Tin Tức Cập Nhật 24/7
HOT VIDEO CHANNEL - TV NÓNG: TBT Nguyễn Phú Trọng yêu cầu dừng Lễ cầu siêu cho Chủ tịch nước Trần Đại Quang tại Ninh Bình

Vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh: Hai Bộ trưởng Slovakia và Đức hội đàm


Trong khi các nhà điều tra Đức khẳng định, hầu như không còn hoài nghi nào, Trịnh Xuân Thanh đã bị đưa ra khỏi khu vực Schengen bằng bằng chuyên cơ của chính phủ Slovakia, thì Cảnh sát trưởng Slovakia, ông Milan Lucianski lại muốn thảo luận với Đức, liệu xem Trịnh Xuân Thanh có thể được đưa ra khỏi khu vực Schengen bằng cách khác hay bằng một con đường nào khác hay không?

Bà Denisa Sakova, Bộ trưởng Nội vụ Slovakia và người đồng nhiệm, ông Horst Seehofer, trước cuộc hội đàm tại Berlin về vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh. Ảnh: Internet

Bên lề cuộc họp Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc, Ngoại trưởng Miroslav Lajčák sẽ chất vấn Ngoại trưởng Phạm Bình Minh về việc Trịnh Xuân Thanh đã về Việt Nam như thế nào, bằng cách nào và con đường nào?

Hôm qua ngày 24/09/2018 bà Denisa Saková, Bộ trưởng Nội vụ Slovakia đã sang Berlin hội đàm với ông Horst Seehofer, Bộ trưởng Nội vụ CHLB Đức. Trong chương trình làm việc, Bộ trưởng hải nước đã thảo luận về vụ việc Trịnh Xuân Thanh có lẽ đã bị vận chuyển ra khỏi khu vực Schengen bằng chuyên cơ của chính phủ Slovakia.

Cùng đi với bà Denisa Saková là Cảnh sát trưởng Milan Lucianski. Phát ngôn viên của Bộ Nội vụ Liên bang Đức cho biết, cuộc hội đàm này là do phía Slovakia mong muốn. về phía Đức, tham dự cuộc hội đàm ngoài ông Horst Seehofer còn có ông Hans-Georg Engelke, Quốc vụ khanh trong Bộ Nội vụ, cũng như các đại diện của Vụ B (Cảnh sát Liên bang), Vụ ÖS (An ninh Công cộng) và Ban tham mưu EU (phối hợp trong EU).

Cuối tháng 8 vừa qua, Bộ Ngoại giao Slovakia xác nhận, đơn xin ngày 25/7/2017 yêu cầu cho phép chuyên cơ của chính phủ Slovakia chở phái đoàn Bộ trưởng Tô Lâm bay ngang qua không phận Ba Lan – nhưng đơn này đã bị Ba Lan từ chối. Cho nên Bộ Nội vụ Slovakia đã sửa đổi đơn này vào giờ chót, đúng vào ngày bay, ngày 26/07/2017. Đơn sửa đổi ghi rõ rằng, chuyên cơ của chính phủ Slovakia chở Bộ trưởng Nội vụ lúc đó là ông Robert Kaliňák đi công tác ở Nga, mặc dù ông không hề có mặt trên chuyến bay.

Về các cáo buộc cơ quan nhà nước Slovakia có thể dính líu đến vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, trong cuộc hội đàm “Bộ Nội vụ Liên bang Đức đã lưu ý rằng các cáo buộc này là nghiêm trọng, và chờ đợi vụ việc này sẽ được làm sáng tỏ một cách nhanh chóng và không giới hạn”, ông Sören Schmidt Phát ngôn viên Bộ Nội vụ LB Đức cho tờ Thoibao.de biết như thế.

Trong khi các nhà điều tra Đức khẳng định rằng, hầu như không còn hoài nghi nào, Trịnh Xuân Thanh đã bị đưa ra khỏi khu vực Schengen bằng chuyên cơ của chính phủ Slovakia, thì cảnh sát trưởng Slovakia, ông Milan Lucianski lại muốn thảo luận với Đức xem, liệu Trịnh Xuân Thanh có thể được đưa ra khỏi khu vực Schengen bằng một cách nào khác, hay bằng con đường nào khác không?

Chúng tôi đã đề cập việc đó trong cuộc hội đàm. Khi chúng tôi bắt đầu điều tra vụ án, chúng tôi cần có tất cả tài liệu quan trọng liên quan đến toàn bộ vụ việc, chúng tôi sẽ yêu cầu các bên Đức, Pháp, Séc cung cấp, cũng như các biên bản của phiên tòa Berlin xét xử nghi can Nguyễn Hải Long“, Cảnh sát trưởng Lucianski nói với báo chí Slovakia.

Cho tới nay bà Bộ trưởng Saková đã cho 44 nhân viên được miễn trách nhiệm bảo mật thông tin, để phục vụ cuộc điều tra này, nghĩa là họ được phép cung khai tất cả cho cơ quan điều tra. 44 nhân viên này thuộc các bộ, ngành và cảnh sát hộ tống cùng những người phục vụ cho chuyến thăm và làm việc của Bộ trưởng Tô Lâm với Bộ trưởng Nội vụ Robert Kaliňák hồi 26/07/2017.

Slovakia đã mở cuộc điều tra về vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh từ ngày 3/8/2018 sau khi nhật báo Đức Frankfurter Allgemeine và nhật báo Dennik N của Slovakia đồng loạt đăng bài báo với những cáo buộc nặng nề. Trả lời báo chí Slovakia sau cuộc hội đàm tại Berlin, bà Bộ trưởng Saková cho biết, khoảng một nửa trong số 44 nhân viên này đã được cơ quan điều tra Slovakia thẩm vấn như là những nhân chứng. Đặc biệt, Slovakia đã đưa ra khả năng rằng các nhà điều tra Đức cũng có thể có mặt trực tiếp trong các cuộc thẩm vấn này.

Trong cuộc hội đàm, bà Bộ trưởng Sakowá hứa sẽ làm hết sức mình trong khuôn khổ hỗ trợ pháp lý cho phía Đức và bảo đảm tiến độ của cuộc điều tra tại Slovakia”, ông Sören Schmidt nói. Bộ Nội vụ Liên bang Đức cũng cảm ơn Slovakia về sự hợp tác chặt chẽ và tốt đẹp.

Bà Bộ trưởng Sakowá cho rằng, quan hệ giữa 2 nước Đức và Slovakia vẫn tốt đẹp. “Toàn bộ vụ việc này [vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh] là một vấn đề giữa 2 nước Đức-Việt và là vấn đề giữa 2 nước Slovakia-Việt, chứ không phải là vấn đề giữa 2 nước Đức-Slovakia“, bà Sakowá nói với báo chí Slovakia sau cuộc hội đàm.


Bà Sakowá, Bộ trưởng Nội vụ Slovakia tuyên bố, nếu một khi xác định được rằng Slovakia không cố tình tham gia vụ bắt cóc, tức là bị phía Việt Nam đánh lừa, thì chúng tôi sẽ có những biện pháp, hành xử trên bình diện ngoại giao.

Báo Pravda.sk đưa tin, Ngoại trưởng Miroslav Lajčák (ảnh) sẽ chất vấn Ngoại trưởng Phạm Bình Minh về vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, bên lề Đại Hội đồng LHQ

Theo báo Pravda.sk của Slovakia, số ra ngày 20/09/2018, trong một cuộc phỏng vấn mới đây, Bộ trưởng Ngoại giao Slovakia, ông Miroslav Lajčák nói rằng, ông sẽ tiếp xúc với Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh bên lề Phiên thảo luận chung cấp cao Đại Hội đồng Liên Hiệp quốc tại New York. Nhưng đó sẽ không là cuộc gặp gỡ hữu nghị cũng như dễ chịu, nhưng cần thiết. Ông Miroslav Lajčák sẽ chất vấn một cách thẳng thắng về việc Trịnh  Xuân Thanh về Việt Nam như thế nào, bằng cách nào, bằng con đường nào?

Phía Việt Nam đã hai lần thông báo chính thức với chúng tôi rằng ông Trịnh Xuân Thanh chưa bao giờ có mặt trên lãnh thổ Slovakia. Hiện tại tôi không thể nói, rằng tôi không tin điều đó hay chỉ vào ai nói đó là kẻ gian dối. Nhưng tôi đã yêu cầu phía Việt Nam hãy nói với chúng tôi rằng, vậy thì ông Thanh đã về đến quê hương như thế nào, để giải tỏa mọi hoài nghi. Cho đến nay, chúng tôi chưa nhận được câu trả lời của Việt Nam”, Ngoại trưởng Miroslav Lajčák nói.

Phiên thảo luận chung cấp cao khóa 73 Đại Hội đồng Liên Hiệp quốc diễn ra từ ngày 25/9 đến ngày 1/10 tại New York – Hoa Kỳ. Ngoại trưởng Miroslav Lajčák cũng vừa mới kết thúc nhiệm kỳ chủ tịch Đại hội đồng LHQ.

