên nhau, để giành quyền cắm nó vào đít chủ. Cắm được rồi, đứa nào cũng phồng mang – trợn mắt mà thổi. Trăm phần trăm bọn chúng, đứa nào cũng ca ngợi và xếp chủ của chúng, vào cái loại: Phi là “đấng nhân kiệt (!)” thì cũng xứng đáng là “bậc sĩ phu của Bắc Hà (!)”. Nhiều đứa táo tợn, còn trùm luôn cả 2 cái áo cũ rách ấy lên đầu chủ. Theo chúng, cả cuộc đời của chủ, không hề có một chút tì vết. Xứng đáng, xếp ngang hàng với ông Hồ và được Lịch sử trao cho sứ mạng “thế Thiên – hành Đạo (!)”. Đích cuối cùng của tất cả những luận điệu dở hơi ấy, chính là cái bánh vẽ vĩ đại, được thiết kế cho “thì tương lai”: “Đồng chí Nguyễn Phú Trọng sẽ đưa Đất nước vượt lên tầm cao mới (!)”

– Đối diện với thành phần bất hảo này, là các bác “xấu bụng”. Các bác ấy, trề môi:

Trăm voi, không được bát nước xuýt. Tài năng và đức độ của lão này, cứ lấy thực tế ra, mà bình. Chuyên nghề của lão ấy, là văn chương. Nhưng học xong rồi, “chữ thày, lại trả cho thày”. Công du Hoa Kỳ, y gặp người đồng cấp Joe Biden. Rắp tâm chơi xỏ y, tay này, giở ngón lẩy Kiều. Nghe xong, y liền ngậm hột thị, mặt ngắn tũn lại và dĩ nhiên, vô phương đối đáp. Ở chuyên ngành thứ 2, y là tổ sư của cái mớ lý luận hổ lốn về “xây dựng Đảng”. Học xong, được trao cái chức Tổng Bí thư, với quyền lực vô biên. Đã thế, lại không phải chịu trách nhiệm với bất cứ một ai và bất cứ một vấn đề gì.

Nào chỉ có thế, thời gian nhậm chức, còn vắt qua tận 2 khóa liền tù tì. Thừa thời gian, để thực thi mọi ý tưởng vĩ đại, nếu có. Donald Trump – Tổng thống của Hoa kỳ, có nằm mơ cũng không mong có được những điều kiện thuận tiện như thế. Ấy thế mà, chỉ với chưa đầy 2 năm, kể từ khi cầm quyền, tay này đã khuynh đảo cả thế giới. Âm bản của Trump, là Tổng Trọng. Tố chất của y: “nói gì, sai đó – làm đâu, hỏng đấy”. Khiến cho, Đảng của y, “nát như tương Bần”. Những phần tử suy thoái và biến chất trong Đảng, theo đó, mà sinh sôi – nảy nở. Chúng nhiều như nấm sau mưa, nhiều như củi mục và rác rưởi sau lụt. Chẳng lò nào, thiêu xuể.

Không thành công trên cương vị Tổng Bí thư, nhưng y được cái tính tham lam và cố chấp kéo lại. Đại Quang chết, mả chưa nguội. Y bỏ ngoài tai tất cả mọi lời can gián và trơ trẽn bước qua những lời cảnh báo của chính mình, để tấp tểnh trèo lên ngôi báu. Trong khi, chẳng có công lao và thành tích gì nổi bật. Có chăng, chỉ là câu chuyện: Thời trai trẻ, y đã giả điếc, để trốn nghĩa vụ quân sự và giả đui, để khỏi vào chiến trường. “Nhất tham/ nhị ác; tam dốt/ tứ hèn; ngũ trơ/ lục Cuội”. Đó, là tất cả những phẩm chất nổi trội của “bậc nhân kiệt” Phú Trọng. Còn cái chữ Thiên, trong cụm từ “thế Thiên” kia, đích thị là Thiên triều. Nghĩa là, ông ta được sự ủy nhiệm và thay mặt Tập Hoàng đế, để thi hành cái đạo CS ở nước Nam – Một thứ tà đạo, còn đứng được cho đến tận ngày nay, hoàn toàn cậy nhờ vào 2 đốt xương trụ: Bạo lực tàn độc và tuyên truyền dối trá.




Những cuộc cãi vã kiểu này, nhiều vô kể. Đặt đít xuống bất cứ nơi đâu, cũng có thể được nghe. Nghe nhiều, ù hết cả tai và chóng hết cả mặt.

Dân già tôi, từ xưa – đến nay, vốn bàng quan và không chút hứng thú với những câu chuyện buôn Vua – bán Chúa. Nghe những cuộc đôi co và cãi vã về đề tài: ông Tổng có xứng đáng, để lên ngôi Hoàng đế hay không, lão chẳng muốn tham gia. Bởi lão biết: “Bầu bán Cuội”, là bản chất của mọi chế độ độc tài CS. Hệ quả, dân không được làm chủ Đất nước. Nếu không thay đổi một cách tận gốc – tận rễ của vấn đề Dân chủ, ai lên ngôi Hoàng đế của nước Nam, chung cuộc vẫn là: Hết thế kỉ này, sau bao nhiêu lần “cải cách” với lại “cải tổ”, Đảng CS anh minh, rồi cũng sẽ lại đưa nước ta quay trở về với vạch xuất phát. Vấn đề còn lại, chỉ là: Dân Việt, có muốn quay trở về với cái vạch định mệnh ấy, hay không.

2- Sách Lục thao, thiên Văn sư chép rằng: 凡人恶死而乐生,好德而归利. Phàm nhân ố tử nhi lạc sinh, hiếu Đức nhi qui lợi. Có thể hiểu rằng: Đã là con người, ai cũng tham sống và sợ chết. Nói tới Đức, ai cũng thích nghe và say sưa bàn. Nhưng đến khi hành động, họ lại quên hết những thứ đó và đặt lợi ích của mình, lên hàng đầu. Từ quan – tới dân, thậm chí, trên bình diện Quốc gia, đều như thế cả. Quyền lợi, ai cũng cố vơ. Trong khi, luôn tìm cách lảng tránh nghĩa vụ. Quyền lực, ai cũng tranh giành. Nhưng khi đổ bể, đố tìm được người chịu trách nhiệm.

Từ cái luận điểm ấy, lão đây rất ngạc nhiên, khi thấy ông không muốn làm Thái Thượng hoàng – người đứng sau cánh gà, để giật dây và điều khiển những con rối. Có lẽ, ông quá vụng. Bởi thế, phải bỏ hết cả dây rợ, con rối, cùng mớ que quẽ lằng nhằng, để trực tiếp nhảy lên sân khấu, mà diễn trò. Hay ho gì, cái chuyện đó. Không cần cái danh Hoàng đế, ông đã và cho đến bây giờ, vẫn là người đứng đầu của Đất nước. Mọi công việc, há chẳng phải đều qua tay ông, để ông chỉ đạo chúng một cách: “trực tiếp – toàn diện và tuyệt đối” đó sao. Thắng, ông tranh công. Thua, ông đổ lỗi cho những loại như Ba X và Tư S. Thế, là xong. Cần gì, phải trực tiếp ra mặt và cần gì, phải cố đặt bàn tay của mình lên quyển Hiến pháp, để đưa ra những lời thề, mà ai cũng biết rằng, nó gian dối. Trong khi đó, quỹ thời gian của ông, nào có nhiều nhặn gì. Thời hạn, để được “ngồi trên nóc tủ, ngắm gà khỏa thân”, cũng đã kề cận lắm rồi.

Ông dại, vì muốn ôm cục trách nhiệm vào người. Hay ông là bậc vĩ nhân, là Tô Vĩnh Diện của thời @, quyết lấy thân mình ra, để chèn khẩu pháo, khi nó sắp lăn xuống vực?