Sự kiện được xem là diễn đàn ngoại giao đa phương lớn nhất toàn cầu sẽ có sự tham dự của lãnh đạo và đại diện của 193 quốc gia thành viên. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc sẽ dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tham dự.


Hiếu Bá Linh

Chính trị ngoạn mục của Úc


Ở nhiều quốc gia, nhiệm kỳ lãnh đạo chính quyền thường là bốn năm, có nơi cũng có năm, sáu hoặc bảy năm. Với Úc, nó chỉ là ba năm. Mà không phải ba năm đầy. Thủ tướng cầm quyền có thể kêu gọi bầu cử lại bất cứ lúc nào, miễn không quá thời hạn ba năm kể từ ngày quốc hội mở khóa họp đầu tiên cho kỳ bầu cử khóa trước.

Hình minh họa. Sydney Opera House, Úc.

Mỗi ba, hay chưa đầy ba, năm bầu lại chính quyền, người dân Úc có dịp bầu lại lãnh đạo chính trị quốc gia. Tưởng là người lãnh đạo đó sẽ tiếp tục trong cương vị này, ít nhất là cho đến kỳ bầu cử tới, ngoại trừ bị chết yểu, bị mất tích, bị ám sát, hay vì lý do nào đó, như từ nhiệm. Phần lớn lịch sử chính trị Úc từ trước đến nay là thế. Nhưng gần đây lại khác. Trong mắt người dân thì chẳng có lý do chính đáng nào để lãnh đạo chính trị phải thay đổi liên tục. Thế mà trong 11 năm qua, tức chưa đầy bốn kỳ bầu cử, tổng cộng lại chưa bằng thời gian John Howard làm thủ tướng bốn nhiệm kỳ trước đó, đã có tổng cộng bảy lần thay đổi thủ tướng Úc [1].

Rất có thể từ đây đến ngày 18 tháng 5 năm 2019, tức thời điểm phải bầu cử chung cho toàn hạ viện lẫn một nửa thượng viện, Thủ tướng Morrison, người vừa mới lên nắm quyền vào ngày 24 tháng 8 vừa qua, cũng có khả năng bị chính người khác trong đảng thay thế, hoặc bị Bill Shorten thắng cử trong kỳ bầu cử tiếp. Nếu thế thì càng nâng thêm kỷ lục là trong vòng 12 năm thay thế đến tám thủ tướng Úc. Trước đây có một thời nước Nhật cũng thay đổi thủ tướng liên miên, nhưng nay đã tạm ổn định, hay ít ra là không bằng Úc. Phóng viên Nick Bryant của BBC gọi Úc là “thủ đô đảo chánh của thế giới dân chủ” [2].

Người dân, không nhiều thì ít, ở mọi xã hội, đều muốn có cơ hội thay đổi lãnh đạo chính trị quốc gia, nhất là khi lãnh đạo đó đang có vấn đề về tài năng điều hành, đường hướng hay chính sách, chẳng hạn. Nhưng khi lãnh đạo đó không có vẻ gì là có vấn đề và chưa hết nhiệm kỳ thì họ không cảm thấy có lý do chính đáng nào để thay thế. Tuy nhiên, trong cơ chế chính trị Úc, một chế độ đại nghị (parliamentalism), thì đảng hay liên đảng nào chiếm đa số ghế hạ viện 150 ghế, tức từ 76 ghế trở lên, đều có thể thành lập chính quyền (về mặt này thì hành pháp và lập pháp không hoàn toàn độc lập như tổng thống chế (presidentialism), như Hoa Kỳ, chẳng hạn). Đảng hay liên đảng lập chính quyền đó có thể duy trì người thủ lãnh và phó thủ lãnh ban đầu (tức lúc bầu cử), hoặc thay đổi bất cứ lúc nào, nếu họ xét thấy thích hợp. Người thủ lãnh sẽ đảm nhiệm vai trò thủ tướng và tuyển chọn thành viên nội các chính phủ và bộ trưởng các bộ còn lại.

Tóm lại, đối với nền đại nghị của Úc, mặc dầu người dân có thể gián tiếp bầu chọn lãnh đạo chính trị, các thành viên chọn lọc của đảng, gồm những vị dân cử của cả hạ viện lẫn thượng viện (Caucus), có quyền quyết định thay đổi lãnh đạo của mình.

Tuy đây là điều bình thường trước đây, nhưng khi các dân cử làm trái ngược nguyện vọng của người dân, thì đó là điều làm cho họ ngày càng bức xúc và bất mãn. Nhất là khi phần lớn các lý do thay đổi này dựa vào các cuộc thăm dò ý kiến của công chúng trong đó phỏng đoán chính quyền hiện tại có thể tồn tại trong kỳ bầu cử tới không, và nếu không thì bao nhiêu ghế có xác xuất bị mất v.v…

Nhưng tại sao nền chính trị Úc ở trong tình trạng như thế trong vòng 11 năm qua mà hiếm khi xảy ra trước đây?

Theo Kevin Rudd thì sự khủng hoảng dân chủ tại Úc là do một số nguyên nhân [3].

Một, tính cách chính trị đầy kịch tích của thay đổi khí hậu đã làm phân hóa quốc gia hơn một thập niên qua, nhưng Úc lại thiếu sự trưởng thành chính trị quốc gia để đối phó với nó, trong khi đây là lục địa khô khan nhất trên địa cầu hiện nay. Hai, sự coi trọng (hay thờ phượng) quá đáng đối với các cuộc thăm dò ý kiến, làm cho các tầng lớp chính trị không ngừng lo sợ bị mất ghế nếu thật sự hành động lên các chính sách mang tính dài hạn. Ba, cái văn hóa trẻ con của phần lớn thế hệ chính trị gia con nít “Đảng viên trẻ Lao động/Tự do” (Young Labor/Young Liberal), thành phần chưa bao giờ làm gì khác ngoài chính trị trong thời sinh viên của họ, chỉ nhìn thấy chính trị như trò chơi để đối sử tồi tệ với người khác. Bốn, sự thuận tiện thay đổi/đảo chánh lãnh đạo, dưới quy luật của hai chính đảng hiện nay, dễ như trở bàn tay (qua sự kiện chính ông Rudd bị truất phế năm 2010 thì sau đó lúc trở lại ông đã tu chính quy định này cho Đảng Lao động vào năm 2013, nhưng Đảng Cấp tiến thì chưa đổi). Năm, mẫu người như Tony Abbot, người mà Rudd cho là không hề quan tâm đến chính sách, không hề khởi xướng hay thi hành một chính sách nào đáng kể, mà chỉ quan tâm đến thắng lợi bằng mọi giá, đã ảnh hưởng không ít tiêu cực lên nền chính trị quốc gia trong thời gian qua.

Nhưng trên hết, Rudd biện luận nguyên do chính là ảnh hưởng của Rupert Murdoch, mà ông cho là “ung thư lớn nhất đối với nền dân chủ Úc” (the greatest cancer on the Australian democracy). Rudd cho rằng Murdoch không chỉ là cơ quan thông tin bình thường, mà hoạt động và tổ chức như một đảng chính trị; không chỉ theo đuổi các quyền lợi thương mại được vạch ra rõ ràng, mà ông còn có cái nhìn về thế giới mang ý thức hệ cực hữu. Các kênh truyền thông của Murdoch, như các báo chí của ông tại Anh, đã ảnh hưởng đến kết quả của Brexit tại Anh, còn Fox News đã giúp cho Tea Party và Trump ảnh hưởng lên Đảng Cộng hòa tại Hoa Kỳ; tại Úc cũng như Hoa Kỳ, Murdoch đã vận động hàng thập niên qua ủng hộ việc giảm thuế cho người giàu, giết chết các hành động về thay đổi khí hậu, và thủ tiêu tất cả những gì gần giống chủ nghĩa đa văn hóa. Murdoch đã chiếm hai phần ba thị trường báo chí tại Úc, điều mà Rudd cho là không có nền dân chủ nào gần như độc quyền truyền thông một cách hiệu quả giống như Murdoch.

Rudd chia sẻ chính ông biết cả hàng tá chính trị gia, lãnh đạo doanh nghiệp, ký giả và học giả, cả tả lẫn hữu, đều rất sợ để đối diện với Murdoch vì các đòn trả thù đối với cá nhân họ. Riêng trong trường hợp của mình thì Rudd cho biết trong thời ông làm thủ tướng, Murdoch không thích các chiến sách kích thích kinh tế, ghét bỏ chiến lược thay đổi khí hậu, và tìm mọi cách để triệt tiêu hệ thống NBN mang dây cáp quang đến nhà (fiber-optic to the home) vì lo sợ rằng như thế sẽ giúp cho Netflix trở thành đối thủ của Foxtel, ảnh hưởng đến lợi nhuận của các công ty của mình.