3- Cổ nhân dạy: “Một người làm quan, cả họ được nhờ”. Lão với ông, cùng họ Nguyễn. Ông mà là vị Hoàng đế tốt, cả họ Nguyễn nhà mình thơm lây và ngược lại. Với tố chất của ông, cộng với tính cách của ông và thêm vào đó, cả thằng thày của ông nữa, cũng chẳng có gì đảm bảo chắc chắn, ông sẽ công thành – danh toại, trên cái cương vị mới. Hãy gấp những mớ trước tác cổ hủ của Mác – Lê lại và hãy mở rộng cửa, để bước ra ngoài trời, ông sẽ thấy: Gió, đã sắp đổi chiều và cái thời, mà “kiến ăn cá”, cũng đã sắp qua rồi. Hãy suy nghĩ một cách hết sức nghiêm túc, đến ngày mai – Ngày, mà cả đàn cá bâu lại, để xơi kiến. Lạy Thánh, mớ bái. Ông mà có cái kết cục giống như Ceaușescu, cả họ Nguyễn nhà mình, mang nhục. Cực chẳng đã, lão đành biên lá thư này, hiến cho ông 2 kế sách. Thực thi nó, khả dĩ, bình ổn cục diện.

4- Sau khi lên ngôi, bất cứ vị Hoàng đê nào cũng phải làm ngay 2 việc. Đó là, “Đại xá thiên hạ” và “Xuống chiếu cầu hiền”.

a- Khi đại xá thiên hạ, không nhất thiết, phải miễn thuế cho toàn dân. Chỉ cần, bố cáo và cam kết: “không tăng thuế và không tăng giá vô tội vạ, trong suốt thời gian cầm quyền”. Như thế, cũng đã đủ để dân chúng sung sướng đến mức phát điên lên rồi.




Khi đại xá thiên hạ, hãy rà soát lại những bản án quá nặng nề, dành cho những người bất đồng chính kiến. Nên nhớ, mục đích của việc tuyên án, là gieo rắc nỗi sợ hãi cho cả cộng đồng. Người ta không sợ, việc kia vô nghĩa. Giảm án cho người ta, là giảm sự căng thẳng trong đối đầu giữa họ và Chính quyền. Cổ nhân, gọi đó là kế “rút củi đáy nồi”.

Khi đại xá thiên hạ, nếu xét tha tù, đừng có tha cho những quân ăn tàn – phá hại. Bọn này, bị quần chúng căm ghét. Tha cho chúng, ông sẽ tự đặt mình vào thế đối đầu với quần chúng. Người đầu tiên, mà ông cần phải thả, đó chính là Trần Huỳnh Duy Thức. Người này, kiến thức uyên thâm – ý chí kiên cường và chưa lúc nào nguội lạnh tình yêu Quê hương – Đất nước. Tầm ảnh hưởng của ông ta, vì thế, là rất lớn. Không chỉ trong nước, mà Quốc tế, họ cũng rất quan tâm đến trường hợp này. Ông này ở tù, cũng đã đủ lâu và hội đủ nhiều điều kiện, để có thể được tự do. Thả một người có tiếng như ông ta, không cần khua chiêng – gõ mõ, thiên hạ khắc biết lòng dạ và chủ ý của ông trong tương lai. Thả ông ta, vụ Trịnh Xuân Thanh, tự nhiên, sẽ bị lu mờ. Công du nước ngoài, dễ ăn – dễ nói với người ta. Nhắc ông, thêm 1 chi tiết: Dù ai nói thế nào và đưa ra những điều kiện thuận lợi gì, Trần Huỳnh Duy Thức, vẫn một mực từ chối ra nước ngoài tị nạn. Nghĩa là, sâu thẳm trong đáy lòng, ông ta vẫn muốn phục vụ Đất nước và phục vụ Nhân dân, ngay trên quê hương của mình. Nếu thả Trần Huỳnh Duy Thức và tận dụng được chất xám của ông ta vào những công việc thích hợp, ông quả thực là đại tài và hoàn toàn xứng đáng, để khoác lên người, tấm áo danh giá của những “bậc nhân kiệt”.

b- Ai cũng biết, những người làm đi thuê, ở đâu và đời nào, cũng cùng chung mẫu số: “ráo mồ hôi, là hết tiền”. Bởi thế, tự cổ xưa, người ta đã đúc kết: “phi trí – bất hưng”. Muốn Đất nước cất cánh, không thể trông mong ở sức cơ bắp của giai cấp công – nông và cũng không thể trông đợi ở giai tầng lãnh đạo, mà trình độ, còn ở mức “cờ lờ mờ vờ”: Đi đứng, như con lật đật – Nói năng, giống thằng dở hơi và hành xử, hệt loài vô học. “Lượng đổi – chất đổi”. Muốn Đất nước cất cánh, chỉ và chỉ có thể trông đợi vào trí tuệ của những bậc hiền tài. Cái này, đã thừa tiền lệ:

Truyền thuyết kể rằng, đời Hùng Vương thứ Sáu, giặc Ân mang quân sang chiếm nước ta. Vận nước, lâm nguy. Vua bèn sai người đi khắp nước, để cầu hiền tài ra chống giặc. Thánh Gióng xuất hiện và giặc Ân đã được bình.

Tích xưa, cũng kể lại, hễ cứ ngồi xuống đâu, Lê Lợi đều trang trọng cho đặt “cỗ xe cầu hiền” ở phía bên trái của mình. Cầu được hiền tài, Đức Vua Lê mới có thể làm nên kì tích: “lấy ít đánh nhiều – lấy yếu thắng mạnh”. Từ đó, lập nên đại nghiệp.

Cận đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh của các ông, nào có kém gì. Ông tìm cái văn bản có tiêu đề: “Tìm người tài đức”, mà xem. Lợi hại của nó ra sao, tự ông đúc kết.

Đến thời đổi mới, phải kể đến Võ Văn Kiệt. Ông này, không xuống chiếu cầu hiền. Nhưng tập hợp được bên mình nhiều nhân sĩ và trí thức tiêu biểu. Lắng nghe các bậc hiền tài, ông ta làm được ối việc lớn và hiệu quả. Về nghỉ, ông truyền lại “trí nang” (túi khôn) ấy, cho Phan Văn Khải. Đến thời Tấn Dũng, nó bị giải tán. Đồn rằng, đó là chủ ý của ông thày dùi cơ bắpNguyễn Văn Hưởng. Không ai phản biện, đồng nghĩa với không bị ràng buộc. Đầu óc đã ngắn, tham vọng lại nhiều. Nghĩ ra cái gì, là hấp tấp mang tiền đi và làm luôn cái đó. Nhiều “quả đấm thép”, vì thế, đã được vội vã hình thành và chúng đã giáng những gì xuống đầu Dân tộc Việt, thiết tưởng, không cần phải nhắc lại nữa. Chỉ biết rằng, máu mồm – máu mũi của chúng ta, đã ồng ộc tuôn ra và đến nay, chửa có dấu hiệu nào cho thấy, nó sẽ ngừng.

Ôn cố – tri tân. Cạnh ông, hiện giờ, đầy những loài ngu dại. Đứa này, thì đi đếm người trên thế gian, để về đào ao nuôi tôm. Thằng ngọng kia đạo văn, lại được đứng đầu bộ Dục. Con điên nọ, chẳng thèm đếm xỉa đến gia cảnh bần hàn, vẫn quyết dốc hầu bao có hạn, để xây những nhà hát xa xỉ, dành cho tinh hoa của riêng loài tinh tinh đến nghe… Hãy thải bớt những thành phần đó đi. Tìm và bổ nhiệm những người có Tâm và đủ Tầm vào thế chỗ. Không phân biệt, người đó là trong hay ngoài Đảng.

Kế sách trước mắt này, phải gấp rút thực hiện trong ngắn hạn.


5- Bên trong Tử Cấm Thành ở Bắc kinh, có bức hoành phi: 光明正大. Quang – Minh – Chính – Đại. Nghĩa của nó, nhiều người Tàu, dịch là: 心地光明 . 言行正派 . 公正无私. Tâm địa quang minh – Ngôn hành chính phái – Công chính vô tư.


Bức hoành phi này, được treo ngay ngắn trên ngai vàng. Có lẽ, khi trị vì đất nước, các Vua Tàu, đều coi 4 chữ đó là khuôn vàng – thước ngọc; là tôn chỉ và là phương châm hành động cua chính mình.
Ông là người thân Tàu, có tiếng. Ra vào Trung Nam Hải, nhiều và dễ, như đám dân đen chúng tôi đi chợ. Ông cũng nên noi gương Tập Hoàng đế, để sắm 1 bức ấy về và đội nó lên đầu. Lấy 4 chữ ấy, làm kim chỉ nam, để mà hành động. Có điều, nên “vận dụng nó một cách linh hoạt và sáng tạo, vào hoàn cảnh Việt nam”. Cụ thể:

a- Với chữ 光 Quang, nên hiểu theo cái nghĩa, là công khai. Trước mắt, hãy tạm làm mấy viêc nho nhỏ:

Ông hãy công khai với người dân cả nước, về “mật ước Thành đô”, về “Hiệp định phân chia Biên giới Việt – Trung trên đất liền”.

Ông hãy công khai với người dân cả nước, về thu chi ngân sách Quốc gia. Tiện thể, cho người dân chúng tôi biết: Mỗi năm, Đảng CS Việt nam, đã tiêu hết bao nhiêu tiền thuế của chúng tôi và nhận thêm bao nhiêu tiền nữa từ Tàu cộng, để tồn tại. Tiêu như phá mả như thế, nhưng nó đã làm được những gì cho Đất nước và Dân tộc, chúng tôi biết cả rồi. Qua đó, trắng – đen sẽ rõ ràng: Trong quan hệ giữa người dân với Đảng, ai mới phải là người phải mang ơn ai.

Ông hãy cho công khai tài sản của tất cả mọi cán bộ lãnh đạo, không chừa một ai. Bắt đầu, từ Tổng Bí thư – Chủ tịch nước, cho tới anh trưởng thôn. Từ cái bản kê khai ấy, quần chúng sẽ bổ xung cho hoàn chỉnh. Cả nước sẽ được biết: Ai, là Tư bản đỏ – ai, là phú ông và bọn chúng, giàu đên mức độ nào. Thêm một ông Đỗ Mười Hai, là cho tiến hành ngay chiến dịch “cải tạo Tư bản đỏ”. Ngân sách Nhà nước, sẽ đầy – nợ công, sẽ được trả sạch.

Đặc biệt, công khai danh tính của tất cả mọi cán bộ, mà con cái và người thân của họ, đang học tập tại những nước Tư bản thối tha. Chưa đề cập đến vấn đề tài chính, thì ít nhất, những kẻ này cũng đã và đang phản bội lại Lý tưởng Cộng sản. Chính chúng, đã củng cố niềm tin mãnh liệt của quần chúng, rằng: Đảng CS, chuyên sản xuất ra những cái của nợ và thiên đường mà những lãnh tụ CS đã từng hứa, chỉ là cái bánh vẽ.

Cuối cùng, khi xét xử những người bất đồng chính kiến, xin ông, đừng có lặp lại những phiên tòa “xét xử công khai”, nhưng lại cấm cửa báo chí và dân chúng. Thậm chí, thân nhân của những bị cáo, cũng phải đứng chầu rìa. Cách làm này của những người tiền nhiệm, vừa thối tha vừa trơ trẽn. Đừng cố duy trì.

b- Với chữ 明 Minh. Trước hết, nên hiểu theo cái nghĩa, là sáng suốt.

Người xưa có câu: 智者不法愚者拘之. Trí giả bất pháp, ngu giả câu chi. Ngụ ý: Người thông minh, họ luôn căn cứ vào tình huống thực tế, để uyển chuyển thay đổi đường đi – nước bước của mình. Khi làm việc, họ không cứng nhắc dựa vào một cái khuôn phép cố định. Lũ đầu đất, không thế. Bọn này, thày dặn “xuống nước phải mặc áo phao”. Chúng nhắm mắt, làm y như thế. Lũ quét ập đến, chúng mặc vội cái áo phao xịt vào người và phó mặc tính mệnh của mình cho dòng nước xiết. Trong khi, chỉ cần ba, bốn bước chân, là có thể nhảy ngay lên chỗ cao ráo ở trên bờ.

Bằng hành động, hãy gửi một thông điệp đến người dân cả nước: “Phú Trọng tôi, là một người thông minh. Chưa bao giờ, là thằng cố chấp. Giữa chúng ta, có rất nhiều sự khác biệt. Riêng một thứ, đồng thuận cao. Đó là, mô hình CS, đã lạc lõng so với thời đại và đặc biệt, nó không còn thích hợp với Việt nam. Tôi kiên quyết lèo lái, để con thuyền Việt nam không mãi mắc cạn ở đó nữa và cam kết, sẽ dẫn dắt chúng ta hòa nhập với phần còn lại của Thế giới Văn minh”.

c- Với chữ 正 Chính. Nên hiểu theo nghĩa, là chính danh, là ngay thẳng và công bằng. Danh có chính, ngôn mới thuận.

– Cho đến tận bây giờ, trong các bộ Luật của nước CHXHCN Việt nam, chưa có cái nào mang tên “Luật về Đảng”. Không có Luật về Đảng, các ông đăng kí ở đâu – lúc nào và như thế nào, để mà, hoạt động một cách “tự nhiên như ruồi” vậy? Không chính danh, các ông lấy tư cách gì, để moi tiền từ Ngân sách Nhà nước? Không có tiền Ngân sách, liệu mấy đồng Đảng phí của các ông, có đủ trang trải cho riêng cái Đại hội Đảng, mà tận 5 năm mới tổ chức một lần? Nói các ông đang hoạt động ở “ngoài vòng Pháp luật”, có gì sai? Các ông, không thể cù nhầy và trơ trẽn mãi, để bao biện rằng: “Đã có hẳn một Điều 4 to tổ bố, ở trong Hiến pháp”. Nói như thế, ông trả lời ra sao với câu hỏi: Hiến pháp cũng qui định, người dân chúng tôi, có đủ mọi quyền Tự do. Từ tự do ngôn luận, tự do biểu tình, tự do cư trú. .. cho đến cả cái quyền tự do lập hội. Nhưng tại sao, khi chúng tôi thực hiện những quyền Hiến định ấy, các tiền nhiệm của ông lại dùng súng đạn, nhà tù và cả tỉ thủ đoạn đê tiện khác, để đàn áp chúng tôi? Như thế, liệu có gọi là công bằng?

Cho nên, ông hãy gấp rút cho ban hành những bộ Luật, gắn liền với hai chữ “Tự do” thiêng liêng đó.
Luật về Hội” ra đời, các ông hãy đăng kí, để nhận được sự bảo hộ của Pháp luật. Lúc đó, “danh chính – ngôn thuận” giành quyền cai trị Đất nước và công khai mà tiêu tiền từ Ngân sách Quốc gia. Đừng như bây giờ, giống thằng ăn cắp, xấu hổ lắm. “Luật về Hội” ra đời, sẽ giúp khai thông những bế tắc khi đàm phán, để kí những Hiệp định thương mại tự do. Có những cái Hiệp định đó, Đất nước sẽ mau chóng cất cánh. “Có thực, mới vực được đạo”. Lúc đó, không phải tốc váy lên gào, dân cũng tin và đi theo Đảng.