Riêng trong trường hợp của Turnbull thì được biết Murdoch đã quyết định Turnbull phải ra đi. Theo phóng viên Andrew Probyn, người đã từng làm việc tám năm cho News Corp của Murdoch, thì Murdoch đã đến Úc ngày 10 tháng 8, ngày 20 vẫn còn ở Úc, tức trong cái tuần mà Peter Dutton thách thức Malcolm Turnbull và sau đó “đảo chánh” thành công, mặc dầu kết quả không thuận lợi cho Dutton [4]. Theo các nguồn tin mà Probyn thu thập được thì Murdoch rõ ràng bày tỏ ý kiến của mình là “Turnbull phải ra đi”. Murdoch cho rằng nếu việc ra đi của Turnbull có làm cho Liên Đảng thất cử sắp tới, thì cũng chẳng sao cả, không đến nỗi tệ hại lắm, vì ông có thể tồn tại ba năm với một chính quyền Lao động, và ông vẫn có thể “làm ra tiền” được. Tờ báo The Australian của Murdoch (News Corp) vẫn tiếp tục đưa các thông tin và bình luận bất lợi cho Turnbull cho đến ngày thứ Sáu 24 tháng 8 khi cuộc “đảo chánh” đã hoàn tất. Trong khi đó, Kerry Stokes, một doanh nhân, tỷ phú, người sở hữu khá nhiều cơ quan truyền thông tại Úc, và là người khá thân cận với Turnbull, lại không hề muốn ông Turnbull bị truất phế như thế. Nhưng sau khi trao đổi với Murdoch, và khi nhận ra rằng ván cờ không thể đảo ngược nữa, cuối cùng trên tờ báo The West Australian mà ông sở hữu, đã chọn quyết định yểm trợ cho Scott Morrison bằng tít lớn: “Thủ tướng nên đứng sang một bên cho ScoMo (tức Scott Morrison)” [5].

Tóm lại, sự thay đổi lãnh đạo chính trị ngoạn mục tại Úc vừa qua đã quá sức tưởng tượng của nhiều người. Bốn cuộc “đảo chánh” thành công trong 11 năm qua, nhất là cuối tháng Tám vừa rồi, đã làm cho nhiều người bất bình, nếu không phải là phẫn nộ. Nhưng tôi cho rằng nguồn gốc vấn đề này bắt đầu từ cuối thời của John Howard, năm 2006, 2007. Người dân đã mong muốn thay đổi chính quyền sau bốn nhiệm kỳ, và bày tỏ rõ ràng như thế qua nhiều cuộc thăm dò ý kiến. Peter Costello, Bộ trưởng Tài chánh (Treasurer) lúc đó, mong muốn Howard nhường quyền lãnh đạo lại cho mình nhưng Howard chưa sẵn sàng. Kết quả là liên danh Kevin Rudd và Julia Gillard đã thắng vẻ vang, và chính ghế của Howard cũng không giữ nỗi, bị mất về tay cô phóng viên Maxine McKew thuộc Đảng Lao động. Có lẽ đây là một trong các bài học quan trọng nhất của cả hai đảng Cấp tiến và Lao động trong việc chủ động thay đổi nhân sự lãnh đạo khi các cuộc thăm dò ý kiến bất lợi về mình để, một, có khả năng xoay chuyển tình thế để biến thua thành thắng, và hai, nếu thua, thì cũng giảm thiểu số ghế bị mất. Nó trở thành một tiền lệ, hay chuẩn mực, cho nền chính trị Úc kể từ đó.

Với bài học này, các chính trị gia đã áp dụng triệt để tình hình thực tế khi đến gần kỳ bầu cử kế tiếp. Ai cũng sợ mất ghế, nên quyền lực và quyền lợi của mỗi dân biểu và thượng nghị sĩ mang tính quyết định cho các hành động của họ, không nhất thiết cho quyền lợi của toàn đảng. Tương tự, quyền lực và quyền lợi của đảng, trên lý thuyết, là để phục vụ người dân và cử tri, và trên hết nó phải là phương tiện để phục vụ quốc gia, nhưng trên thực tế, các chính đảng coi quyền lợi và quyền lực của mình là trên hết. Thay vì thương lượng, cho và lấy, để cũng đi đến thỏa hiệp có lợi cho toàn quốc gia, họ rõ ràng không sẵn sàng làm như thế. Cũng vì thế nên họ tùy tiện thay đổi lãnh đạo với nhau bất kể nguyện vọng của người dân. Ngoài ra, ảnh hưởng lớn lao của vài nhà tài phiệt đang nắm giữ các cơ quan truyền thông tại Úc, chủ yếu là Murdoch, cũng tác động đáng kể lên tiến trình dân chủ tại Úc.

Các sinh hoạt đảng phái và các chuẩn mực dân chủ ngày càng có vẻ bị soi mòn, suy thoái. Đảng chính trị, lẽ ra, là phương tiện chứ không phải cứu cánh. Cái vấn đề chung của chính trị toàn cầu ngày hiện nay là người ta dùng phương tiện riết rồi họ tưởng nó là cứu cánh luôn. Khi tin tưởng và tuyệt đối trung thành với đảng mình, người ta nhìn vấn đề từ bên trong ra, tức nội chiếu (introspection), hơn là nhìn từ bên ngoài vào, tức ngoại thức (extrospection), nên khó thấy được toàn cảnh. Người ta sẽ nhìn vấn đề ở lăng kính hoàn toàn khác nhau. Những góc nhìn như thế khó làm cho họ đánh giá khách quan hoặc chính xác về mình và về mọi vấn đề khác. Đó cũng là điều tự nhiên khi con người học hỏi và làm việc. Nhưng khi phần lớn chủ quan cho là mình là đúng nhất, hay nhất, bất chấp dư luận hay bằng chứng khoa học ra sao, đó là điểm khởi đầu, là nguồn gốc và nguyên nhân sâu xa, của sự suy thoái. Sự thay đổi sẽ vô cùng khó khăn đối với tư duy bảo thủ, giáo điều. Hệ quả sẽ vô cùng tiêu cực và không có lối thoát.

Đã đến lúc Đảng Cấp tiến cũng phải cải tổ quy định về việc thay đổi lãnh đạo, như Kevin Rudd đã làm đối với Lao động, để nó không dễ như trở bàn tay, như hiện nay. Đã đến lúc quốc hội Úc phải thay đổi hiến pháp và luật bầu cử để nhiệm kỳ trở thành bốn năm, thay vì ba năm, và ngày bầu cử được ấn định hẳn hoi, thay vì thủ tướng đương nhiệm quyết định. Đã đến lúc người dân cùng với quốc hội và chính quyền tìm những phương cách sáng tạo và hữu hiệu để hạn chế sự lũng đoạn của những tài phiệt như Murdoch, nếu không mọi lá phiếu của mọi công dân chỉ là tượng trưng chứ thực chất chẳng còn giá trị bao nhiêu. Sau cùng, tôi thấy đề nghị của ông Rudd rất hay là chính quyền Úc được công chúng bầu vào nhiệm kỳ tới cần ủy nhiệm một ủy ban độc lập để mở cuộc điều tra về những lũng đoạn của Rupert Murdoch hầu điều nghiên các hoạt động này có vi hiến và vi pháp không.

Chúng ta phải đấu tranh để giành lại quyền quyết định của mình trong việc chọn lựa lãnh đạo quốc gia một cách xứng đáng và liêm chính. Nếu không thì nền dân chủ trở thành chính trị đầu sỏ quyết định bởi thiểu số tài phiệt.

Phạm Phú Khải
ÚcChâu, 24/09/2018
Blog VOA
Tài liệu tham khảo:

1. John Howard thuộc Liên Đảng (Cấp tiến và Quốc gia) bị Kevin Rudd thuộc Đảng Lao động thắng cử năm 2007; Rudd bị Julia Gillard thay thế năm 2010, vài tháng trước khi Rudd hết nhiệm kỳ năm 2010; Gillard lại bị chính Rudd thay thế năm 2013 trước khi Gillard hết nhiệm kỳ 2013 vài tháng; Tony Abbot thuộc Liên Đảng đánh bại Rudd năm 2013; Abbot bị Malcolm Turnbull thay thế năm 2015 trước khi Abbot hết nhiệm kỳ năm 2016; Turnbull thắng cử năm 2016 nhưng chưa hết nhiệm kỳ năm 2019 của mình thì bị Peter Dutton thách thức, không thành, rồi mấy ngày sau bị thách thức lần nữa; kỳ này ngoài Peter Dutton còn có Scott Morrison và Julia Bishop tham gia. Kết quả: Scott Morrison trở thành thủ tướng Úc vào ngày 24 tháng 8 năm nay, thủ tướng lần thứ bảy trong vòng 11 năm, trong bốn kỳ bầu cử. Có thể xem Prime Ministers of Australia trên Wikipedia.

2. Nick Bryant, “Australia: Coup capital of the democratic world”, BBC News, 14 September 2015.

3. Kevin Rudd, “Cancer eating the heart of Australian democracy”, The Age, 27 August 2018.

4. Andrew Probyn, “What did Rupert Murdoch and Kerry Stokes have to do with the Liberal leadership spill?”, ABC News, 19 September 2018.

5. Nick O’Malley, “Labor's laughing as Coalition kowtows to Murdoch”, The Age, 22 September 2018.

Bố già Sài Gòn Lê Thanh Hải gần lao lý hơn bao giờ hết!