Đừng có sợ, các loại Hội khác, sẽ nhân đó mà ra đời và khi công khai hoạt động, họ sẽ hót Đảng CS Việt nam vào cái bãi rác của Lịch sử. Họ chưa đủ bản lĩnh và chưa đủ thực lực, để làm cái công việc ấy đâu. Trái lại, hãy coi đó là một liều vac xin, để các ông bừng tỉnh, mà cải tổ triệt để mọi tổ chức của Đảng. Bỏ đi những cái ung nhọt, Đảng của các ông, sẽ trở nên vững mạnh. Không một loại vi rut nào, khi thâm nhập một cơ thể khỏe mạnh, mà gây ra bệnh cho nó được. Đó, là Chân lý. Các thể chế Dân chủ ở phương Tây, là một minh chứng. Tất nhiên, người dân chúng tôi, cũng được lợi. Có Công đoàn Độc lập, giới chủ, dễ dàng gì, để bắt nạt và bắt chẹt công nhân – giai cấp tiên phong và trên lí thuyết, đang là giai cấp lãnh đạo. Nhân đây, lão nhờ ông giải thích cho 1 nghịch lí. Đó là, “vừa đi làm cu- li, để chịu sự sai khiến của chủ, vừa đủ tâm và thừa tầm, để lãnh đạo cả cụ tổ của những cái thằng chủ kia (!)”. Chuyện cổ tích ấy, nó đã xảy ra ở đâu, trên cái thế gian này?




Các bộ Luật khác, khi ban hành, cũng có hiệu ứng tương tự. Dân thỏa lòng, còn Đảng CS, đứng đằng sau thu lợi.

– Một Nhà nước chính trực, không bắt những người vô tội. Bắt ai, phải có lệnh của Tòa án và phải bắt họ, giữa thanh thiên – bạch nhật. Dùng thủ đoạn của Xã hội đen, để bắt cóc người ta, lợi ít – hại nhiều. Trịnh Xuân Thanh, là 1 ví dụ. Cái giá mà Đất nước phải trả trong vụ này, quá đắt. Những hệ lụy của nó, đâu có thể ngày một – ngày hai, mà khắc phục được. Tổn thất một cách thê thảm về kinh tế, là đương nhiên. Tuy thế, nó vẫn không là cái gì, so với nỗi mất mặt 1 cách nhục nhã và ê chề trên trường Quốc tế. Ông hãy lôi cái thằng đầu têu trong vụ này ra, mà trị tội. Trước, xoa dịu sự phẫn nộ của dư luận trong và ngoài nước, trả lại thanh danh, cho Nhà nước và Nhân dân Việt nam. Sau, gián tiếp chứng minh cho sự trong sạch của chính bản thân mình.

– Người xưa có câu: 非工不盛  Phi công, bất thịnh. Ở tầm Quốc gia, câu này, nên hiểu là: không tăng gia sản xuất, Đất nước chẳng thể thịnh vượng. Muốn tăng gia sản xuất, tối quan trọng, cần hội đủ đồng thời cả 2 thứ. Đó là chất xám và vấn đề “đầu tiên”, nghĩa là tiền đâu. Cả 2 thứ này, xin lỗi ông, các ông đã cạn kiệt cả rồi. Khi không thể “bắc nước đợi gạo người”, các ông chỉ có thể trông chờ vào nội lực: Bà con trong nước và Việt kiều. Tiếc thay, với cái gọi là “tư duy nhiệm kì”, các ông không có những kế hoạch dài hơi. Xuyên suốt trong cái chủ trương “mì ăn liền” của các ông, chỉ có 2 cụm từ. Một, là “lừa đảo” – Hai, là “ăn cướp”. Trong tư duy của các ông, chưa bao giờ có các cụm từ “giữ chữ tín” và “chịu trách nhiệm”. Kể ông nghe, chỉ 2 trường hợp: Việt kiều Trịnh Vĩnh Bình và ông giáo già Nguyễn Tiến Dân.

Người thứ nhất, các ông lừa người ta đem tiền về nước kinh doanh. Với tài nghệ của mình, khối tài sản của ông này tăng đến mức chóng mặt. Nhẽ ra, phải coi đây là hàng trưng bày trong tủ kính, để thu hút vốn đầu tư và chất xám của bà con Việt kiều. Nhưng, không. Đợi con vịt kia béo mầm, thuộc cấp của ông vu khống, rồi lấy đó làm cớ, để tống người ta vào tù. Của cải, chúng sung tiệt vào túi cá nhân. Gian khổ lắm, Vĩnh Bình mới chạy thoát. Ông ta kiện Nhà nước CS ra tòa án Quốc tế. Các ông, thua đứt. Đơn giản, nếu thắng, các ông tha gì mà không đánh trống và thổi kèn rầm rĩ lên. Ông hãy gọi thuộc cấp đến và nói nhỏ vào tai nó: “Chưa trả tiền cho Trịnh Vĩnh Bình theo phán quyết của tòa Quốc tế, Nhà nước của chúng ta, sẽ được gắn cái mác Nhà nước của bọn thảo khấu. Chưa trả tiền cho con cò mồi Trịnh Vĩnh Bình, lấy gì, để lừa cả đàn cò Việt kiều kia. Lợi hại thế nào, chúng mày, liệu mà khu xử”.

Người thứ 2, các ông lừa người ta đem tiền mặt cho Chính quyền vay, phục vụ cho chương trình “xóa đói, giảm nghèo” của các ông. Cụ thể, nó được dùng để xây hồ thủy lợi, tại xã Phú Mãn, huyện Quốc Oai, TP Hà nội. Mục đích, lấy nguồn nước tự chảy, phục vụ cho bà con Dân tộc canh tác lúa nước. Hồ xây xong, chính quyền CS lật mặt, không chịu thực hiện nghĩa vụ của mình trong Bản cam kết đầu tư. Tiền, không chịu trả. Lên gặp, không thèm tiếp. Chuyện đến tai Chung con – người, mà bây giờ, đứng đầu UBND TP Hà nội. Ông này, chỉ thị xuống. UBND huyện Quốc Oai, buộc phải tiếp Dân già một cách chiếu lệ. Từ đó đến nay, đã 2 năm trôi qua, chúng tiếp tục đánh bài lờ. Quyết, không chịu trả tiền. Trong vụ này, chỉ có 1 điểm khác duy nhất, so với Trịnh Vĩnh Bình: chúng không dám dùng cái qui trình đê tiện “vu khống – hại người – cướp của”. Bởi, chúng thừa biết, thời thế, đã thay đổi. Không dễ dùng cái cách “gái đĩ già mồm”, để chơi trò “gắp lửa, bỏ tay người”.

Đó, chỉ là 2 trong vô vàn những nạn nhân khác của Chế độ CS. Tất cả những nạn nhân này, mỗi khi có dịp, đều muốn chỉ thẳng tay vào những bộ mặt thớt của các ông, để tố cáo với dư luận trong và ngoài nước, sự đê tiện của Chính quyền CS.

Rõ ràng, Chính quyền CS của các ông, đã để rơi chữ 正 Chính – cái chữ thứ 3 trên bức hoành phi ấy. Trong nhiệm kì tới đây, trên cương vị Hoàng đế, hãy nhặt nó lên và gắn vào cái chỗ, vốn là của nó, ông nhé.

– Với chữ 大 Đại. Nên hiểu theo nghĩa, là Khoan dung – Nhân từ – Đại/ độ lượng.

Chiến tranh Việt nam kết thúc, với phần thắng, thuộc về phe miền Bắc. “Nhất tướng công thành – vạn cốt khô”. Đúng vậy, chiến thắng này, được xây dựng trên núi xương – sông máu của hàng triệu những người con ưu tú của cả 2 phía. Nhiều đến mức, nghĩa trang Tử sĩ, bạt ngàn trên khắp Đất nước ta. Người mất đi, nhưng nỗi đau, còn ở lại. Những bà mẹ của họ, vẫn phải sống quằn quại trong nỗi đau mất con và đêm đêm, vẫn đờ đẫn hướng mắt ra cửa, cùng với niềm tin tuyệt vọng: Có 1 ngày nào đó, đứa con thân yêu của mình, sẽ trở về. Đứng trước thảm cảnh đó, tưởng rằng, sau khi thắng, kẻ mạnh cũng phải có chút ăn năn và có cách cư xử thật nhân văn. Ai ngờ, họ lại giở ngay cái thói: “báo ân – báo oán, nữ nhi thường tình” ra, để xài. Quân – Cán – Chính của phe miền Nam, được gọi chung, là “ngụy”: Người sống, bị lừa vào trại lao cải. Kẻ đã chết, cũng trở thành tù binh, trong những nghĩa trang có hàng rào dây thép gai bao vây. Tột cùng của sự khốn nạn, hàng năm, Đảng CS vẫn linh đình tổ chức nhảy múa, trong cái ngày đau thương, mà họ gọi là Chiến thắng. Về những việc này, ngay cả Võ Văn Kiệt, cũng không hài lòng. Ông ta cho rằng: “Vết thương chung của dân tộc như vậy, cần được giữ lành. Thay vì, lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”. Trước khi chết, ông ta còn gửi tới các đồng chí của mình, lời nhắn: “Để mọi người Việt Nam chung tay hàn gắn vết thương chiến tranh, thì chúng ta, những người chiến thắng và đang lãnh đạo đất nước, ‘phải thực tâm khoan dung và hòa hợp’ ”. Một ý tưởng, không tồi. Chẳng biết, ông Tổng đã có cái thực tâm ấy, hay chưa?

6- Trước khi khép lại thư này, lão muốn ông Tổng áp chữ 大 Đại vào trái tim và suy nghĩ nghiêm túc về những chuyện sau:

– Trời phú cho chúng sinh, mỗi người một cái mồm. Ngụ ý, cấp cho họ cái quyền được ăn và quyền được nói. Dưới bất cứ hình thức nào, các ông, đừng vì: “Nhất Đảng – nhì Trời” mà ngang nhiên tước đi của họ, cái quyền Tự do ngôn luận đó. Luật An ninh mạng, vì thế, nên hoãn vô thời hạn việc thi hành.

– Đừng sợ những người bất đồng chính kiến. Giữa các ông và họ, đâu phải, chỉ tồn tại những dị biệt, Điểm tương đồng, có nhiều và rất lớn. Ông hãy dũng cảm bỏ đi cái tính hẹp hòi và ích kỉ của mình. Lời nói của các ông, đâu phải, lúc nào cũng là Chân lý. Họ, cũng vậy. Hãy mở lòng ra, cùng ngồi xuống để đàm đạo với nhau. Thay vì cấm đoán, hãy khuyến khích họ nói “không” với những luận điểm của các ông. Đồng thời, yêu cầu họ giải thích: tại sao lại nói như thế và cuối cùng, đề nghị họ đưa ra giải pháp. “Gạn đục – khơi trong”, người được lợi và thu hoạch được nhiều nhất, chính là các ông. “Làm anh khó lắm”, huống chi, làm Hoàng đế. Khi người ta nói trái ý mình, phải giải thích cặn kẽ, Đừng có nổi khùng lên, rồi phang thật lực vào mặt người ta.

Bụt trên tòa, gà nào mổ mắt”. Khi mặt mình sạch – tâm mình sáng, ai mà chỉ trích được mình. Tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ. Chuyện ấy, chưa lúc nào lỗi thời đâu, ông ạ.

Chào ông và hẹn sớm tái ngộ!

© Nguyễn Tiến Dân
Tel: 038 50 56 430 (số này, được Viettel tự động đổi. Số cũ: 0168 50 56 430)
Địa chỉ: Vì tin vào cái lũ CS đê hèn, nên bị chúng lừa đảo và cướp sạch của cải. Bởi thế, mất nhà và trở thành dân du mục. Nay đây – mai đó, chưa có nơi ở cố định.

Nguyễn Phú Trọng và những gay cấn khi Quốc Hội bầu Chủ tịch Nước?



Những trở ngại trong việc Nguyễn Phú Trọng nắm chức Chủ tịch Nước khi đưa ra Quốc Hội bỏ phiếu?

Nguyễn Phú Trọng và những gay cấn khi Quốc Hội bầu Chủ tịch Nước?



Đăng ký để xem nhiều tin mới nhất tại: goo.gl/kjKkZU

(Tin tức Hàng ngày TV)

Mạng xã hội: Công cụ đấu tranh của những bà mẹ tại Việt Nam


Thân mẫu của các công dân mạng là tù nhân lương tâm tại Việt Nam chia sẻ về hành trình họ sử dụng phương tiện truyền thông mạng xã hội để đấu tranh đòi công lý cho con của mình.

Mạng xã hội: Công cụ đấu tranh của những bà mẹ tại Việt Nam


Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe
Hòa Ái có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Kim Liên và cô giáo Huỳnh Thị Út là mẹ của hai tù nhân lương tâm Đinh Nguyên Kha và Trần Hoàng Phúc cùng Đinh Nguyên Kha.

Hòa Ái: Thưa bà Kim Liên, bà có thể chia sẻ tóm tắt hành trình làm thế nào bà kết nối được với cư dân mạng thế giới và họ đồng hành với bà ra sao qua các chuyến đi vận động cho tù nhân lương tâm Việt Nam tại Hoa Kỳ và Australia?

Bà Nguyễn Thị Kim Liên: Qua 6 năm tù của hai đưa con Kha và Uy, kinh nghiệm trước nhất mà tôi có là tấm lòng của người mẹ thương con một cách mãnh liệt, nên dù rằng tôi chỉ học tới lớp 8 thôi và cũng là nông dân chân lắm tay bùn nhưng tôi ráng học hỏi để nâng kiến thức của mình lên hòa nhập với thế giới qua mạng xã hội, nhất là qua Facebook. Qua đó, tôi quên rất nhiều bạn bè, anh em ở nước ngoài và ở trong nước, nhiều tổ chức…lên tiếng muốn giúp tôi để lên tiếng cho hai đứa con tôi.

Từ khi tôi kết nối được như vậy, thì tự nhiên tinh thần và tấm lòng thương con của tôi được mạnh mẽ lên. Tôi cảm thấy tôi học cái gì cũng được.

Qua 6 năm, tôi đi được nước Mỹ và nước Úc. Năm rồi đi Úc, tôi cũng nêu vấn đề áp bức tù nhân lương tâm trong tù, mà trước mắt là con tôi bị áp bức trong trại giam. Nhờ tiếng nói được nhiều bạn bè ủng hộ, yểm trợ nên Trại tù K3 Xuyên Mộ ngưng lại chế độ hà khắc đối với các anh em tù nhân trong đó.

Hòa Ái: Thưa cô Huỳnh Thị Út, cô đón nhận thông tin con trai của mình, Trần Hoàng Phúc bị bắt và bị tuyên bản án tù nặng nề 6 năm tù giam và 4 năm quản chế trong tâm trạng như thế nào khi mà cô khẳng định con trai của mình vô tội?