Hay vào một ngày đẹp trời nào đó, ông ta sẽ phải nối gót đàn em để không chỉ ‘của thiên trả địa’ mà còn phải thốt lên như Đinh La Thăng đã từng: “Hãy đối xử với bị cáo như một con người!”.

Lê Thanh Hải từng tại vị như một ‘bố già’ ở đất Sài Gòn.
Ngay sau khi cựu phó chủ tịch thành phố Nguyễn Hữu Tín bị đưa vào vòng tố tụng hình sự với hai động tác đầu tiên là khởi tố và khám xét nhà - do Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an tiến hành vào ngày 18/9/2018 - vì liên quan vụ Vũ ‘Nhôm’, tờ Giáo Dục Việt Nam đã giật tít: ‘Ai là cấp trên trực tiếp khi ông Tín làm Phó Chủ tịch Thành phố Hồ Chí Minh?’.

Hỏi cũng là trả lời: “Ông Nguyễn Hữu Tín làm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tương ứng với thời điểm ông Lê Thanh Hải làm Bí thư Thành ủy” - cũng tờ báo trên vạch ra.

Giáo Dục Việt Nam là một trong những tờ báo xung kích để cổ súy cho chiến dịch ‘đốt lò’ của Tổng bí thư Trọng. Trong vụ khiếu nại tố cáo ở Thủ Thiêm, tờ báo này cũng đã không dưới một lần đề cập vừa trực tiếp vừa gián tiếp đến một số quan chức chóp bu của Thành ủy TP.HCM có dính dáng về trách nhiệm như Lê Thanh Hải, Nguyễn Văn Đua, Lê Hoàng Quân, Tất Thành Cang…

Kể từ thời làm mưa làm gió pở Sài Gòn nhiều năm trước, số phận cựu bí thư thành ủy - cựu ủy viên bộ chính trị Lê Thanh Hải chưa bao giờ mành chỉ treo chuông như lúc này.

Nếu trong vụ Thủ Thiêm, những tờ báo đảng có vẻ còn e ngại khi nhắc đến tên Lê Thanh Hải mà chỉ chủ yếu quy trách nhiệm cho một số quan chức khối chính quyền TP.HCM, thì đến vụ Nguyễn Hữu Tín, chỉ dấu khá rõ ràng là báo đảng đang muốn móc xích quan chức này với Lê Thanh Hải.

Vì sao thế?

Phần lớn thời gian công tác của Nguyễn Hữu Tín là trên cương vị phó chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố TP.HCM, trong đó có phụ trách về mảng nhà đất - địa chỉ mà đã sinh sôi nảy nở những mối quan hệ đen tối với Thượng tá tình báo công an Phan Văn Anh Vũ và công ty bình phong của Vũ mà đã góp công giải tán luôn cả Tổng cục tình báo của Bộ Công an vào năm 2018.

‘Điểm sáng’ rõ nhất của Nguyễn Hữu Tín có lẽ là giai đoạn ‘trưởng thành cách mạng’ suốt từ những năm 2000 đến năm 2015 trùng với thời kỳ ngự trị của ‘Anh Hai’ Lê Thanh Hải ở Sài Gòn.

Nếu trước khi trở thành chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố, Lê Thanh Hải từng là bí thư quận 5 - một quận giàu có với nhiều người Hoa sinh sống và làm ăn, thì Nguyễn Hữu Tín cũng có thời được đưa về làm bí thư quận 5.

Từ khi Lê Thanh Hải còn tại vị như một ‘bố già’ ở Sài Gòn và kể cả sau khi ‘Anh Hai’ mất chức bí thư thành ủy TP.HCM vào cuối năm 2015, Nguyễn Hữu Tín được rất nhiều dư luận xem là ‘đệ ruột’ của ông Hải, và tuy không được đánh giá có tài sản cá nhân ‘mập’ như Lê Thanh Hải, nhưng Nguyễn Hữu Tín cũng được xem là một trong những quan chức giàu có đến độ có thể chẳng nhớ nổi nhà đất và kim ngân của mình tích góp hay vơ vét được từ những phi vụ nào.

Nước cờ mà Nguyễn Phú Trọng đang đi trên bàn cờ ‘mặt trận TP.HCM’ có vẻ không khác mấy so với cách chơi cờ của ông Trọng vào cuối năm 2017 tại ‘mặt trận Đà Nẵng’ - đánh từ vòng ngoài vào trong và khiến đối phương, đặc biệt những kẻ chưa biết khi nào mình bị bắt, rơi vào tâm trạng khủng hoảng tâm lý. Trước tết nguyên đán năm 2018, đã râm ran tin đồn ‘sẽ bắt hai nguyên chủ tịch Trần Văn Minh và Văn Hữu Chiến’. Sau tết là bắt thật.

Vụ khởi tố đối với Nguyễn Hữu Tín, cựu chức chứ không phải đương chức, có thể xem là ‘đánh vòng ngoài’ ở TP.HCM.

Từ trước ngày quốc khánh 2/9 năm 2018, đã râm ran tin đồn về ‘Bộ Công an đang điều tra Tất Thanh Cang’ và ‘có thể bắt Cang’, bất chấp khi đó có một luồng dư luận ngược lại - có thể do nhóm của ông Cang chủ động tung ra - về việc ‘Tất Thành Cang đã thoát’.

Cũng như Nguyễn Hữu Tín, Tất Thành Cang cũng được xem là một ‘đệ ruột’ của Lê Thanh Hải. Vào thời còn là bí thư quận 2, Cang đã giúp rất nhiều cho Lê Thanh Hải trong nhiều vụ việc mà bị hàng ngàn dân oan Thủ Thiêm tố cáo là cướp đất. Sau khi được Lê Thanh Hải nâng lên vị trí Phó chủ tịch thành phố và sau đó là Phó bí thư thường trực thành ủy TP.HCM, Tất Thành Cang vẫn còn làm thêm nhiều việc để giúp ‘Anh Hai’ không những khỏa lấp các vụ khiếu nại tố cáo của dân oan Thủ Thiêm mà còn che chắn cho ‘Anh Hai’ trước búa rìu dư luận và ‘lò’ của Nguyễn Phú Trọng.

Nhưng trời đất quả báo. Nếu cựu bí thư thành ủy Đinh La Thăng bị vào tù vì quả báo do tội phá chùa Liên Trì - một cơ sở lâu đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, thì tất Thành Cang có thể cũng chẳng thể tránh khỏi luật nhân quả ấy.

Một khi những ‘đệ ruột’ gần gũi nhất của Lê Thanh Hải như Tất Thành Cang, Nguyễn hữu Tín… rơi vào vòng lao lý, liệu số phận Lê Thanh Hải còn giữ được uy danh ‘bố già’ trên đất Sài Gòn? Hay vào một ngày đẹp trời nào đó, ông ta sẽ phải nối gót đàn em để không chỉ ‘của thiên trả địa’ mà còn phải thốt lên như Đinh La Thăng đã từng: “Hãy đối xử với bị cáo như một con người!”.

Minh Quân

(VNTB)

Lăng mộ rộng lớn cho ông Trần Đại Quang gặp phản ứng của dư luận


Nhiều báo tại Việt Nam đưa tin cả trăm chiếc xe cơ giới đủ loại đã được huy động để san ủi, dựng lễ đài tại khu mộ huyệt mà ông Trần Đại Quang, chủ tịch nhà nước CSVN, đã chuẩn bị từ lâu tại quê nhà cho mình sau khi chết.

Nơi an táng ông Trần Đại Quang, được công an và quân đội canh gác suốt ngày đêm.
Các báo như Dân Trí, Thanh Niên, Dân Việt,… tường thuật cho hay, đèn điện thắp sáng trưng hối hả làm cả ban đêm cho kịp. Hàng trăm dân làng đã bị trưng dụng để dọn dẹp đường xá, cắt tỉa cây cối.

Theo tường thuật, nơi chôn cất ông Quang vốn là đất ruộng của dân địa phương, nằm bên một con sông nhỏ, được gia đình ông mua rồi “dồn thửa” thành diện tích lớn mấy mẫu tây. Hai bên bờ sông được xây kè đá đẹp mắt.

Nhiều tờ báo ban đầu tường thuật, “khu đất này rộng khoảng 2-3 héc ta (20,000 – 30,000 m2), nằm trên cánh đồng lớn ở xã Quang Thiện, phía trước là ngôi làng gắn với tuổi thơ của Chủ tịch nước. Vị trí này cũng nằm sát quốc lộ 10, tuyến tránh thị trấn Phát Diệm, giao thông khá thuận tiện.” Nhưng sau đó các bài viết đã cắt bỏ chi tiết này.

Báo Dân Việt cho biết, “Lễ an táng từ 15 giờ 30 phút cùng ngày tại quê hương của Chủ tịch nước, xóm 13, xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.”

“Thông báo cũng nêu rõ, trong hai ngày Quốc tang (ngày 26 và 27.9.2018), các công sở, các nơi công cộng treo cờ rủ và ngừng các hoạt động vui chơi giải trí.”