Cô Huỳnh Thị Út: Chiều 29/06/17, trên mạng xã hội có đăng tin Phúc bị 4, 5 an ninh bắt cóc. Một người mẹ ở Sài Gòn, khi hay tin con mình bị an ninh bắt cóc như vậy thì tâm trạng rất lo lắng vì sợ con của mình bị giết trong đồn công an, do hiện tượng người dân bị chết trong đồn công an xảy ra nhiều năm rồi. Cho nên, sáng ngày 01/07/17, tôi bay ra Hà Nội để đi tim con mình, tìm cho ra ai bắt cóc và cháu đang bị giam giữ ở nơi đâu.

Còn về bản án tuyên cho Phúc 6 năm tù giam và 4 năm quản chế thì rõ ràng mình thấy bản án đó quá là bất công. Nó sai từ cái khâu bắt Phúc trái pháp luật và ép cung, bức cung và lấy cung ban đêm Phúc.

Bởi vì Phúc không vi phạm pháp luật. Xử Phúc như vậy là oan sai và mình không đồng ý, không chấp nhận.

Hòa Ái: Hòa Ái cũng ghi nhận qua trang Facebook cá nhân, cô thường xuyên đăng tải những thông tin quy chiếu theo luật pháp Việt Nam để minh chứng cho sự vô tội của con trai mình qua những việc làm của em. Hòa Ái xin hỏi những thông tin mà cô đăng tải đó là do tự cô tìm tòi hay có ai giúp đỡ để cô tìm mạng xã hội cất lên tiếng nói đòi công lý cho con trai của mình?

Cô Huỳnh Thị Út: Khi Phúc bị án oan sai như vậy, với tình thương của một người mẹ thì mình cố hết sức đọc sách, tìm hiểu để biết sơ qua các điều luật; đồng thời để nắm chắc hơn và hiểu rõ hơn các điều khỏan luật và tham vấn thêm với luật sư của Phúc. Do đó, mình mới mạnh dạn hơn chia sẻ về các điều luật đó để cộng đồng mạng biết được rằng họ đã vi phạm và làm sai đối với tất cả các tù nhân lương tâm, cũng như riêng đối với Phúc.

Hòa Ái: Trở lại với bà Kim Liên, Hòa Ái ghi nhận bên cạnh các chuyến đi xuất ngoại để vận động các chính phủ và tổ chức nhân quyền thế giới kêu gọi trả tự do cho tù nhân lương tâm tại Việt Nam, bà cũng là công dân mạng được nhiều người biết đến với các hoạt động xã hội cũng như cất lên tiếng nói phản biện trước những sai trái của chính quyền. Những điều bà làm như thế, có phải để khích lệ tinh thần cho con trai bị tù đày của mình?

Bà Nguyễn Thị Kim Liên: Những điều tôi làm trong khi con tôi ở tù; thứ nhất là tôi nhận thấy tinh thần của các anh em tù nhân rất mạnh mẽ, thúc đẩy tôi ở bên ngoài phải làm điều gì để cất lên tiếng nói và mỗi lần đi thăm tôi kể cho họ nghe, để họ được vững tâm rằng có một người mẹ của một anh em tù nhân lúc nào cũng sẵn sàng lên tiếng cho tù nhân trong Trại K3. Ngoài ra, trong xã hội thì tôi muốn cho mọi người thấy một người mẹ có con đi tù của Cộng sản 6 năm thì sẽ không bao giờ khuất phục trước nhà cầm quyền này.

Hòa Ái: Xin được hỏi Đinh Nguyên Kha, khi mẹ đến thăm và được nghe mẹ kể những việc làm ở bên ngoài để lên tiếng thay cho những tù nhân lương tâm ở trong tù. Kha hay tù nhân lương tâm nào khác có gặp trở ngại nào ở trại giam không khi nghe được những thông tin từ bên ngoại?

Đinh Nguyên Kha: Lúc đầu những thông tin ở ngoài gia đình đưa vào rất nhạy cảm cho nên cán bộ trại giam tìm cách ngăn cản, không có cho gia đình tôi nói, hay đề cập đến những chuyện đó.” Vì nhà tôi cũng đấu tranh, chống lại các áp bức đó nên họ không thể đuổi mình đi được. Cho nên mình cứ cứng rắn. Họ đuổi mình vô mà mình không đi vô thì họ sẽ khiêng mình vô. Mình cứ ngồi lì ở đó thì cuối cùng họ cũng bó tay thôi.

Hòa Ái: Nhân buổi trò chuyện hôm nay, được nghe chia sẻ của hai người mẹ. Nếu như có thể được đại diện cho các tù nhân lương tâm ở Việt Nam và nói một lời với các bà mẹ của tù nhân lương tâm, Dinh Nguyên Kha sẽ nói gì?

Đinh Nguyên Kha: Tôi muốn nói với các bà mẹ của tù nhân lương tâm hãy tiến lên và bảo vệ cho con mình. Hãy tiếp tục đấu tranh để giành lại độc lập, tự chủ của đất nước. Đừng bao giờ lui bước trước sự đàn áp. Bởi vì tất cả chúng ta đoàn kết thì tất sẽ thắng.
Hòa Ái: Xin cảm ơn ba vị tham gia buổi trò chuyện này!


Hòa Ái
RFA

Thay loa phường bằng thiết bị thông minh: Bình mới rượu cũ?


Sau nhiều năm công luận kêu gọi xóa bỏ loa phường vì tính bất cập của nó, gần đây cơ quan chức năng Hà Nội đã có động thái đáp ứng. Đó là dùng thiết bị thông minh gắn tại nhà dân để phường xã phát thanh trực tiếp đến từng nhà. Người dân và các chuyên gia thông tin truyền thông nghĩ gì về việc này?

Hệ thống phát thanh loa phường ở Hà Nội. (Ảnh minh họa chụp trước đây)

Ủng hộ bỏ loa phường


Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe
Loa phường, một sản phẩm thường thấy ở các nước cộng sản, với mục đích tuyên truyền cổ động các chính sách của nhà nước. Vào ngày 9 tháng 1 năm 2017, phát biểu tại hội nghị triển khai công tác năm 2017 của Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Hà Nội, ông Nguyễn Đức Chung đã nhận định ‘loa phường’ đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, do vậy cần đánh giá, nếu thấy không hiệu quả thì nên bỏ. Ý kiến của ông Nguyễn Đức Chung khi đó được sự đồng tình của người dân. Có lẽ đây là một trong số ít lần, ý kiến của vị chủ tịch thành phố Hà Nội được người dân hưởng ứng nhiều như vậy.

Trao đổi với Đài Á Châu Tự Do, Anh Trọng, một người dân ở Hà Nội, cho biết ý kiến của mình về chiếc loa phường:

Bỏ loa phường là rất tốt, bởi vì nó đỡ hẳn một cái kênh ô nhiễm tiếng ồn, bởi vì trong nội đô vì đã phải tiếp xúc với rất nhiều thể loại âm thanh khác nhau rồi.

-Anh Trọng
“Với góc độ là người dân Hà Nội sống trong nội đô thì Anh thấy bỏ loa phường là rất tốt, bởi vì nó đỡ hẳn một cái kênh ô nhiễm tiếng ồn, bởi vì trong nội đô vì đã phải tiếp xúc với rất nhiều thể loại âm thanh khác nhau rồi. Với lại trong nội đô người ta đã có nhiều cách tiếp cận với nhiều nguồn thông tin, kể cả thông tin từ cơ sở. Trong khi loa phường đưa thông tin lại mang tính áp đặt, có thông tin không cần thiết mà nó cứ văng vẳng ở tai rất khó chịu. Thứ nữa là cái thời đại bây giờ có nhiều cách để các cấp chính quyền từ trung ương cho đến địa phương truyền tải thông tin đến người dân, kể cả thông qua mạng xã hội. Cho nên cái việc bỏ loa phường là anh thấy ủng hộ.”

Nhận xét về loa phường, Ông Nguyễn Lâm Thanh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội truyền thông số Việt Nam đưa ra nhận định:

“Tôi nghĩ nó sẽ phụ thuộc vào tính chất, chẳng hạn như những nơi mà thông tin nhiều như ở thành phố thì chắc là nó không cần thiết. Còn tính năng cảnh báo, trường hợp đột xuất thì có nhiều cách khác nhau. Ở những nơi vùng sâu vùng xa mà thông tin rất thiếu thì có thể loa phường còn tác dụng, còn ở thành phố thì tôi nghĩ nó không cần thiết.”

Tuy nhiên ý kiến của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Hà Nội Nguyễn Đức Chung khi đó lại không được sự đồng tình của Sở Thông tin và truyền thông Hà Nội. Ý kiến ngược lại này phải chăng là do lợi ích nhóm, vì mỗi lĩnh vực, mỗi ngành nghề đều có những dự án, những lĩnh vực thuộc quyền lợi của mình.

Cho đến tháng 8 năm 2017, chính quyền Hà Nội đã tìm ra giải pháp có lẽ sẽ vẫn đảm bảo quyền lợi của các các “nhóm”!? Một trong những nội dung của đề án “Sắp xếp lại và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đài truyền thanh phường, xã, thị trấn trên địa bàn thành phố”, là dùng thiết bị thông minh gắn tại nhà dân để thay thế loa phường.

Khó khả thi

Thiết bị thông minh mới này có tên M-Gateway, hiện do công ty Mobifone sản xuất và gắn thử nghiệm tại 200 hộ dân tại các quận Ba Ðình, Cầu Giấy và Hoàn Kiếm thuộc trung tâm thành phố Hà Nội.

Thiết bị thông minh M-Gateway dự định đặt tại nhà dân để thay thế hệ thống phát thanh loa phường ở Hà Nội. Courtesy Mobifone
Theo thông tin từ Trung tâm công nghệ thông tin MobiFone, thiết bị M-Gateway có chức năng phát trực tiếp các bản tin của chính quyền đến từng hộ dân, có thể kết nối với điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng… tuy nhiên tất cả mọi chức năng cần phải kết nối internet mới sử dụng được.

Nhật xét về việc dùng thiết bị thông minh thay thế loa phường, Anh Trọng sống ở Hà Nội, cho biết:

“Cái thiết bị mới đặt trong nhà này, Anh thấy là khó khả thi, trừ khi họ có cái chế tài để bắt từng gia đình phải mua trang bị. Nếu mà để cho người dân tự nguyện thì anh nghĩ nhu cầu của người dân cũng không đến mức họ tự nguyện lắp ở trong nhà đâu. Tại vì, thứ nhất đối với tầng lớp thanh niên hay tuổi trẻ thì họ cũng có nhiều cách để tiếp cận thông tin, còn đối với một số người cao tuổi một chút mà có nhu cầu nghe loa phường, nghe chương trình thời sự qua kênh loa phường thì có lẽ họ cũng khó sử dụng cái thiết bị mà phải cắm qua internet ở trong nhà như thế.”




Theo ông Nguyễn Lâm Thanh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội truyền thông số Việt Nam, kêu gọi lắp đặt thiết bị thông minh tại nhà dân để thay thế loa phường là xâm phạm quyền riêng tư của người dân. Ông nói tiếp:

“Theo tôi dùng thiết bị thông minh thay thế loa phường là không khả thi vì không ai làm như thế cả. Thực ra thì chính quyền có thể để ra một cái địa chỉ trên mạng, rồi thông báo cho người dân biết các việc ấy. Chứ còn lắp một cái thiết bị ở trong nhà dân chắc là chẳng ai đồng ý. Còn nếu người ta đồng ý thì sau đó người ta cũng phá đi chứ chẳng ai để cái đó trong nhà. Còn nếu kêu gọi mua thì tôi nghĩ cũng chẳng ai mua, vì cái đó xâm phạm cái quyền riêng tư ở trong nhà người ta.”

Theo tôi dùng thiết bị thông minh thay thế loa phường là không khả thi vì không ai làm như thế cả. Thực ra thì chính quyền có thể để ra một cái địa chỉ trên mạng, rồi thông báo cho người dân biết các việc ấy.

-Nguyễn Lâm Thanh
Chúng tôi liên hệ bà Nguyễn Thị Thu Hiền, Phó trưởng phòng Văn hóa Thông tin quận Hoàn Kiếm, là một trong các quận tại Hà Nội được lắp thử nghiệm thiết bị thông minh thay thế loa phường, để tìm hiểu thêm thông tin liệu có bắt buộc người dân gắn thiết bị mới này không, thì được bà Hiền trả lời như sau:

“Anh ơi nếu anh muốn làm việc thì phải đến quận anh ạ, anh ra đấy đến phòng em làm việc đi, ai lại làm việc qua điện thoại thế anh.”

Một người dân sống tại quận Cầu Giấy, Hà Nội cho biết ông cũng muốn có thiết bị này, tuy nhiên ông chỉ lo lắng về chi phí:

“Nếu trang bị toàn dân thì kinh phí nhà nước có đảm bảo không? Cái thứ hai là dân cũng muốn có nhưng có phải mất cước hàng tháng không? ”

Theo Kỹ sư Đoàn Quang Hoạt, thiết bị thông minh thay thế loa phường cũng là một cái ý tưởng hay:

“Thiết bị này vẫn có thể dùng được mục đích của loa phường, thông tin công cộng, thông tin phục vụ cộng đồng, nhưng mà cách thức nghe, thời gian nghe và âm lượng nó cũng phù hợp với từng người hơn. Tôi nghĩ vì phục vụ cho cộng đồng nên chi phí phải là do cộng đồng, tức là nếu nhà nước có điều kiện để trang bị là tốt nhất.”

Tuy nhiên theo Anh Trọng thì nếu để người dân tự nguyện lắp đặt thì không khả thi, trừ khi là có chế tài gì bắt buộc người dân phải mua, mà như thế thì người dân cũng không thấy thoải mái. Anh nói tiếp:

“Nếu thay loa phường bằng thiết bị thông minh gắn trong nhà thì Anh nghĩ đúng là bình mới rượu cũ, nó cũng chẳng giải quyết được vấn đề gì. Trừ khi họ dùng cái giải pháp công nghệ gì đấy cao hơn, không phát sinh chi phí trang bị thiết bị mới. Tại vì nếu người dân không mua mà nhà nước trang bị thì thật ra cũng là từ tiền thuế của dân thôi, nó cũng chẳng khác gì.”

Vào đầu tháng 10 năm 2018, Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội tổ chức khảo sát, ý kiến người dân về đài truyền thanh phường sau một năm thực hiện đề án "Sắp xếp lại và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đài truyền thanh phường, xã, thị trấn trên địa bàn thành phố Hà Nội". Theo thông tin từ Cổng thông tin điện tử của chính quyền Hà Nội, tính đến ngày 10 tháng 10 năm 2018, chỉ có 50% ý kiến đồng ý thay thế loa phường bằng thiết bị thông minh.


Trân Văn

[VIDEO] Nguyễn Thùy Dương người ném giầy vào mặt Nguyễn Thị Quyết Tâm kể lại vụ việc



Nguyễn Thùy Dương, người ném dép kể lại nguyên do hành động

Nguyễn Thùy Dương người ném giầy vào mặt Nguyễn Thị Quyết Tâm kể lại vụ việc



Đăng ký để xem nhiều tin mới nhất tại: goo.gl/kjKkZU

(Tin tức Hàng ngày TV)


Phận mại dâm và chế độ


Nhân đọc bản tin, hiện nay có khoảng 5,000 phụ nữ Việt Nam đang hoạt động mại dâm trá hình ở Malaysia!