Dân chúng bình luận trên mạng bầy tỏ sự ngạc nhiên về sự chuẩn bị cái “lăng mộ” của một “ông vua đỏ” chẳng khác gì chuẩn bị lăng mộ của những ông vua thời xưa, trong khi luật lệ của chế độ quy định mộ phần của người chết không quả 5 mét vuông.
Nơi xây lăng mộ cho ông Trần Đại Quang được mô tả là cách quốc lộ 10 khoảng 2 km, thuộc xã Quang Thiện (huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình). (Hình: Báo Dân Việt)

Trên trang “facebook Trương Huy San” nhà báo Osin-Huy Đức viết: “Một chính thể giành được quyền bởi cam kết với dân chúng dẹp bỏ những tàn dư phong kiến thì lãnh đạo không thể lăng tẩm như vua. Dùng tiền ngân sách đã không nên, dùng tiền tư càng khiến dân đặt thêm nhiều câu hỏi (không phải cứ Chủ tịch là “Bác”; không phải bất cứ ai đeo 4 sao đều như “Đại tướng”).”

“Đành rằng, nghĩa tử nghĩa tận. Đành rằng kỷ luật Đảng cũng như tố tụng cần một quy trình. Nhưng cái chết luôn là cơ hội để thiên hạ định luận. Sơn son thếp vàng cho những cái ngai đã mục ruỗng; ca tụng mà bất chấp dân chúng đang bàn tán… là cách tốt nhất để gửi đi những thông điệp tiêu cực.”

Facebooker “Lê Dũng Vova” nêu ra hàng loạt câu hỏi: “Dự án khu an táng ông Quang có diện tích như vậy thì còn lớn hơn cả diện tích nghĩa trang Mai Dịch hiện nay. Không rõ số đất nông nghiệp này được gia đình ông Quang mua khi nào hay nhà nước cấp theo tiêu chuẩn nào, qui định nào của pháp luật? Luật sử dụng tài nguyên đất đai điều khoản nào cho phép lấy đất hai lúa để chuyển đổi sang xây lăng mộ? Nếu mỗi công chức cấp cao lại chiếm vài héc ta để làm của riêng, xây lăng mộ thì còn đâu ruộng đất của quốc gia, của dân cấy trồng nữa?”

Tương tự, nhà báo Tâm Chánh, trên trang facebook cá nhân bình luận: “Con đường của những người cộng sản rồi cũng dừng lại…ở lăng mộ của họ.”

“Có thế thật, nhiều đảng viên cộng sản thời này, từ lãnh đạo cấp cao cho đến cấp tầm tầm, thấp thấp rầm rộ xây mộ, xây lăng, xây phủ, xây điện.”

“Mộ của Chủ tịch nước Trần Đại Quang cũng đang gấp rút xây dựng trên một khu ruộng quê ông. Rộng đâu cỡ 3ha, bằng cỡ lăng Minh Mạng, cũng hào, cũng kè, cũng uy nghi bề thế. Nghe đâu ông Đỗ Mười, ông Lê Khả Phiêu cũng về với đất trên những mảnh ruộng nhiều hơn bình quân ruộng đất đầu người quê họ.”

“Đất đai nhỏ hẹp, ruộng đồng manh mún, để làm được khu mộ như vậy, phải hợp thửa. Ruộng đất vẫn là của sở hữu toàn dân, dân chỉ mới được quyền sử dụng có thời hạn. Trên đất ấy, lăng mộ vẫn được xây như đã là hương hoả của riêng, can gì thời hạn quyền sử dụng ngắn dài.”

Tại Việt Nam, đảng cộng sản dành hẳn nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội, làm nơi chôn cất các lãnh đạo chóp bu hay các quan chức cao cấp, các nhân vật có nhiều công trạng với chế độ. Tuy nhiên, nhiều năm qua nghĩa trang này gần như hết chỗ và phải mở rộng thêm khoảng 3,000m2. Đây có thể là một phần nguyên nhân khiến các cựu lãnh đạo, như Võ Nguyên Giáp, Phan Văn Khải, và bây giờ là Trần Đại Quang, chọn nơi an táng tại quê nhà.

(Người Việt)

Cái chết của ông Trần Đại Quang có liên quan đến vũ khí huỷ diệt hàng loạt


Tạp ghi về cái chết của Bác Quang
 

Câu chuyện chính trị ở VN việc lãnh đạo cao cấp ở quốc gia này hay bị mắc chứng bệnh lạ có chung một đặc tính, như ông Nguyễn Bá Thanh - Trưởng Ban Nội chính Trung ương, rồi ông Chủ tịch nước Trần Đại Quang vừa tạ thế cũng bị mắc chứng bệnh lạ và chữa chạy bên Nhật… thì đó là chuyện nội bộ chính trị của VN và nước Mỹ cũng gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia đình và cố Chủ tịch nước Trần Đại Quang.

Nhưng đằng sau nó là câu chuyện về ngoại thương kinh tế có thể VN sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều nếu như sau này nữa lại có quan chức VN mắc chứng bệnh lạ mà lìa đời khỏi thế gian thì có lẽ Mỹ họ sẽ buộc vào cuộc điều tra không phải là mục đích chính trị nào cả mà là mục đích kinh tế và bảo vệ quyền lợi sức khỏe người tiêu dùng Mỹ, đó là điều chính đáng mà nước Mỹ hay làm với các nước khác, kể cả đại dịch bệnh khi các nước đó có bán buôn và bán hàng nông sản, thủy sản qua Mỹ.

Tôi thì giải thích thế này là có thể Mỹ sẽ yêu cầu phía VN hay cả phía Nhật trợ giúp cung cấp hồ sơ bệnh tật của cố Chủ tịch nước Trần Đại Quang cho phía Mỹ xét nghiệm điều tra nguyên nhân.

Cụ thể là do nước Mỹ trước đây và bây giờ vẫn thế là họ vẫn là thị trường mà VN xuất khẩu nhiều hàng hóa nhất vào Mỹ so với các đối tác khác mà VN có được, vì hàng năm VN đạt thặng dư thương mại cực lớn với Mỹ như năm 2017 thì VN đạt thặng dư thương mại tới gần 38,4 tỷ USD, và trong hết tháng 7/2018 thì VN đang đạt xuất siêu thặng dư thương mại với Mỹ tới con số 21,7 tỷ USD. Trong đó các mặt hàng nông nghiệp thủy sản cá tôm của VN xuất khẩu qua thị trường Mỹ là rất lớn có thể thứ nhất hay thứ nhì cùng với thị trường EU.

Điều đó có nghĩa là có thể chính quyền Mỹ kết hợp với Bộ Thương mại chỉ định cơ quan Centers for Disease Control and Prevention, hay Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) tiến hành điều tra để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng Mỹ là họ cần làm sáng tỏ con virus gây bệnh đó là gì để CDC họ phối hợp với các Bộ Y tế Mỹ, cũng như các phòng thí nghiệm y khoa nghiên cứu để chế tạo ra thuốc chữa nó. Hoặc nếu nghiêm trọng thì Mỹ có thể dừng tất cả việc nhập khẩu các mặt hàng liên quan đến sức khỏe từ VN như nông sản, thủy sản. Và tất nhiên Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) , Cơ quan Y tế Công cộng Canada họ cũng tham gia chuyện này.

Nếu căng thẳng quá có thể Mỹ sẽ ngưng cấp visa cho công dân VN như các CEO, các du học sinh, hay du khách VN du lịch và nhất là quan chức cấp cao VN qua Mỹ làm gì đó.

Vì CDC có nhiệm vụ theo dõi sức khoẻ của du khách, các công dân các nước nhập cảnh vào Mỹ mà quốc gia đó có chứng bệnh lạ không thể cứu chữa. Họ cũng có kinh nghiệm về nghiên cứu các bệnh không lây nhiễm (non-communicable diseases), các bệnh truyền nhiễm (communicable diseases),… và các vấn đề theo dõi nhập khẩu hàng hóa liên quan đến sức khỏe mà quốc gia đó có người mắc bệnh lạ… cơ quan United States Department of Health and Human Services, https://www.cdc.gov/ có trụ sở chính tại Atlanta, Georgia , Hoa Kỳ do Chính phủ liên bang của Hoa Kỳ quản lý, và lãnh đạo cơ quan này do Tiến sĩ Y khoa Robert R. Redfield làm chủ tịch. Cần nhớ là Tiến sĩ Y khoa Redfield và đồng nghiệp là Bác sỹ Robert Charles Gallo, cùng với nhà virus học và bác sĩ người Mỹ William A. Blattner (giáo sư y khoa tại Đại học Y khoa Maryland) đã khám phá ra virus HIV và tìm ra thuốc ngăn chặn căn bệnh gọi là “Hội chứng suy giảm miễn dịch” nghiên cứu về HIV / AIDS…..

Cho nên ở VN họ không thể giấu nhẹm chuyện này mãi được là họ cần phải chia sẻ cho cộng đồng về sức khỏe để Tổ chức Y tế Thế giới WHO, và các cơ quan kiểm soát bệnh dịch của Mỹ tiếp cận để nghiên cứu chứng bệnh virus hiếm lạ này để ngăn ngừa dịch bệnh, nó không có mục đích chính trị nào cả, vì các nước trên thế giới họ đều làm chuyện này, còn nếu VN vẫn kiên quyết giữ bí mật thì chuyện của VN, nhưng chắc chắn Mỹ, EU hay các nước nhập khẩu mặt hàng nông sản, thủy sản của VN họ sẽ có biện pháp của họ thì VN chỉ có chuốc thiệt hại cho mình mà còn mang tiếng vô trách nhiệm với cộng đồng .
Ambassador Daniel J. Kritenbrink

Đại sứ Hoa Kỳ

Ngày 24 tháng 9 năm 2018 viết:


Hôm nay tôi rất hân hạnh khi cùng ông Hoàng Việt Cường, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan tham gia lễ bàn giao một máy soi hoàn toàn mới từ Hoa Kỳ sang Việt Nam tại Sân bay quốc tế Nội Bài. Các tính năng tiên tiến của thiết bị này, cùng với Khoá tập huấn phân tích hình ảnh qua máy soi mà chúng tôi đã hỗ trợ tổ chức trong tháng này, sẽ cung cấp cho Việt Nam các công cụ để xác định các dấu hiệu bất thường và định vị hiệu quả hơn hàng hoá nhập lậu. Điều này rất quan trọng trong việc giải quyết việc phổ biến các vật liệu có liên quan đến vũ khí huỷ diệt hàng loạt, điều không chỉ là mối đe dọa an ninh quốc gia đối với riêng Việt Nam mà còn cho toàn bộ cộng đồng quốc tế. Lễ bàn giao này cũng là ví dụ cụ thể nữa về những lợi ích mà Quan hệ Đối tác Toàn diện Hoa Kỳ-Việt Nam mang lại.

(Tin tức Hàng ngày)

Nguyên nhân cái chết của Chủ tịch Trần Đại Quang trong Thư tuyệt mệnh đẫm nước mắt gửi Tổng Bí thư



Vợ ông Trần Đại Quang công bố Thư tuyệt mệnh đẫm nước mắt của Chủ tịch Nước gửi Tổng Bí thư. Nguyên nhân cái chết của Chủ tịch Nước Trần Đại Quang vì là do..., chứ không liên quan đến virut độc lạ như báo chí đưa tin,

Nguyên nhân cái chết của Chủ tịch Trần Đại Quang trong Thư tuyệt mệnh đẫm nước mắt gửi Tổng Bí thư



Đăng ký để xem nhiều tin mới nhất tại: goo.gl/kjKkZU

(Tin tức Hàng ngày TV)

Mật ước Thành Đô trên đường trở thành hiện thực


Dù chưa qua hết trọn tháng, chỉ mới hơn hai mươi ngày, nhưng các diễn biến mới nhất, đã và đang xảy ra trên chính trường Việt Nam trong tháng 9/2018, vừa khá dồn dập lại vừa có tính chất thúc bách, nên vô hình chung cho thấy thêm khá rõ các bằng chứng khẳng định về việc cộng sản Việt Nam chấp nhận bán nước cho Tàu cộng, đang được Hà Nội thực hiện từng bước theo lộ trình đã cam kết và được vạch ra bởi Mật ước Thành Đô 1990, với nhiều dấu hiệu đậm đặc tính hiện thực, nhằm đáp ứng đúng với kỳ hạn năm 2020 đang gần kề.

Mật ước Thành Đô trên đường trở thành hiện thực
1. Trần Đại Quang đột tử

Sáng ngày 21/9/2018 báo chí lề đảng thông báo chủ tịch nước CHXHCNVN Trần Đại Quang qua đời đột ngột do bị nhiễm một loại virus vô cùng độc hại và hiếm gặp, thế giới chưa có thuốc chữa trị. Theo như phân bua của Nguyễn Quốc Triệu, Trưởng ban Bảo vệ sức khỏe (cán bộ đảng) trung ương, dù Quang đã qua Nhật Bản lần đầu trong cuối tháng 7/2017 và thêm 5 lần tiếp theo sau đó để củng cố sức khỏe và ngăn chận sự phát triển mau lẹ của bệnh lý, hay như Phạm Gia Khải, Cố vấn ban bảo vệ sức khỏe trung ương, thì chủ tịch nước bị mắc bệnh máu ác tính, đã được đưa ra ngoại quốc chửa trị nhiều lần kể cả biện pháp ghép tủy sống, nhưng đều không thành công.

Dưới thời cai trị của Trần Đại Quang, bằng vốn liếng của nghề công an, an ninh, đương sự đã góp phần quan trọng trong sự phát huy vai trò "thanh gươm lá chắn" nhằm duy trì và củng cố chế độ công an trị của đảng CSVN ngày càng lún sâu vào sắc máu và tàn độc, can dự vào không biết bao nhiêu tội ác, chà đạp nhân quyền, bóp nghẹt dân chủ, khống chế ngôn luận và sẵn sàng đàn áp mọi người dân phản đối ôn hòa bằng tất cả những biện pháp lưu manh, kết hợp với côn đồ và bạo lực, với đủ thứ phương tiện hung hiểm, hùng hậu nhất.

Cụ thể có thể kể hai di sản lớn về việc giết người "đại trà" và bịt miệng toàn dân. Trần Đại Quang chính là tác giả của Luật an ninh mạng, có mưu toan bịt miệng người dân triệt để, đã được đảng cộng sản Việt Nam cho xuất xưởng trong tháng 6/2018. Khi còn là Phó Tổng cục trưởng an ninh của Bộ Công an trong giai đoạn 2000 đến 2004 và tiếp diễn liên tục qua đến tận các năm 2010, 2011, Trần Đại Quang cũng chính là hung thần đầu sỏ (với sự cộng tác của hai tay chân đắc lực là Đại tá công an Huỳnh Huế và Đại tá công an Nguyễn Hùng Lĩnh, thay phiên làm cục trưởng cục an ninh Tây Nguyên A.43, sau đổi thành A.90) đã trực tiếp chỉ huy các cuộc đàn áp đẫm máu, giết người quy mô lớn lên đến hàng trăm nạn nhân trong mỗi một vụ, nhằm bình định cho được phong trào Tin Lành Degar của sáu sắc dân bản địa trên cao nguyên miền trung gồm Jarai, Rhade, Bahnar, Koho, Mnong và Stieng, kéo dài trong hơn mười năm từ 2000 đến 2011.

Tuy vậy, trong cuộc đua tranh thần phục thiên triều Bắc Kinh diễn ra khốc liệt, dai dẳng từ sau đại hội đảng CSVN lần thứ 12 vào tháng 1/2016. Tuy nhiên, với thông điệp từ Bắc Kinh: "Đội ngũ lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam dù có ai thay đổi, cũng không được gây ra các tác động tiêu cực đến quyền lợi tổng thể của hai bên, hay lay chuyển quyết tâm phải làm sâu sắc hơn mối quan hệ truyền thống khó khăn lắm mới đạt được với Trung Hoa. Cần phải hiểu rõ rằng bất kỳ ai thổi bùng lên tinh thần dân tộc trong mối quan hệ Việt Hoa cũng sẽ chỉ tự làm hại mình... (Tân Hoa Xã - Xinhua News Agency, 1/2016), nên trước hai ứng viên "thái thú Giao Chỉ quận" Nguyễn Phú Trọng đã lọt vào mắt xanh của Tập Cận Bình và Trần Đại Quang nghiễm nhiên trở thành một kẻ phiền toái cần phải bị trừ bỏ, dọn đường cho Nguyễn Phú Trọng (hay cho kẻ đã được Bắc Kinh chỉ định kế thừa Nguyễn Phú Trọng) bước vào giai đoạn nhất thể hóa nắm giữ luôn cả hai chức danh tổng bí thư đảng, kiêm chủ tịch nước, để đáp ứng trọn vẹn cho vai trò chủ xị thực hiện âm mưu Hán hóa Việt Nam.

Từ tháng 7/2017, Trần Đại Quang đã bị ngấm ngầm loại ra khỏi bộ sậu tứ trụ, bởi sự vắng mặt đầy nghi vấn trong những sự kiện ở tầm vóc quốc gia và với các nguồn tin bán công khai cho hay Quang phải đi Nhật để trị bệnh, tức chỉ vỏn vẹn hai tháng sau cuộc công du đầu tiên trên cương vị chủ tịch nước CHXHCNVN đến Bắc Kinh, từ ngày 11 tới ngày 15/5/2017. "...Điều này đã làm dấy lên suy đoán rằng Quang đã bị triệt hạ bởi Trọng và một số nhà bình luận còn cho rằng ông ta đã bị đầu độc trong chuyến công du sang Bắc Kinh trước đó không lâu..." (David Hutt, Quang dies and a Vacuum Opens in Việt Nam, Asia Times, 21/9/18). Do đó, khó có thể coi Trần Đại Quang đột tử, mà đúng hơn đây chỉ là một cái chết đúng quy trình, được sắp đặt cho những kẻ không còn cần thiết, hay tệ hại hơn đã trở thành kẻ phá bĩnh trong trò chơi quyền lực và mưu toan "bình thiên hạ" của Tàu cộng, chẳng khác gì mấy những nạn nhân trước đó do bọn đồng hội, đồng thuyền, từng một thời là đồng chí tạo dựng ra, như các trường hợp đã khá lâu từ Dương Bạch Mai, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, đến Nguyễn Đình Tứ, hay mới trong thời gian gần đây như Nguyễn Bá Thanh và Phạm Quý Ngọ.