Các cô gái người Thái đang đợi khách tại một quán bar ở thị trấn Sungai Kolok trên biên giới Thái Lan, Malaysia (Hình: RFA)

Theo quan niệm dân gian những phụ nữ hành nghề mại dâm, hay gái đĩ là loại gái bán thân vì tiền. Dưới mắt đàn ông họ là dụng cụ giải khuây, trong mắt đàn bà là sự hư hỏng, là một vết nhơ đáng khinh bỉ và xa lánh. Trong bài này, tác giả không có ý miệt thị một nghề, nếu nó được xem là cái nghề. Tôi cũng không biết ai là tác giả cái câu “nếu không có những con đĩ, làm sao có con gái nhà lành.”

Nhưng sao cái đất nước khốn nạn của chúng ta lại có nhiều phụ nữ sa chân vào bùn nhơ như vậy.

Tình hình mua bán phụ nữ tại Việt Nam càng ngày càng tồi tệ.

Nguyễn Văn Thuận, phó giám đốc Công An Cần Thơ, cho rằng: “Rất khó kiểm soát tình hình mua bán người ra nước ngoài vì tội phạm hoạt động ngày càng tinh vi. Nạn nhân bị dụ dỗ ra nước ngoài sẽ có việc nhẹ, thu nhập cao, lấy chồng nước ngoài có kinh tế khá giả, hoặc nạn nhân được mời đi du lịch nước ngoài rồi tìm cách lừa bán vào các lầu xanh.”

Theo Cục Tham Mưu Cảnh Sát, Bộ Công An, phần lớn nạn nhân bị bán sang Trung Cộng, Malaysia, Indonesia, Singapore và cả Cambodia để làm gái mại dâm. Xót xa hơn, hiện nay có khoảng 5,000 phụ nữ Việt Nam đang hoạt động mại dâm trá hình ở Malaysia.

Con số 5,000 do chính quyền Cộng Sản đưa ra, hẳn là con số khiêm nhường chưa dám nói sự thật, nhưng con số này đối với một người Việt Nam đã là một con số kinh hoàng, nhức nhối cho thân phận con người dưới chế độ này!

Con số 5,000 “khiêm tốn” này chỉ dành cho một xứ Malayia, nếu như cộng với Singapore, Thái Lan, Cambodia, Indonesia, Singapore, Âu Châu; tội nghiệp kể cả Phi Châu nữa, thì con số này lên đến bao nhiêu?

Là người Việt, chúng ta thử nhìn lại, con cái chúng ta được học hành, chăn ấm nệm êm, có một cuộc hôn nhân tử tế, sống ra con người thì những phụ nữ khốn khổ này cũng là đồng bào, ruột thịt của chúng ta phải làm nghề bán thân, như những món hàng để kiếm miếng ăn.

Không phải ai cũng tin lời bọn buôn người, tin rằng mình sẽ có một cuộc hôn nhân hợp pháp, có công ăn việc làm, có thu nhập giúp đỡ cha mẹ, người thân. Cũng như những người vượt biển ngày trước ra đi, ai cũng nuôi hy vọng được đến bến bờ tự do, nhưng họ đã chấp nhận trước những tình huống có thể xẩy ra như chết vì tàu chìm, bị cướp bóc, hiếp dâm.

Hội nghị tổng kết về mại dâm năm 2013 của Việt Nam cho thấy: cả nước ước tính có gần 33.000 người bán dâm. Con số này hẳn là một con số quá ít, chưa tính đến đoàn quân “xuất khẩu lao động trên giường” hiện nay. Tuổi bán dâm ngày càng trẻ, từ 16 – 18 tuổi chiếm 15,3%, từ 25 – 35 tuổi chiếm 35% và đông nhất là từ 18 – 25 tuổi chiếm 42%. Về học vấn, 17,1% chỉ tốt nghiệp tiểu học, 39,3% đã tốt nghiệp trung học và đáng lưu ý là khoảng 10,3% đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng. Quan niệm cho rằng gái mại dâm do “học vấn thấp” thực tế không còn đúng nữa, như Bộ Công An xác nhận đối tượng bán thân là những người học vấn thấp, kinh tế khó khăn, không có việc làm, mâu thuẫn với nguồn tin sinh viên, hoa hậu, người mẫu… hành nghề mại dâm rộ lên ở Việt Nam hiện nay.




Xưa kia, nói đến những cô gái hành nghề “buôn phấn bán hương” thường cho số phận phải bán mình là vì hoàn cảnh gia đình, biến động cuộc sống, hay bị mưu mô, lừa lọc, sa bẫy của những tầng lớp phong kiến, như cảnh nàng Kiều bán mình chuộc cha… Hầu hết những cô gái lỡ sa chân vào nghề này đều có một câu “xuống xề” như nhau: nhà nghèo, anh chị em đông, cha mẹ đau ốm, học hành dở dang, bị lừa mất trinh tiết, sa chân vào bùn dơ rồi không thoát ra được!

Nhưng bây giờ, phần lớn “nạn nhân” là những loại người thích hưởng thụ, muốn đổi đời, giàu có, chưng diện. Hoa hậu đứng đầu đường dây “bán dâm” tuyên bố “cat-xê” chỉ đủ mua son phấn. Sinh viên sẵn sàng lên giường vì xe đẹp, phone đắt giá để tranh hơn thua với bạn bè. Tất cả chỉ vì tiền. Châm ngôn này được Hoa hậu Đồ lót Ngọc Trinh khẳng định: “không tiền thì cạp đất mà ăn!”

Không có gì dễ kiếm tiền bằng nghề “lên giường!” Trong khi mức lương của giáo viên từ 3 – 10 triệu đồng, thu nhập của người lao động khoảng trên 5,5 triệu đồng một tháng, thì hoa hậu lên giường mỗi lần 1.2 tỉ tiền Việt (hơn $50,000) Và nếu có “cầu” từ những cấp cán bộ đảng có quyền thế, tham những, hối lộ, cướp đất, cướp ruộng của dân, giàu có, trác táng vung đồng tiền qua cửa sổ, thì tất nhiên phải có “cung,” vì đây là nghề không vốn, trong xã hội băng hoại này lại là nghề ăn nên làm ra!

Động lực và hoàn cảnh nào đã khiến cho hàng trăm nghìn phụ nữ Việt Nam dấn thân vào con đường mại dâm trên ba miền đất nước và ra cả hải ngoại? Chính quyền chịu trách nhiệm gì trong việc này, ngăn chận, khuyến khích hay vô cảm, vô tâm vì lợi nhuận?

Một nàng Kiều của Nguyễn Du đã làm xúc động, mủi lòng bao nhiêu người từ năm này qua năm khác trên quê hương Việt Nam, ngày nay, có hàng trăm nghìn nàng Kiều bán thân, ai sẽ là người thương cảm cho họ.

Chọn đề tài này, tôi không có ý bêu rếu hay xát muối vào những vết thương của con người khốn khổ trong một đất nước khốn nạn này, mà cảm thấy chạnh lòng, vì cũng đầu xanh, máu đỏ, cùng một quê hương, cũng một phận người!

Xã hội có những nghề thường tình được công nhận, tôn trọng nhưng cũng có những nghề bị xem thường, ghét bỏ như là kỹ nữ bán thân xác. Nhưng trong tình người, dưới tinh thần dung thứ, một người làm kỹ nữ, một tên cướp đường, hay bất cứ nghề nghiệp nào cũng đều được nhìn trong cặp mắt hiểu biết, cảm thông.

Vì ai? – “Bạn ơi, nguồn thảm sầu kia bởi. Số phận hay do chế độ này?” (Tố Hữu).


Huy Phương
Người Việt
 

Website và blog tiêu biểu

Top ↑ Copyright © 2008. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Back To Top ↑