2. Mở thêm một hành lang thông thương tại biên giới Việt-Tàu

Ngày 10/9/2018 nhà cầm quyền Việt cộng tại tỉnh Lạng Sơn và nhà cầm quyền Tàu cộng ở khu tự trị Choang - Quảng Tây, đã chính thức mở thêm một cửa thông thương đường bộ qua biên giới ở Chi Ma, thuộc huyện Lộc Bình, Lạng Sơn trên phần đất Việt Nam và tại Ái Diêm, thuộc huyện Ninh Minh, Quảng Tây trên đất Tàu cộng. Tính đến hiện tại tổng cộng trên tuyến biên giới Việt-Tàu dài khoảng 1.280km, với 7 tỉnh thuộc Việt Nam là vùng giáp biên đang có đến 22 cửa ngỏ thông thương đường bộ chính thức giữa hai bên. Trong đó chỉ tính riêng tỉnh Lạng Sơn cũng đã có 12 cửa.

Lập luận được các quan chức CSVN đưa ra để mở thêm cửa thông thương với Tàu cộng là nhằm quản lý và kiểm soát được việc xuất, nhập cảng hàng hóa giữa hai nước một cách chính quy và chặt chẽ, tức tăng phần giao thương chính ngạch và hạn chế phần giao thương tiểu ngạch (do dễ bị lợi dụng để buôn lậu, hay trốn thuế), từng bước thúc đẩy hiệu quả kiểm phẩm, bảo đảm an toàn thương mại, vệ sinh hàng hóa và chống thất thu thuế xuất, nhập cảng.

Thực tế trong vùng biên giới Việt-Tàu đang tồn tại hàng trăm cửa ngách trái phép, là cửa ngỏ vượt biên của hàng trăm con đường xuyên sơn, đường mòn luồn rừng của người thiểu số sống trong vùng biên giới và của dân cửu vạn, dân buôn lậu, vận chuyển, mua bán tấp nập hàng ngày qua đường tiểu ngạch và ngay tại hàng trăm chợ đầu mối sát bên biên giới.

Thực tế, dù Tàu cộng là thị trường xuất cảng lớn thứ hai của Việt Nam, nhưng việc giao thương qua biên giới phần lớn chỉ diễn ra dưới dạng tiểu ngạch, do thương buôn Việt Nam phải phụ thuộc vào phía Tàu cộng, mà thương buôn Tàu chỉ muốn giao dịch tiểu ngạch, do vừa dễ ép giá, vừa dễ hủy bỏ giao kèo bởi không có hợp đồng ràng buộc và còn tiết giảm được 50% thuế nhập cảng và thuế trị giá gia tăng.

Do đó để hạn chế việc mua bán tiểu ngạch qua biên giới không thể là mở thêm cửa thông thương, mà là Hà Nội phải có các chính sách hợp lý về xuất, nhập cảng hầu bảo vệ quyền lợi cho giới thương buôn người Việt, phải kiểm soát chặt chẻ biên giới và ngăn chận hữu hiệu buôn lậu để loại bỏ mọi nguồn nhập siêu bất hợp pháp. Việc mở thêm cửa thông thương đường bộ chính thức, chỉ có tạo ra thêm thuận lợi khi đi lại thuần túy qua biên giới và trong tình hình có nhu cầu di dân cao của Tàu, đã có đồng thuận giữa hai đảng cộng sản trong sự thực hiện chủ trương hai quốc gia, một trạm kiểm soát (Two Countries - One Inspection), cũng như dân Tàu đã được quyền lái xe lưu thông thẳng qua Việt Nam, thì ai mới là thành phần thực sự cần đến việc mở thêm cửa thông thương này (?).

3. Gác qua tranh chấp, cùng hợp tác khai thác biển Đông

Trong chuyến qua làm việc với Phạm Bình Minh, phó thủ tướng kiêm ngoại trưởng Hà Nội ngày 16/9/2018, Vương Nghị ủy viên quốc vụ viện và là ngoại trưởng Bắc Kinh - con cáo già sâu hiễm Hoa Lục - đã lập lại quan điểm của Tàu cộng về biển Đông, núp dưới gian mưu được nói là cách tốt nhất để kiểm soát bất đồng giữa Tàu cộng và Việt Nam là cùng hợp tác để khai thác trong vùng biển tranh chấp.

Ngày 20/9 thông qua phát ngôn nhân của Bộ Ngoại giao, Hà Nội chính thức lên tiếng ủng hộ chuyện hợp tác trên biển với Tàu cộng, theo như các quy định và định chế của luật pháp quốc tế.

Đây là điều không mới lạ trong chuổi hành vi vừa ngang ngược, vừa lưu manh trong âm mưu hợp thức hóa đường lưởi bò và độc chiếm biển Đông của Tàu cộng.

Tháng 4/2018, một tuần sau vụ bức tử dự án khai thác dầu khí liên doanh giữa Hà Nội và công ty dầu Repsol của Tây Ban Nha, tại mỏ Red Emperor thuộc lô 07/03 trong tiểu vùng Nam Côn Sơn, cách Vũng Tàu 440km, cũng Vương Nghị đã ngạo ngược nói với Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang và Phạm Bình Minh rằng hai bên cần phải tuân thủ những quy tắc căn bản trong việc giải quyết tranh chấp trên biển, không được áp dụng các giải pháp đơn phương để phức tạp hóa thêm tình hình. Việc giải quyết các vấn đề trên biển là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển tốt đẹp, lâu dài mối quan hệ song phương giữa hai đảng cộng sản, do đó hai bên cần tăng cường hợp tác trên biển, gồm cả việc tiến hành thảo luận về hoạt động khai thác chung.

Ngày 26/7/2018 tại cuộc hội thảo thường niên lần thứ 8 của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế CSIS (Center for Strategic and International Studies) tổ chức tại Washington DC, Đỗ Thanh Hải, chuyên viên Viện Biển Đông của học viện ngoại giao Hà Nội đã úp mở Việt Nam không loại trừ khả năng sẽ gác lại tranh chấp để cùng khai thác trên biển Đông với các bên liên quan, trong đó có gồm luôn cả Tàu cộng.

Độc chiêu này của Tàu cộng cũng đã được Vương Nghị đưa ra làm mồi nhử "Tổng thống chủ bại" của Philippines là Rodrigo Duterte và cá đã cắn câu. Tháng 3/2018 hai lô thăm dò dầu khí SC.57 và SC.72 nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Manila đã được chọn để cùng hợp tác thăm dò và khai thác với Tàu cộng, đáng kể trong đó lô SC.72 ở bãi Cỏ Rong (Reed Bank) một nơi tranh chấp đã được tòa Trọng tài Thường trực The Hague phán quyết hoàn toàn thuộc chủ quyền Manila trong phiên xử năm 2016 và đã từng được PXP Energy Corp của Philippines thăm dò khai thác, nhưng bị Bắc Kinh phá thối và làm cho ngưng trệ từ tháng 12/2014. Bắc Kinh còn đưa ra xảo thuật sẽ chấp nhận ăn chia theo tỷ lệ 6/4, với phần ít thuộc về Tàu cộng một khi thỏa thuận hợp tác khai thác chung được thực hiện.

Đây đúng là một quỷ kế thu lượm một lúc được chiều thành quả. Chưa kể đến thắng lợi to lớn khiến Tàu cộng đã biến không thành có khi gián tiếp được công nhận thứ "chủ quyền lưỡi bò" trùm lên chủ quyền thực sự của Philippines, tạo ra được một hình ảnh "mẹ mìn thiên thần hào hiệp" làm nhiều ăn ít và giải tỏa được phần lớn những áp lực chống đối con bài Rodrigo Duterte trong vấn đề chủ quyền của người dân Philippines. Theo nghị sĩ Philippines là Antonio Trillanes người từng có nhiều năm đàm phán với Bắc Kinh đã kết luận, với trình độ công nghệ, khả năng nói và đọc tiếng Tàu của các chuyên viên Philippines, khi hợp tác khai thác chung với Tàu cộng, thì Manila thay vì là đối tác ngang hàng, chỉ có thể đóng vai trò yếu ớt của một quan sát viên, cũng như "xôi hỏng bỏng không" vì Tàu cộng sẽ có thừa gian manh khi kiểm soát hoạt động, chỉnh sửa số liệu làm dân Phi tin rằng đang nhận được 60% quyền lợi, mà trên thực tế chỉ là 10%. Việt Nam cũng đã học được bài học bị ăn chận sản lượng này khi hợp tác khai thác mỏ dầu Bạch Hổ với Lienxo, theo như cáo giác của Trịnh Xuân Thanh sau khi đã đào tị sang Đức trong năm 2016.

Thực tế trên thế giới, quan điểm và việc thực thi hợp tác khai thác chung không phải là điều mới lạ, hay mưu mô gian trá. Công ước về luật biển 1982 của Liên Hiệp Quốc đã cho phép các quốc gia ven biển mở rộng lãnh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế, nên cũng đã tạo ra những vùng chồng lấn đối với các quốc gia có bờ biển gần nhau, đối diện nhau, phải xác định lãnh hải bằng đường trung vị và gây ra các tranh chấp về chủ quyền kinh tế. Do đó việc gác tranh chấp, khai thác chung là một giải pháp khả thi và hợp lý khi hai bên hợp tác khai thác tài nguyên mà vẫn bảo đảm được chủ quyền quốc gia đã được xác lập bởi đường trung vị trên biển. Điển hình là hiệp định khai thác chung giữa Nhật Bản và Nam Hàn thỏa thuận năm 1977 đối với khu vực chồng lấn trong vùng biển Hoàng Hải và Hoa Đông.

Trong khi đó giải pháp hợp tác, khai thác chung mà Bắc Kinh đang ra sức rêu rao và mưu toan áp đặt lên hai chế độ nhu nhược là Philippines và chư hầu Việt Nam cộng sản lại hoàn toàn núp bóng một sự thật trần trụi của cuồng vọng bá quyền. Biến không thành có, bản chất việc gác tranh chấp, cùng hợp tác khai thác biển Đông theo Tàu cộng không khác gì với sự khẳng định chủ quyền của Bắc Kinh theo đường lưỡi bò (dù là thứ lịch sử phi lý và đã bị tòa trọng tài quốc tế PCA quăng vào sọt rác) lên các vùng lãnh hải, vùng thềm lục địa, hay vùng đặc quyền kinh tế hiển nhiên của các quốc gia mà Tàu cộng muốn hợp tác (?). Đây chỉ là thứ hợp tác độc quyền với Bắc Kinh và duy nhất với trùm sò CNOOC (China National Offshore Oil Corporation) diển ra trong vùng EEZ Việt Nam, dưới vỏ bọc hợp tác phát triển (Joint Development).

Trò tung hứng của liên minh ma quỷ cộng sản Bắc Kinh và cộng sản Hà Nội đang đi dần vào hồi kết. Âm mưu gác qua tranh chấp để cùng khai thác và phát triển, chỉ là cách mượn màu son phấn huê dạng để mê hoặc người dân Việt Nam, nhằm tiến tới việc công nhận chủ quyền Tàu cộng, thông qua sự hợp thức hóa đường lưỡi bò liếm trọn vùng Biển Đông, vốn ngàn đời và vĩnh viễn thuộc về Tổ quốc Việt Nam. Cộng sản Việt Nam bán nước. Muốn giữ nước toàn dân Việt Nam cần phải gấp rút đứng lên hành động để cứu lấy quê hương.

25/09/2018

Hoàng Tất Thắng

(Dân Làm Báo)

Những nghi vấn về cái chết của Trần Đại Quang qua thái độ của lãnh đạo Đảng CSVN


Chủ tịch nước CHXHCNVN chết. Nhiều nguyên thủ quốc gia gửi thư chia buồn. Từ Tổng thống của cựu thù đế quốc Mỹ cho đến ông Thủ tướng đồng minh một thời là Hun Sen cũng chia buồn cho ông chủ tịch đã từng "cắt tóc 5 lần cho tôi"! Chỉ có các đồng chí kề vai sát cánh với Trần Đại Quang trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại là im bặt. Nín thinh.

Những nghi vấn về cái chết của Trần Đại Quang qua thái độ của lãnh đạo Đảng CSVN
Không "rất buồn" như Tổng thống Donald Trump, không "bàng hoàng" như Thủ tướng Nhật Shinzo Abe... toàn bộ lãnh đạo đảng CSVN, từ ba cột trụ đồng Mã Viện còn sống Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Thị Kim Ngân đến các uỷ viên BCT, ủy viên TƯĐ đều không cất lên một lời, phát ra một chữ về sự qua đời của người đồng chí Trần Đại Quang. Những tên "nguyên" đã rời khỏi chính trường nhưng vẫn thích làm thái thượng hoàng hoặc xin làm người tử tế cũng trùm chăn câm lặng.

Tình đồng chí hay nghĩa đồng chó?

Và tại sao?

Tại sao một ủy viên Bộ Chính trị chết mà toàn bộ Bộ Chính trị không một lời thương tiếc?

Tại sao một ủy viên Trung ương đảng từ trần mà toàn bộ Trung Ương đảng không một ai bày tỏ tâm tư?

Tại sao một Chủ tịch Nước lìa đời mà người đứng đầu Hành pháp, Lập pháp lẫn Tư pháp không một ai hé miệng một câu nuối tiếc, thành kính một lời chia tay, hay ít ra là để PR tiếp thị quần chúng - tự đánh bóng hình ảnh của một chính trị gia giàu cảm xúc, đầy nghĩa ân tình? Ngay cả những tướng tá công an ngày nào từng được Bộ trưởng Quang thăng chức, nâng quyền, khai quang con đường hoạn lộ. Cũng im?

Những câu hỏi này không bao giờ có trong một đất nước tự do và văn minh. Cứ tưởng tượng thay thế Chủ tịch nước CHXHCNVN bằng Tổng thống Hoa Kỳ, Thủ tướng Nhật hay bất kỳ một nguyên thủ của một quốc gia không cộng sản thì sẽ thấy rõ mọi điều vô lý, đặc tính bất thường đến độ kỳ quặt của sự im lặng đáng sợ và đáng ghê tởm đang xảy ra trên đất nước Việt Nam.

Những câu hỏi này cũng không đến ngay trên đất nước bị đeo bảng hiệu CHXHCN nếu Trần Đại Quang chết... vô tư như một con chó bị xe đụng ngoài đường, chết vì số trời đã định mà ai ai cũng phải đối diện trong tử sinh kiếp người.

Ở cái chết của Nguyễn Bá Thanh người còn thấy được hình ảnh của vài lãnh đạo, đứng cúi đầu với dáng vẻ buồn rầu để chụp hình trong bệnh viện nhưng không thấy bóng dáng Nguyễn Bá Thanh ở đâu. Ít ra khi Nguyễn Bá Thanh "tau có chi mô", người ta còn ráng bỏ chút công, tí xíu nỗ lực thực hiện cuốn phim dài nhiều tập đóng từ Mỹ diễn đến Việt Nam để mị dân về tình đồng chí.

Nhưng đối với "tên" Chủ tịch Nước thì không!

Nó cho thấy rõ ràng toàn bộ các ủy viên BCT và TƯĐ - cũng là những kẻ đang nắm giữ guồng máy quốc gia - biết rõ vì sao Trần Đại Quang chết và chết bởi tay ai, bởi thế lực "lạ" nào đứng sau tên tổng sát thủ và đứng cạnh con virus "lạ".

Và họ sợ.

Từ cuốn phim Nguyễn Bá Thanh - "không không thấy", bước sang cuốn phim Trần Đại Quang - "không không nói", tất cả diễn viên Ba Đình đều chọn vai diễn viên câm. Thủ tướng kệ cha chủ tịch nước chết, chủ tịch quốc hội mặc mẹ chủ tịch nước chết, toàn bộ từ trên xuống dưới đều chọn con đường kệ-cha-mặc-mẹ-đồng-chí. Cho nó lành con đường chính trị hoạn lợn, cho nó ổn cuộc sống lắm tiền nhiều của đã, đang ăn cắp và ăn cướp được.

Và tên sát thủ. Hắn không cần nói một câu, bày tỏ một lời. Hắn chỉ lẳng lặng sai đàn em ra thông báo cho bàn dân thiên hạ biết mình sẽ là trưởng ban lễ tang của kẻ đã bị hắn phát sinh tử lệnh và nhờ thiên triều phương bắc dán sinh tử phù. Hình ảnh kết thúc được trình chiếu không khác gì một cuốn phim bộ Hồng Kông - một đại ca với veston đen, mắt kính đen lạnh lùng. Theo sau là một đám đàn em cũng đen từ trên xuống dưới. Lạnh lùng đầy kịch tính theo phong thái tài tử đóng phim anh chị. Yên lặng, cúi đầu rất hoành tráng, rất mafia kiểu Tàu Thượng Hải trước quan tài của một tên trùm du đãng thù địch mới bị đại ca thanh toán.

Còn lại là một đoàn diễn viên trong vai thương vay, khóc mướn làm nên màn nghĩa tử nghĩa tận để hoàn tất cuốn phim cho 90 triệu khán giả xem: Tình Đồng chí và Nghĩa Đồng chó.

25.09.2018

Vũ Đông Hà

(Dân Làm Báo)
 

Website và blog tiêu biểu

Top ↑ Copyright © 2008. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Back To Top ↑